CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP
2.1. Khái quát chung về công ty cổ phần tập đoàn đầu tư thương mại
2.1.2. Đánh giá khái quát tình hình tài chính của Tập đoàn Việt Á
2.1.2.1. Khái quát cơ cấu tài sản và nguồn vốn của Tập đoàn Bảng 1: Tình hình cơ cấu tài sản và nguồn vốn của Tập đoàn
Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Giá trị (đồng) % giá trị Giá trị (đồng) % giá trị Giá trị (đồng) % giá trị I. Tổng
tài sản
294.397.844.49 9
100% 370.043.602.33 4
100% 545.664.546.24 6
100%
1. Tài sản ngắn hạn
211.203.026.75 1
71.74% 266.498.103.24 7
72.02% 425.343.763.54 5
74.61%
2. Tài sản dài hạn
83.194.817.748 28.26% 103.545.499.08 7
27.98 120.320.782.70 1
25.39%
II. Tổng nguồn vốn
294.397.844.49 9
100% 370.043.602.33 4
100% 545.664.546.24 6
100%
1. Nợ phải trả
169.905.538.75 2
57.71% 188.069.218.50 9
58.55% 347.886.435.83 1
62.71%
2. Vốn chủ sở hữu
124.492.305.74 7
42.29% 153.385.143.22 3
41.45% 174.778.110.41 5
37.29%
(Nguồn: phòng tài chính Tập đoàn. Đơn vị %)
Biểu đồ 4: Biểu diễn cơ cấu tài sản năm 2007
(nguồn: số liệu từ bảng 1)
Biểu đồ 5: Biểu diễn cơ cấu nguồn vốn năm 2007
(nguồn: số liệu từ bảng 1)
Biểu diễn cơ cấu tài sản năm 2007
75%
25%
tài sản ngắn hạn tài sản dài hạn
Biểu diễn cơ cấu nguồn vốn năm 2007
63%
37%
nợ phải trả vốn chủ sở hữu
Qua bảng số liệu trên ta nhận thấy cơ cấu nguồn vốn của Tập đoàn được bố trí vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng ít hơn và tỷ trọng giảm dần qua các năm. Vì vậy nợ phải trả tăng lên trong tổng nguồn vốn trong đó chiếm tỷ trọng lớn vẫn là nguồn vay nợ ngân hàng chiếm tới 87.2% năm 2007 và vốn chiếm dụng 1.28% năm 2007. Tập đoàn dung một phần vốn chủ sở hữu để đầu tư vào tài sản lưu động. Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng tài sản và tăng đều qua các năm, tài sản cố định và đầu tư dài hạn cũng tăng nhưng không lớn lắm. Dựa vào bảng cân đối kế toán, tất cả các chỉ tiêu như tiền mặt, các khoản phải thu, hàng tồn kho đều tăng dần qua các năm chỉ có chỉ tiêu tài sản ngắn hạn khác tăng năm 2006 nhưng sau đó được giảm xuống vào năm 2007. Trong khi đó Tập đoàn lại tăng cường các khoản nợ ngắn hạn và đáng chú ý là Tập đoàn tăng vay và nợ ngắn hạn từ 140.07 tỷ năm 2005 lên 188.07 tỷ năm 2006 và năm 2007 tăng lên 347.39 tỷ và đáng chú ý là các khoản phải trả công nhân viên tăng từ 1.582 tỷ năm 2005 lên 1.56 tỷ năm 2006 và rất lớn vào năm 2007 là 15.6 tỷ. Trong khi đó phần nợ dài hạn giảm nhẹ và vốn chủ sở hữu tăng lên từ nhiều nguồn mà đáng kể là phần lợi nhuận chưa phân phối. Tập đoàn đã sử dụng các khoản vay và nợ ngắn hạn để tài trợ cho tài sản lưu động của mình và dùng vốn chủ sở hữu để tài trợ cho tài sản cố định, thực hiện các dự án về cung cấp thiết bị điện, lắp đặt các gói thầu … Và năm 2007 Tập đoàn có sự tăng nhảy vọt về nhân sự do mở rộng quy mô hoạt động nên kết quả hoạt động kinh doanh năm 2007 tăng lên đáng kể.
2.1.2.2. Khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Xét ba chỉ tiêu chính đó là khả năng thanh toán công nợ ngắn hạn và khả năng thanh toán nhanh, và khả năng thanh toán bằng tiền mặt.
Bảng 2: Tình hình khả năng thanh toán toàn Tập đoàn
Chỉ tiêu Năm
2005
Năm 2006
Năm
2007 2006/2005 2007/2006 Khả năng thanh toán
ngắn hạn (lần) 1.51 1.42 1.36 94.04% 95.77%
Khả năng thanh toán nhanh
(lần) 0.924 0.838 0.838 90.69% 100%
Khả năng thanh toán
bằng tiền mặt (lần) 0.086 0.093 0.053 108.1% 57%
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh Tập đoàn) Khả năng thanh toán ngắn hạn là thước đo khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp. Tỷ số này ở doanh nghiệp tốt nhưng có xu hướng giảm dần qua các năm và sự biến động không lớn. Năm 2007, Doanh nghiệp phải sử dụng tới 81.67% giá trị tài sản lưu động để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Do các khoản phải thu, hàng tồn kho tăng nhưng tốc độ tăng của các khoản nợ ngắn hạn nhanh hơn rất nhiều. Phải chăng doanh nghiệp bán chịu nhiều và chưa thu hồi được nợ đồng thời khi mua hàng hóa doanh nghiệp phải ứng trước khoản khá lớn. Khả năng thanh toán nhanh của Tập đoàn bị giảm, Tập đoàn phải đối mặt với việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn đến hạn trả.
Các khoản nợ ngắn hạn tăng nhanh do doanh nghiệp mở rộng hoạt động kinh doanh, vay ngân hàng để thực hiện các dự án thu lợi nhuận. Trong tương lai doanh nghiệp cần chú ý tới vấn đề thu hồi các khoản phải thu, đảm bảo được các khoản nợ ngắn hạn đến hạn trả. Khả năng thanh toán tiền mặt của doanh nghiệp rất thấp và giảm sút, năm 2007 có sự biến động lớn, giảm chỉ còn 57%
so với năm 2006.
2.2. Thực trạng lợi nhuận của công ty CPTĐĐTTMCN Việt Á