Sâu bệnh là yếu tố ảnh hưởng đến năng suất làm cho cây lúa sinh trưởng không bình thường, làm rối loạn quá trình sinh lý, sinh hoá của cây. Làm mất một số bộ phận nào đó của cây hoặc làm thay đổi quá trình sinh lý bên trong. Do vậy sẽ làm giảm năng suất và phẩm chất của giống. Khả năng chống chịu sâu bệnh chi phối bởi điều kiện ngoại cảnh và cơ bản là do đặc tính di truyền của giống quyết định. Đây là một trong những yếu tố được quan tâm nhiều trong công tác chọn tạo giống. Nếu một giống có khả năng chống chịu tốt đối với sâu bệnh hại cũng như điều kiện bất thuận của tự nhiên, thì chi phí thiệt hại trong sản xuất sẽ giảm đi rất nhiều. Đối với lúa, thiệt hại do sâu
bệnh gây ra rất nghiêm trọng làm giảm năng suất từ 10-20%, thậm chí là mất trắng 100%. Qua theo dõi các chỉ tiêu về một số sâu bệnh hại chúng chúng tôi thu được kết quả ở Bảng 3.12.
Qua bảng 3.12 chúng tôi nhận xét:
* Sâu đục thân: Sâu đục thân phá hoại trên cây lúa từ lúc mạ cho đến khi lúa ngậm sữa. Ở thời kỳ mạ, sâu tuổi 1-2 có thể đục thân mạ gây hiện tượng héo nõn, từ tuổi 3 trở đi cơ thể lớn hơn cây mạ nên sâu không thể sống trong cây lúa mà phải bò ra ngoài, cắn đứt lá mạ cuốn thành ống và sống trong đó, khi di chuyển mang theo cả ống mạ. Thời kỳ lúa cấy cho đến khi làm đòng, sâu đục thân gây hiện tượng nõn héo, khi lúa trổ gây hiện tượng bông bạc. Theo tính toán của viện nghiên cứu lúa quốc tế IRRI khi có 1% bông bạc do sâu đục thân sẽ làm giảm năng suất từ 1-2%. Qua kiểm tra đánh giá mức độ gây hại của sâu đục thân trên các giống lúa triển vọng trong tập đoàn ở cả hai vụ Đông Xuân và Hè Thu chúng tôi nhận thấy hầu như tất cả các giống triển vọng và đối chứng đều không bị sâu gây hại. Ngoại trừ các giống thuộc công thức (TQ7; TQ29; TQ75) bị sâu đục thân gây hại từ 1-10% số dãnh, bông bạc, đạt (điểm 1) và giống thuộc công thức TQ22 có khoảng 11-22% số dãnh và bông bạc, đạt (điểm 3).
* Sấu cuốn lá: Thường xuất hiện và gây hại tập trung vào giai đoạn lúa bắt đầu đẻ nhánh đến kết thúc trổ. Nhìn chung sâu cuốn lá gây hại trên các giống thí nghiệm triển vọng trong tập đoàn ở mức thấp. Qua theo dõi trong cả 2 vụ Hè Thu và Đông Xuân chúng tôi nhận thấy, có 15 giống triển vọng thuộc các công thức (TQ6; TQ9; TQ12; TQ15; TQ16; TQ20; TQ25; TQ29; TQ41; TQ46; TQ51; TQ69; TQ79; TQ80; TQ93) và giống đối chứng bị sâu cuốn lá gây hại ở mức nhẹ với tỷ lệ từ 1-10%, đạt (điểm 1), 4 giống thuộc công thức (TQ22; TQ28; TQ68 và TQ75) bị hại từ 11-20%, đạt (điểm 3), các giống còn lại hầu như không bị sâu gây hại.
Bảng 3.12. Tình hình sâu bệnh gây hại trên các giống lúa có triển vọng ĐVT: điểm Công thức Sâu đục thân Sâu cuốn lá Đạo ôn
cổ bông Khô vằn Đốm nâu
HT ĐX HT ĐX HT ĐX HT ĐX HT ĐX TQ4 0 0 0 0 0 1 0 0 1 1 TQ5 0 0 0 0 1 1 0 0 0 0 TQ6 0 0 1 1 0 1 0 0 0 0 TQ7 1 0 0 0 1 1 1 1 1 1 TQ9 0 0 1 1 0 0 1 1 0 0 TQ10 0 0 0 0 0 0 1 1 0 1 TQ12 0 0 1 1 1 1 0 0 0 0 TQ15 0 0 1 1 0 0 1 1 1 1 TQ16 0 0 1 1 1 1 1 3 0 0 TQ17 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 TQ20 0 0 1 1 0 0 0 0 0 0
Công thức Sâu đục thân Sâu cuốn lá Đạo ôn
cổ bông Khô vằn Đốm nâu
HT ĐX HT ĐX HT ĐX HT ĐX HT ĐX TQ22 0 3 3 3 0 0 1 3 0 0 TQ24 0 0 0 0 0 0 0 3 1 1 TQ25 0 0 1 1 1 1 0 0 1 1 TQ26 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 TQ28 0 0 3 3 0 1 0 0 1 1 TQ29 1 1 1 1 1 1 0 0 0 0 TQ30 0 0 0 0 0 1 0 0 1 1 TQ31 0 0 0 0 1 1 1 1 1 1 TQ33 0 0 0 0 0 1 1 1 0 0 TQ34 0 0 0 0 1 1 0 0 0 0 TQ41 0 0 1 1 0 0 0 0 0 0 TQ46 0 0 1 1 1 1 0 0 0 3 TQ49 0 0 0 0 1 1 0 0 0 0
Công thức Sâu đục thân Sâu cuốn lá Đạo ôn
cổ bông Khô vằn Đốm nâu
HT ĐX HT ĐX HT ĐX HT ĐX HT ĐX TQ51 0 0 1 1 0 0 0 0 0 0 TQ54 0 0 0 0 1 1 0 3 0 0 TQ61 0 0 0 0 1 1 0 0 1 1 TQ68 0 0 3 3 3 3 0 0 0 0 TQ69 0 0 1 1 0 0 0 0 1 1 TQ75 1 1 3 3 3 3 0 0 1 1 TQ78 0 0 0 0 3 3 1 1 1 1 TQ79 0 0 1 1 1 1 3 3 1 1 TQ80 0 0 1 1 0 0 0 0 0 0 TQ82 0 0 0 0 0 0 3 3 0 0 TQ93 0 0 1 1 0 0 0 0 1 1 KD(Đ/c) 0 0 1 1 1 1 0 0 0 0
* Bệnh đạo ôn cổ bông: Là loại bệnh gây hại khá nguy hiểm, bệnh thường xuất hiện nặng vào vụ Đông Xuân và gây hại trong thời gian lúa trổ đến vào chắc. Nếu trời âm u, nhiệt độ thấp, ẩm độ cao thì bệnh dễ phát sinh và lây lan rất nhanh. Qua kiểm tra theo dõi chúng tôi nhận thấy, phần lớn các giống triển vọng trong tập đoàn bị nhiểm đạo ôn cổ bông ở mức nhẹ, các giống bị nhiễm thuộc các công thức (TQ4; TQ5; TQ6; TQ7; TQ12; TQ16; TQ25; TQ28; TQ29; TQ30; TQ31; TQ33; TQ34; TQ46; TQ49; TQ54; TQ61; TQ79 và đối chứng) vết bệnh có trên vài cuống bông và gié cấp 2, đạt (điểm 1), các giống thuộc công thức (TQ68; TQ75; TQ78) vết bệnh có trên vài gié cấp 1, đạt (điểm 3). Các giống còn lại hầu như không bị nhiễm đạo ôn cổ bông trong cả 2 vụ Hè Thu và Đông Xuân.
* Bệnh khô vằn: Là loại bệnh thường bị nhiễm ở các giai đoạn trổ bông và thu hoạch. Ruộng lúa gieo cấy mật độ dày, bón phân không cân đối thì bệnh phát triển mạnh. Kết quả thu được ở Bảng 3.12 cho thấy, đa số các giống có triển vọng trong tập đoàn đều không bị nhiễm bệnh khô vằn trong cả 2 vụ Hè Thu và Đông Xuân. Ngoại trừ các giống thuộc công thức (TQ7; TQ9; TQ10; TQ15; TQ31; TQ33; TQ78) bị nhiễm ở mức vết bệnh thấp hơn 20% chiều cao cây, đạt (điểm 1) và các giống thuộc công thức (TQ16; TQ22; TQ24; TQ54; TQ79 và TQ82) vết bệnh bị nhiễm từ 20-30% chiều cao cây, đạt (điểm 3). Giống đối chứng không bị nhiễm khô vằn.
* Bệnh đốm nâu: Chủ yếu gây hại trên lá, qua theo dõi chúng tôi nhận thấy phần lớn các giống triển vọng trong tập đoàn không bị nhiễm đốm nâu hoặc bị nhiễm nhẹ không ảnh hưởng đến cây lúa trong cả 2 vụ Hè Thu và Đông Xuân.
Qua số liệu điều tra và thu thập chúng tôi nhận thấy rằng, trong cả 2 vụ Hè Thu và Đông Xuân xuất hiện nhiều đối tượng sâu bệnh gây hại khác nhau nhưng mật độ thấp và gây hại ở mức thấp.