Các công ty bảo hiểm tương hỗ đã hình thành và phát triển phố biến khá lâuMỹ. Công ty bảo hiểm tương hỗ đầu tiên ở Mỹ được thành lập tại thành phố Philadenphia (bang Pennsylvania) năm 1784 để kinh doanh bảo hiểm cháy. Khi mới thành lập, các công ty bảo hiểm tương hỗ có nguồn gốc từ các hợp tác xã và được tổ chức trên cơ sở các cộng đồng dân cư địa phương.
Cho đến trước khi cuộc công nghiệp hoá và thành thị hoá nông thôn diễn ra mạnh mẽ trong nửa đầu thế kỷ 19, nhu cầu của công chúng đối với bảo hiểm nhân thọ ở Mỹ còn thấp. Công ty bảo hiểm nhân thọ tương hỗ đầu tiên - Công ty bảo hiểm nhân thọ tương hỗ New York bắt đầu hoạt động năm 1842 và sau đó là một số công ty khác trong đó đáng chú ý là công ty bảo hiểm New York Life được thành lập năm 1845.
Trong giai đoạn này, hình thức bảo hiểm tương hỗ tỏ ra thông dụng và cạnh tranh với hình thức công ty cổ phần trong việc cung cấp nguồn vốn dựa trên cơ sở rủi ro. Với cơ cấu tương hỗ, việc bồi thường tổn thất, thiệt hại được phân bổ rộng rãi hơn cho nhiều người so với các công ty bảo hiểm cổ phần do một số ít người làm chủ. Nhờ đó, có thể làm giảm đáng kể rủi ro phát sinh khi một công ty không thể đáp ứng nghĩa vụ bồi thường (Chẳng hạn, đám cháy khủng khiếp ở New York năm 1835 đã khiến cho một số công ty bảo hiểm cháy được tổ chức dưới hình thức công ty bảo hiểm cổ phần bị phá sản). Theo cách nói hiện nay, các công ty bảo hiểm tương hỗ của thế kỷ 18 thường hoạt động với chi phí vốn nhỏ hơn và chịu rủi ro ít hơn.
Sự phát triÓn của các loại hình bảo hiểm tương hỗ cũng đã tạo ra vị thế đáng kể của loại hình doanh nghiệp này trên thị trường bảo hiểm Mỹ. Từ giữa những năm 1920 đến năm 1960, các công ty bảo hiểm phi nhân thọ tương hỗ đã tăng thị phần của mình trong khi các công ty bảo hiểm cổ phần lại bị giảm
thị phần. Tính đến cuối những năm 1960, các công ty bảo hiểm tương hỗ chiếm khoảng 30% tổng số phí bảo hiểm của toàn thị trường. Kể từ đó trở đó, thị phần bảo hiểm Mỹ được chia theo tỷ lệ 30/70 giữa các công ty bảo hiểm tương hỗ và các công ty bảo hiểm cổ phần.
Hiện nay, ở Mỹ có khoảng 1.000 công ty bảo hiểm tương hỗ hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ, tập hợp trong một tổ chức có tên gọi “Hiệp hội các công ty bảo hiểm tương hỗ liên bang (NAMIC)”, được thành lập năm 1895. Trong số đó có khoảng 700 công ty bảo hiểm tương hỗ nông nghiệp, hoạt động chủ yếu trong phạm vi một địa hạt hành chính và chỉ được phép cung cấp các sản phẩm bảo hiểm có liên quan đến sản xuất nông nghiệp và phục vụ đời sống sinh hoạt ở nông thôn. Có khoảng 1/2 trong tổng số thành viên của NAMIC có doanh thu phí bảo hiểm hàng năm dưới 15 triệu USD.
ë Mü, c¸c c«ng ty b¶o hiÓm t¬ng hç chñ yÕu ho¹t ®éng trong lÜnh vùc b¶o hiÓm phi nh©n thä g¾n liÒn víi sù ®a d¹ng vÒ kªnh ph©n phèi s¶n phÈm. Cßn ®èi víi lÜnh vùc kinh doanh b¶o hiÓm nh©n thä chñ yÕu lµ ho¹t ®éng cña c¸c c«ng ty b¶o hiÓm cæ phÇn.
Trong những năm 1920, cùng với sự bùng nổ về kinh tế và nhu cầu tăng lên đối với các sản phẩm bảo hiểm xe cơ giới và các nông cụ cơ giới hoá, sự tồn tại của nhiều tổ chức hiệp hội đã tạo ra một môi trường lý tưởng để thành lập các công ty bảo hiểm tương hỗ. Bằng việc bán bảo hiểm trực tiếp cho thành viên của các hiệp hội này - những chủ trang trại, thành viên câu lạc bộ ô tô, các sĩ quan quân đội, các công ty bảo hiểm có thể chào một mức giá thấp hơn mức giá mà các đại lý bảo hiểm chào bán. Điều đó khiến cho các sản phẩm bảo hiểm của những công ty này trở nên hấp dẫn với thành viên các hiệp
hội, nhóm, đoàn thể. Những công ty sử dụng phương pháp phân phối bảo hiểm bằng cách bán bảo hiểm trực tiếp cho người được bảo hiểm thay vì bán bảo hiểm thông qua đại lý bảo hiểm được gọi là các công ty khác thác bảo hiểm trực tiếp. Do mục tiêu hoạt động của những công ty này là cung cấp sản phẩm bảo hiểm với giá thành hạ, phần lớn các công ty khai thác bảo hiểm trực tiếp này được tổ chức dưới hình thức công ty bảo hiểm tương hỗ.
Trong số các công ty khai thác bảo hiểm trực tiếp hàng đầu hiện nay, State Farm là một ví dụ điển hình. Công ty này là một trong số những công ty đi đầu trong việc đáp ứng nhu cầu bảo hiểm xe cơ giới của các chủ trang trại.
Trong những năm đầu thế kỷ 20, hơn 25% dân số nước Mỹ sống dựa vào nông nghiệp. Năm 1922, State Farm đã ký hợp đồng với hiệp hội nông dân của các bang để bảo hiểm cho xe cơ giới thuộc sở hữu của các hội viên với mức phí bảo hiểm thấp hơn nhờ việc phân phối trực tiếp ít tốn kém hơn so với phân phối thông qua các đại lý độc lập và do số lượng và giá trị tổn thất ở nông thôn thấp hơn so với thành thị. Xuất phát từ những lý do này, State Farm đã trở thành công ty bảo hiểm phi nhân thọ lớn nhất ở Mỹ với trên 16.800 đại lý hoạt động trên toàn nước Mỹ. Năm 1997 số phí bảo hiểm thuần mà công ty khai thác đã lên đến 34,8 tỷ đô la Mỹ.
Từ giữa những năm 1920 đến năm 1960, các công ty bảo hiểm phi nhân thọ tương hỗ đã tăng thị phần của mình trong khi các công ty bảo hiểm cổ phần lại bị giảm thị phần. Tính đến cuối những năm 1960, các công ty bảo hiểm tương hỗ chiếm khoảng 30% tổng số phí bảo hiểm của toàn thị trường.
Kể từ đó trở đó, thị phần bảo hiểm Mỹ được chia theo tỷ lệ 30/70 giữa các công ty bảo hiểm tương hỗ và các công ty bảo hiểm cổ phần.
Bảng 5: Số liệu thống kê về bảo hiểm nhân thọ Mỹ năm 1996.
(đơn vị tính: triệu đô la Mỹ) Chỉ tiêu
Số lượng
công ty
Giá trị tài sản
Vốn
Tổng phí bảo hiểm ròng đã khai thác
Thu nhập
sau thuế Các công ty bảo hiểm tương hỗ
Nhiều hơn 1 tỷ đô la Mỹ 39 920.976 47.488 135.147 3.956
Từ 100 triệu đến 1 tỷ đô la Mỹ 34 14.022 2.079 6.211 71
Dưới 100 triệu đô la Mỹ 34 828 192 257 6
Tông số 107 935.826 49759 141615 4.139
Các công ty bảo hiểm cổ phần
Nhiều hơn 1 tỷ đô la Mỹ 111 1.339.598 84.500 212017 12.202
Từ 100 triệu đến 1 tỷ đô la Mỹ 129 43.204 8.992 22.194 792
Dưới 100 triệu đô la Mỹ 645 9.357 3.357 3.911 287
Tổng số 885 1.392.159 96.849 238.122 13.281
Toàn thị trường bảo hiểm 992 2.327.985 146.608 379.737 17.420
Nguồn: OneSource.
So sánh các tỷ số tài chính cơ bản cho thấy các công ty bảo hiểm tương hỗ hoàn lại nhiều phí bảo hiểm hơn cho những người tham gia bảo hiểm dưới hình thức bảo tức, chiếm 7,8% so với 2,9% của toàn thị trường. Kết quả là, lợi nhuận kinh doanh và số tiền thu về từ việc kinh doanh những tài sản thuộc quyền quản lý của các công ty bảo hiểm tương hỗ nhỏ hơn so với công ty bảo hiểm cổ phần. Lợi nhuận trên tài sản (bằng thu nhập sau thuế/tổng tài sản) của các công ty bảo hiểm tương hỗ là 0,5% so với 1% của các công ty bảo hiểm cổ phần hay chỉ bằng 1/2. Bởi vậy, lợi nhuận của các công ty bảo hiểm tương hỗ trên vốn chỉ bằng 8,6% so với 14,6% của các công ty bảo hiểm cổ phần.
Đáng chú ý là chênh lệch về tỷ suất sinh lời giữa công ty bảo hiểm tương hỗ và công ty bảo hiểm cổ phần chủ yếu là do sự khác nhau về tỷ suất sinh lời tính trên tài sản. Lý do là vì đòn bẩy (tức là hệ số nợ trên vốn tự có) không khác nhau đáng kể giữa công ty bảo hiểm tương hỗ và công ty bảo hiểm cổ
phần (đặc biệt là đối với các công ty lớn nhất). Vốn hoá không phải là một vấn đề đối với các công ty bảo hiểm tương hỗ, bởi vì quy mô vốn của các công ty bảo hiểm tương hỗ không thấp hơn so với các công ty bảo hiểm cổ phần.
Bảng 6: Một số chỉ tiêu về bảo hiểm nhân thọ Mỹ năm 1996.
(đơn vị tính: triệu đô la Mỹ)
Chỉ tiêu
Tỷ suất sinh lời trên
vốn (%)
Vốn và tài
sản thặng
dư (%)
Tỷ suất sinh lời trên
tài sản (%)
Đòn bẩy
Lợi nhuận
kinh doanh
(%)
Phí bảo hiểm
Cổ tức (bảo tức)/
phí bảo hiểm
(%)
Tài sản trong các tài khoản riêng
(%)
Các công ty bảo hiểm tương hỗ
25 công ty lớn nhất 8,9 5,0 0,4 20,1 2,8 3,2 8,4 25,2
Nhiều hơn 1 tỷ đô
la Mỹ 8,9 5,1 0,5 19,6 2,8 3,2 8,1 24,6
Từ 100 triệu đến 1
tỷ đô la Mỹ 3,7 14,6 0,5 6,9 1,1 3,3 1,8 1,9
Dưới 100 triệu đô
la Mỹ 3,1 23,1 0,7 4,3 2,2 1,4 2,6 0,1
Tông số 8,6 5,3 0,5 19,0 2,7 3,2 7,8 24,3
Các công ty bảo hiểm cổ phần
25 công ty lớn nhất 16,5 5,3 0,9 18,8 5,6 2,9 4,4 28,1
Nhiều hơn 1 tỷ đô
la Mỹ 15,4 6,2 1,0 16,1 5,6 2,7 3,2 25,7
Từ 100 triệu đến 1
tỷ đô la Mỹ 9,5 20,2 1,9 4,9 3,6 2,7 0,3 1,6
Dưới 100 triệu đô
la Mỹ 8,9 33,8 3,0 3,0 7,3 1,2 0,2 0,5
Tông số 14,6 6,8 1,0 14,6 5,5 2,7 2,9 24,8
Nguồn: OneSource
3.2. Kinh nghiÖm cña Ph¸p
Ở Pháp, các loại hình công ty bảo hiểm tương hỗ, cổ phần đều chịu sự điều chỉnh của Luật Bảo hiểm, chịu sự giám sát của Bộ Kinh tế -Tài chính và
chịu sự kiểm tra của Uỷ ban giám sát bảo hiểm. Theo qui định tại Luật Bảo hiểm, công ty BHTH không hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận và không phải đăng ký kinh doanh. Mục tiêu hoạt động của công ty là cung cấp sản phẩm bảo hiểm cho các hội viên với mức phí thấp nhất và điều kiện tối ưu nhất.
Công ty không cung cấp sản phẩm bảo hiểm cho người ngoài (không phải là hội viên). Quy định này khác so với quy định của một số bang ở Mỹ trong đó cho phép công ty BHTH được bán sản phẩm bảo hiểm cho những cá nhân hoặc tổ chức không phải là hội viên. Ở Pháp, các công ty bảo hiểm tương hỗ được chia làm hai loại:
a) Công ty bảo hiểm tương hỗ thông thường
Một trong các điều kiện để được cấp giấy phép hoạt động là công ty phải có vốn thành lập khá lớn và phải có ít nhất 500 thành viên. Điều lệ của công ty sẽ qui định rõ đối tượng và điều kiện thành viên cũng như hình thức đóng phí bảo hiểm (đóng phí cố định hoặc đóng phí bất định). Trong trường hợp qui định đóng phí bất định, vào cuối năm tài chính, nếu kết quả hoạt động không cân bằng, công ty có thể yêu cầu các hội viên nộp thêm phí (vì thế các khoản đóng góp thêm này được gọi là phí bổ sung). Trong hợp đồng bảo hiểm cần thiết phải qui định rõ số phí tối đa mà mỗi thành viên sẽ phải nộp.
Theo qui định của Luật bảo hiểm, công ty BHTH thông thường chỉ được kinh doanh bảo hiểm nhân thọ nếu phí đóng góp là cố định. Cũng giống như các công ty bảo hiểm cổ phần, các công ty bảo hiểm tương hỗ không bị hạn chế về phạm vi hoạt động và được phép hoạt động nhờ hệ thống đại lý và các nhà môi giới.
b) Công ty bảo hiểm tương hỗ bất thường: Đây là dạng đặc biệt của công ty BHTH, gồm 2 loại:
Công ty tương hỗ bảo hiểm:
Đây là các hội tương hỗ. Để được phép hoạt động, hội tương hỗ phải có ít nhất 300 thành viên và không cần có vốn thành lập ban đầu. Các khoản phí bảo hiểm đóng góp luôn biến đổi, vì thế, các công ty loại này không được phép kinh doanh bảo hiểm nhân thọ. Điều lệ của công ty phải nêu rõ sự hạn chế về địa bàn hoạt động và nghiệp vụ bảo hiểm. Khác với công ty BHTH thông thường ở trên, công ty này không được hoạt động thông qua hệ thống môi giới và đại lý (không được trả hoa hồng cho môi giới, đại lý); hội đồng quản trị và ban giám đốc công ty không được trả lương (điều này thể hiện tính chất “hội”) và thặng dư có thể được phân chia toàn bộ theo qui định tại Điều lệ của hội tương hỗ.
Tổ chức tương hỗ nông nghiệp:
Tổ chức tương hỗ nông nghiệp chịu sự giám sát của Bộ Nông nghiệp và Bộ Kinh tế - Tài chính. Tổ chức chỉ bảo hiểm cho các rủi ro liên quan đến nông nghiệp (bảo hiểm nhân thọ và phi nông nghiệp đều bị loại trừ). Các khoản phí bảo hiểm đóng góp luôn thay đổi.
- Tổ chức có cơ cấu hình tháp, gồm có 3 cấp, mỗi cấp quỹ đều có hội đồng quản trị (HĐQT). HĐQT của cấp quỹ cao hơn được các thành viên HĐQT cấp dưới giới thiệu và được hội nghị toàn thể thành viên bầu. Bên cạnh HĐQT có bộ máy điều hành các nghiệp vụ bảo hiểm. Quỹ cấp trung ương và quỹ cấp vùng có ban giám đốc, quỹ địa phương có phòng nghiệp vụ.
Quỹ địa phương được thành lập ở xã hoặc làng, do các hộ nông dân tự nguyện tham gia. Vì thế, các thành viên của quỹ vừa là khách hàng vừa là người quản lí quỹ.
Hình thức tổ chức này đảm bảo cho việc phản ánh trung thực tâm tư, nguyện vọng của các thành viên - khách hàng, từ đó giúp các quỹ đề ra các giải pháp xử lý phù hợp và tối ưu. Hơn nữa, do bảo hiểm tương hỗ vẫn phải tôn trọng nguyên tắc “hạch toán kinh doanh”, nên để tránh sự thua lỗ, thông thường các tổ chức tương hỗ bảo hiểm đã:
- Lựa chọn đối tượng bảo hiểm tương hỗ: là các rủi ro có tính chất bất ngờ, tần suất thấp;
- Lựa chọn sản phẩm bảo hiểm tương hỗ: là các sản phẩm khi xảy ra rủi ro, giá trị thiệt hại không vượt quá khả năng chi trả của quỹ.
- Việc thực hiện tái bảo hiểm giữa các cấp quỹ tôn trọng nguyên tắc:
+ Không tái bảo hiểm cho bên ngoài tổ chức;
+ Quỹ vùng nhận tái bảo hiểm từ các quỹ địa phương thuộc vùng: Quỹ địa phương giữ lại một phần phí bảo hiểm thu được, còn lại tái cho quỹ vùng;
+ Quỹ trung ương nhận tái bảo hiểm từ các quỹ vùng: Quỹ vùng giữ lại một phần phí nhượng tái của các quỹ cơ sở còn lại sẽ tái cho quỹ trung ương.
- Kết quả tài chính trong năm được phân phối như sau:
+ Bồi thường rủi ro;
+ Đầu tư tiếp nâng cấp công tác bảo hiểm;
+ Nếu có thặng dư, tổ chức sẽ dành để giảm phí bảo hiểm cho các thành viên trong năm sau.
- Khai thác bảo hiểm
+ Do nông dân đồng thời là hội viên đồng thời là khách hàng của quỹ nên họ có quyền quyết định sản phẩm bảo hiểm, mức phí bảo hiểm và số tiền bồi thường trong trường hợp xảy ra rủi ro được bảo hiểm;
+ Phí bảo hiểm của nông dân sẽ được thu ở các quỹ địa phương nơi họ sinh sống.
Khi muốn nghiên cứu triển khai một sản phẩm mới, tổ chức tương hỗ tiến hành như sau:
- Hỏi ý kiến hội đồng quản trị từ cấp địa phương;
- Thông qua mạng lưới bán hàng, qua các cuộc gặp gỡ thường xuyên giữa người tham gia bảo hiểm và người bảo hiểm để rút ra những thông tin cần thiết về sản phẩm định triển khai;
- Quĩ trung ương hướng dẫn quỹ vùng quyết định mức phí;
- Quỹ vùng nhận sản phẩm bảo hiểm do quỹ trung ương thiết kế. Hội đồng quản trị cấp vùng họp các trưởng phòng bán hàng để xem xét có thể triển khai được sản phẩm bảo hiểm mới không, nếu được sẽ tiến hành.
Như vậy, khi nghiên cứu triển khai sản phẩm bảo hiểm mới, tổ chức đã xuất phát từ cơ sở, từ đơn đặt hàng của hội viên. Do tất cả hội viên đều là nông dân nên họ biết rất rõ những rủi ro của mình và họ có quyền đề nghị công ty đáp ứng yêu cầu đó.
- Bồi thường
Khi rủi ro được bảo hiểm xảy ra, hội đồng giám định địa phương sẽ tiến hành xem xét và lập báo cáo đánh giá, tính toán tiền bồi thường. Các báo cáo này được gửi lên quỹ vùng để xét giải quyết bồi thường và quỹ vùng sẽ thanh toán tiền bồi thường cho khách hàng.
Ở Pháp, tiêu biểu cho việc hoạt động theo mô hình “tổ chức tương hỗ nông nghiệp” là Tập đoàn bảo hiểm Groupama. Đây là tập đoàn bảo hiểm mạnh và có uy tín trong thị trường nông nghiệp của Pháp. Là tổ chức bảo
hiểm tương hỗ đầu tiên của Pháp, do những người nông dân Pháp xây dựng vào cuối thế kỷ 19 nhằm phục vụ nhu cầu của chính mình. Hiện nay, đồng thời với việc củng cố vị trí là nhà bảo hiểm nông nghiệp hàng đầu, sau khi mua lại bảo hiểm GAN tháng 7-1998, Groupama đã trở thành công ty bảo hiểm tổng hợp lớn thứ hai của thị trường Pháp và đứng đầu châu Âu về bảo hiểm nông nghiệp, mang đặc tính chung của cả loại hình công ty bảo hiểm cổ phần và công ty bảo hiểm tương hỗ, cụ thể như sau:
- Tổ chức tương hỗ nông nghiệp theo mối liên kết tái bảo hiểm: từ các thành viên của 9.000 quỹ địa phương được tái bảo hiểm cho 22 quỹ vùng và từ 22 quỹ vùng được tái bảo hiểm cho quỹ trung ương;
- Groupama SA là Công ty bảo hiểm cổ phần được góp vốn từ các quỹ vùng (44%) và quỹ trung ương (56%). Groupama SA hoạt động trên 6 lĩnh vực bao gồm: bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ; các dịch vụ tài chính, kinh doanh hàng hải và vận tải; các dịch vụ liên quan đến hoạt động bảo hiểm;
hoạt động quốc tế và tái bảo hiểm.
Cách tổ chức này có nhiều ưu điểm vì:
- Loại hình bảo hiểm thương mại làm nền tảng cơ bản để hỗ trợ, bù lấp mặt khiếm khuyết về tài chính mà loại hình bảo hiểm tương hỗ khó thực hiện được;
- Loại hình bảo hiểm tương hỗ thu thập, cung cấp những thông tin về nhu cầu khách hàng, đối tượng và sản phẩm bảo hiểm từ những khách hàng thành viên của Công ty để Công ty thực hiện kinh doanh thương mại. Các công ty bảo hiểm thương mại thông thường khó có khả năng thực hiện được điều này.