Thực trạng tín dụng của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam

Một phần của tài liệu thông tin bất cân xứng ảnh hưởng của thông tin bất cân xứng đối với hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại việt nam (Trang 27 - 39)

IV. Ảnh hưởng của thông tin bất cân xứng đối với hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam

1. Thực trạng tín dụng của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam

1.1Lịch sử phát triển của hệ thống ngân hàng và tín dụng ở Việt Nam

Nhìn lại lịch sử phát triển của hệ thống ngân hàng cũng như cơ chế điều chỉnh lãi suất ở Việt Nam, chúng ta có thể nhận thấy các giai đoạn cơ bản sau:

-Giai đoạn trước năm 1988: Trong giai đoạn này, hệ thống Ngân hàng Nhà nước về cơ bản vẫn hoạt động như là một công cụ ngân sách, chưa thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ theo nguyên tắc thị trường. Lãi suất ở thời kỳ thực thi cơ chế quản lý nền kinh tế theo phương thức quản lý kế hoạch hóa tập trung. Lãi suất danh nghĩa luôn thấp hơn tỷ lệ lạm phát. Hệ quả là lãi suất không thực hiện được chức năng vốn có của nó, lãi suất không còn là đòn bẩy kích thích nhu cầu tiền gửi của công chúng, phát huy tính hiệu quả trong quá trình sử dụng vốn và đảm bảo lợi nhuận cho ngân hàng.

-Giai đoạn từ năm 1988 đến năm 1992: cơ chế thực thi lãi suất cố định được thực hiện. Đặc biệt tháng 5 năm 1990, Hội đồng Nhà nước thông qua và công bố 2 Pháp lệnh về ngân hàng ( Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính). Sự ra đời của 2 Pháp lệnh Ngân hàng đã chính thức chuyển cơ chế hoạt động của hệ thống Ngân hàng Việt Nam từ một cấp sang hai cấp, trong đó Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh tiền tệ, ngân hàng và thực thi nhiệm vụ của một Ngân hàng trung ương; các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng kinh doanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và dịch vụ ngân hàng trong khuôn khổ pháp luật.

-Giai đoạn từ tháng 6 năm 1992 đến năm 1996, cơ chế điều hành khung lãi suất được thực hiện. NHNN điều hành cơ chế lãi suất theo khung, quy định rõ sàn lãi suất tiền gửi và trần lãi suất cho vay đối với nền kinh tế. Các NHTM, TCTD căn cứ khung lãi suất của ngân hàng thương mại để đưa ra các lãi suất thích hợp cho mình.

-Giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2000: trần lãi suất được điều hành linh hoạt trong thời kỳ từ năm 1996 đến tháng 7-2000. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng đã bước đầu thực hiện tự do hóa lãi suất huy động. Thay thế cho khung lãi suất tối thiểu về tiền gửi và tối đa về tiền vay, NHNN chỉ quy định các mức lãi suất "trần" theo thời hạn cho vay và khống chế chênh lệch giữa lãi suất cho vay với lãi suất huy động vốn bình quân ở mức 0,35%/tháng (tương đương 4,2%/năm). Quy định này nhằm khắc phục tình trạng hầu hết các ngân hàng thương mại đều có mức lợi nhuận cao trong khi doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn do biến động kinh tế khu vực và thế giới. Tới cuối tháng 1- 1998, quy định chênh lệch lãi suất được xóa bỏ, chỉ giữ lại quy định trần lãi suất cho vay. Trong một thời gian dài, từ cuối những năm 80 cho tới năm 2000, cơ chế lãi suất của Việt Nam luôn cố gắng duy trì mức lãi suất thực dương – như một giải pháp cho vấn đề lạm phát. Mục tiêu kiểm soát lạm phát đã đạt được.

-Giai đoạn từ tháng 8 năm 2000 đến tháng 5 năm 2002: Cơ chế điều hành lãi suất với một mức cơ bản kèm biên độ dao động được NHNN áp dụng thay cho cơ chế lãi suất trần. Hai chỉ tiêu này được công bố chính thức định kỳ hàng tháng và điều chỉnh kịp thời trong trường hợp cần thiết. Đối với lãi suất cho vay bằng ngoại tệ, về cơ bản, các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng được ấn định lãi suất cho vay trên cơ sở lãi suất thị trường quốc tế và cung – cầu vốn trong nước của từng loại ngoại tệ. Đây là nền tảng cho việc xác định điểm cân bằng tỷ giá theo cách tính sức mua tương đương (PPP), từ đó, hình thành một cơ chế tự điều chỉnh.

-Giai đoạn từ tháng 5 năm 2002 đến nay: tháng 5-2001, NHNN từng bước chuyển sang áp dụng hình thức cho vay bằng ngoại tệ. Và kể từ sau tháng 5-2002, cơ chế lãi suất thỏa thuận được áp dụng trong hoạt động tín dụng. NHNN điều chỉnh cơ chế điều hành lãi suất: lãi suất tái cấp vốn-lãi suất trần, lãi suất tái chiết khấu-lãi suất trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, lãi suất thị trường mở -công cụ điều hành thường xuyên của NHNN. Song song với sự hoàn thiện của hệ thống ngân hàng và cơ chế điều hành lãi suất, hoạt động tín dụng đã đạt được nhiều bước đột phá và khẳng định được tầm quan trọng của mình trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại nói riêng và trong hoạt động kinh tế của đất nước nói chung.

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế là tối đa hóa lợi nhuận. Một tổ chức kinh doanh tiền tệ cũng không nằm ngoài mục đích đó. Ngân hàng thu được lợi nhuận thông qua các hoạt động dịch vụ cung cấp cho khách hàng như thanh toán, tư vấn và quan trọng nhất là hoạt động cho vay (hoạt động tín dụng). Sự chênh lệch giữa tiền lãi kiếm được thông qua hoạt động và tiền lãi phải trả thông qua các huy động tạo nên lợi nhuận của ngân hàng. Đây chưa phải là toàn bộ lợi nhuận của ngân hàng, tuy nhiên nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng và nó chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số lợi nhuận của ngân hàng.

Kết quả kinh doanh của Ngân hàng Eximbank năm 2010 (Đơn vị: tỷ đồng)

Tín dụng ngân hàng còn đóng vai trò rất quan trọng sự nghiệp phát triển kinh tê – xã hội. Chúng ta đều biết rằng muốn phát triển kinh tế thì trước hết là phải có vốn (vốn bằng tiền). Để có vốn bằng tiền thì phải có tổ chức có đủ thẩm quyền, có chức năng huy động và tập trung trước khi đem ra sử dụng.

Ở bất kỳ quốc gia nào thì cũng có hai tổ chức thực hiện công việc này là tổ chức tài chính (quỹ tài chính) và tổ chức tín dụng, song chủ yếu là tổ chức tín dụng. C.Mác đã có câu viết: “Một mặt ngân hàng (tài chính tín dụng) là sự tập trung tự bán tiền tệ của những người có tiền cho vay, mặt khác đó là sự tập trung những người đi vay”. Tín dụng ngân hàng đã đóng vai trò quan trọng từ buổi sơ khai đến mô hình ngân hàng hiện đại ngày nay. Với khái niệm ấy đối với riêng trong lĩnh vực tín dụng là một vấn đề vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế, xã hội. Thực tiễn cho thấy hiệu quả sử dụng vốn là đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy, mở rộng quan hệ giao lưu quốc tế, tác động tích cực đến nhịp độ phát triển và thúc đẩy sự cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường.

Từ 2/8/2000 NHNN chuyển sang điều hành theo lãi suất cơ bản, các ngân hàng chủ động linh hoạt quy định lãi suất cho vay theo quan hệ với khách hàng, lãi suất cho vay của ngân hàng đối với nền kinh tế ngoài quốc doanh giảm xuống ngang hàng với DNNN, lãi suất cho vay linh hoạt theo diễn biến cung cấp vốn, theo yêu cầu của thị trường và khách hàng, làm cho tín dụng được mở rộng, và đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu vốn của các doanh nghiệp.

Tăng trưởng GDP, cung tiền M2 và tín dụng

Thực hiện theo đúng đường lối chính sách đổi mới của Đảng về nội dung cơ bản của CNH, HĐH trong những năm còn lại của thập niên 90 là: “Đặc biệt coi trọng hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn; phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn liền với công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản”, hệ thống ngân hàng nhất là NHNN & PTNT đã tăng cường đầu tư cho nông nghiệp nông thôn. NHNN & PTNT cho vay 32300 tỷ đồng, NH Công thương 3000 tỷ đồng, NH Ngoại thương 1900 tỷ đồng… So với tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của cả nước thì khu vực nông nghiệp và nông thôn có tốc độ tăng trưởng khá hơn.

Tuy là nghiệp vụ kinh doanh chính đem lại hơn 80% doanh thu, nhưng hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam dường như có trục trặc mà nó được thể hiện qua khối lượng nợ xấu tương đối cao.

1.2 Tình hình nợ xấu ở các ngân hàng thương mại ở Việt Nam 1.2.1 Nợ xấu và các vấn đề về nợ xấu

a) Khái niệm về nợ xấu

Nợ xấu - là một khoản tiền cho vay mà chủ nợ xác định không thể thu hồi lại được và bị xóa sổ khỏi danh sách các khoản nợ phải thu của chủ nợ. Đối với các ngân hàng, nợ xấu tức là các khoản tiền cho khách hàng vay, thường là các doanh nghiệp, mà không thể thu hồi lại được do doanh nghiệp đó làm ăn thua lỗ hoặc phá sản,...

Nợ xấu được coi là chi phí khác của doanh nghiệp cho vay, chính vậy nên làm giảm thu nhập dòng. Nhìn chung, một doanh nghiệp luôn phải ước tính trước những khoản nợ xấu trong chu kỳ kinh doanh hiện tại dựa vào những số liệu nợ xấu ở kì trước. Đa số các công ty đều cho phép một tỉ lệ nợ xấu nhất định trên tổng nợ vì chắc chắn một điều là không thể thu hồi được mọi khoản nợ một cách đầy đủ nhất.

Điều 6 Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN quy định Tổ chức tín dụng thực hiện phân

loại nợ như sau:

Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:

- Các khoản nợ trong hạn mà tổ chức tín dụng đánh giá là có đủ khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn;

- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 1 theo quy định tại Khoản 2, Điều này. Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại;

- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều này.

Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: - Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại; - Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều này.

Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại;

- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều này.

- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; - Các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý.

- Các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã được cơ cấu lại;

- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều này.

Nợ xấu bao gồm nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn. b) Nguyên nhân

Nợ xấu là hệ quả của rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại. về nguyên nhân tồn tại, nợ xấu được hình thành từ hai nhóm nguyên nhân cơ bản là nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan.

Nguyên nhân khách quan xuất phát từ sự thay đổi của môi trường tự nhiên (thiên tai, dịch bệnh,…), sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới, sự tấn công của hàng nhập lậu, rủi ro do môi trường pháp lý chưa thuận lợi và sự kém hiệu quả của các cơ quan quản lý nhà nước, hệ thống thông tin quản lý còn bất cập…

Nguyên nhân chủ quan xuất phát từ sự quản lý yếu kém của ngân hàng cũng như từ phía khách hàng. Các ngân hàng thương mại quốc doanh chỉ bị ràng buộc tài chính “mềm” , dẫn đến việc các ngân hàng không quan tâm đến việc đánh giá sát sao năng lực tài chính của người vay, gây ra và tích đọng nợ xấu.

Lãi suất huy động vốn quá cao dẫn đến lãi suất cho các doanh

nghiệp vay tăng lên, các doanh nghiệp mạnh sẽ không chấp nhận mức lãi suất quá cao, họ có khả năng tìm đến những nguồn vốn khác. Nghi vấn đặt ra đối với những doanh nghiệp dám chấp thuận mức lãi suất cao. Phần lớn sự chấp thuận đó xuất phát từ sự thiếu vốn trầm trọng, năng lực tài chính hạn chế, độ tín nhiệm thấp nên không tiếp cận được những nguồn vốn khác. Và tất nhiên, nguy cơ nợ xấu ngân hàng tăng lên từ nhóm đối tượng này.

Nguyên nhân chủ quan còn là hệ quả của việc thiếu thông tin về người đi vay của các ngân hàng thương mại cũng như thiếu cơ chế giám sát quá trình thực hiện dự án sau khi vay. Đây đều là hệ quả của vấn đề thông tin bất cân xứng gây nên.

Ràng buộc tài chính “mềm”: tình trạng một doanh nghiệp không quan tâm nghiêm túc đến việc thua lỗ tài chính và luôn luôn kỳ vọng rằng chính phủ hay một bên thứ ba sẽ đứng ra cứu giúp khi phải đối mặt với phá sản. Chính sách bao cấp của chính phủ đối với doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp Nhà nước là cơ sở cho tình trạng này.

c) Hậu quả

Nợ xấu ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động kinh doanh của cả chủ nợ và doanh nghiệp. Chủ nợ mất nhiều thời gian, công sức thu hồi nợ. Trong khi đó, doanh nghiệp gần như mất khả năng trả nợ, chủ nợ có nguy cơ mất trắng.

Tuy nhiên, việc loại trừ nợ xấu gần như là điều không thể. Việc phản ánh tình trạng nợ xấu trong báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại càng đầy đủ và chi tiết càng phản ánh tình trạng tín dụng càng đảm bảo thông qua việc trích lập các khoản dự phòng chính xác và mang tính thực tế.

1.2.2 Nợ xấu ở các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tình trạng nợ xấu của các ngân hàng thương mại Việt Nam nhìn chung vẫn cao hơn nhiều nước trong khu vực.

Tỷ lệ nợ xấu của một số nước Châu Á năm 2008 (Đơn vị: %) Quốc gia Tỷ lệ nợ xấu tính trên %

tổng dư nợ Trung Quốc 2,4 Hồng Kông 0,9 Hàn Quốc 1,1 Ấn Độ 2,3 Malaysia 1,9 Indonesia 3,2 Singapore 1,4 Việt Nam 2,2

Tuy vậy, sang năm 2009, tỷ lệ nợ xấu, trong đó nợ xấu ở các nhóm nợ có rủi ro tín dụng cao (nhóm 3-5) lại có xu hướng tăng mạnh. Điều này là kết quả của sự gia tăng tín dụng quá mức của các NHTM, đặc biệt là các NHTM khối nhà nước. Theo Trung tâm Thông tin Tín dụng (CIC), tỷ trọng dư nợ nhóm 3, 4 và 5 của khối ngân hàng quốc doanh trên tổng dư nợ toàn ngành ngân hàng tính đến tháng 5/2009 lần lượt là 57,58%, 35,95% và 59,69%.

Tính đến hết tháng 10/2009, vốn chủ sở hữu của toàn hệ thống các TCTD tăng 31,09%, tổng tài sản tăng 26,49%, chênh lệch thu-chi tăng 53,09% so với cuối năm 2008; dư nợ xấu của toàn hệ thống chiếm 2,2% tổng dư nợ cho vay, cao hơn so với năm ngoái (nợ xấu năm 2008 ở mức 2,17%).

Tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng thương mại

Tại phiên giải trình về lãi suất sáng nay (25/12) do Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội tổ chức, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu cho biết tính đến cuối năm 2010 nợ xấu của hệ thống ngân hàng VN vào khoảng 2,5%.

Con số nợ xấu 2,5% này chưa tính số nợ của Tập đoàn Công nghiệp và Tàu thuỷ VN (Vinashin). Theo thống đốc, toàn bộ dư nợ của hệ thống ngân hàng đối với Tập đoàn Công

Một phần của tài liệu thông tin bất cân xứng ảnh hưởng của thông tin bất cân xứng đối với hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại việt nam (Trang 27 - 39)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(45 trang)