Theo phân tích của Mundell và Fleming, so với mơ hình IS-LM trong nền kinh tế đóng, mơ hình MF (hình 2.4) đã có một điểm mới đóng vai trị quan trọng, là đường cán cân thanh toán (Balance of payments – BP) trong nền kinh tế mở, từ đó có tên gọi khác là mơ hình IS-LM-BP. Trong mơ hình MF, trong các cơ chế tỷ giá khác nhau, hiệu quả của CSTK và CSTT được phân tích dựa trên mối quan hệ ngắn hạn giữa tỷ giá danh nghĩa, lãi suất và sản lượng. Cân bằng cán cân thanh tốn (BP) có được khi dịng vốn trên các giao dịch chỉ đủ để tài trợ cho thâm hụt hoặc hấp thụ thặng dư tài khoản vãng lai. Đường BP dốc lên thể hiện mối quan hệ đồng biến giữa lãi suất và thu nhập. Vì thu nhập (sản lượng, y) tăng ở bất kỳ mức tỷ giá hối đoái nào và với độ mở nền kinh tế ngày càng cao, tài khoản vãng lai sẽ giảm khi nhu cầu nhập khẩu tăng. Để duy trì trạng thái cân bằng, tài khoản vốn phải tăng, điều này chỉ có thể đạt được bằng cách tăng lãi suất trong nước và sẽ làm đồng nội tệ tăng giá. Theo đó, thu nhập cao hơn phải kết hợp với lãi suất cao hơn để có được trạng thái cân bằng của cán cân thanh toán (Copeland, 2005). Trong thực tế, cán cân thanh tốn khơng phải lúc nào cũng ln cân bằng (BP = 0). Cán cân thanh toán thâm hụt (BP < 0) khi điểm cân bằng nằm bên phải đường
BP. Ngược lại, nếu điểm cân bằng này nằm bên trái đường BP, cán cân thanh toán sẽ thặng dư (BP > 0). NHTW có thể thơng qua CSTT và CSTK làm dịch chuyển các đường trong mơ hình IS-LM-BP, hình thành các điểm cân bằng mới. Muldell và Fleming còn đề cập đến vấn đề chu chuyển vốn trong nền kinh tế mở. Theo đó, trong chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt, tác động của cú sốc CSTT nhất định đối với sản lượng thực tế càng mạnh thì mức độ chu chuyển vốn quốc tế càng cao. Ngược lại, tác động của cú sốc chi tiêu chính phủ (CSTK) đối với sản lượng thực, giảm theo mức độ chu chuyển vốn quốc tế (Pierdzioch, Dưpke và Buch, 2002). Ngồi ra, trong chế độ tỷ giá hối đoái cố định và khả năng chu chuyển vốn quốc tế, bộ ba bất khả thi sẽ chỉ cịn là bộ đơi và có thể được giải quyết dễ dàng hơn. Mở rộng tiền tệ và tài khóa đều tăng sản lượng nhưng có tác động ngược lại với lãi suất. Do đó, ví dụ, một quốc gia đồng thời trải qua thất nghiệp và thâm hụt bên ngồi có thể kết hợp mở rộng tài khóa với thu hẹp tiền tệ, nâng tổng cầu trong khi thu hút một dòng vốn đủ lớn để thu hẹp khoảng cách thanh tốn nước ngồi. Nếu khơng có sự mở cửa và khả năng chu chuyển vốn, cách tiếp cận này sẽ không thể thành công. Mundell tiếp tục lập luận rằng, khi vốn được chu chuyển dễ dàng và tỷ giá hối đối được cố định, để có một tổ hợp chính sách ổn định đòi hỏi phải sử dụng CSTK để giải quyết cho cân bằng nội bộ (đường IS-LM) và chính sách tiền tệ cho cân bằng bên ngoài (đường BP), theo Obstfeld (2001).
(Nguồn: Copeland, 2005)