MỤC LỤC
Quyền chọn bán là quyền chọn, trong đó người sở hữu quyền chọn put có quyền bán chứng khoán cơ sở với giá thực hiện bất cứ khi nào cho đến ngày đáo hạn. Quyền chọn này cho phộp người sở hữu bỏn 100 cổ phiếu của IBM ở giá $100 một cổ phiếu từ lúc mua được quyền chọn cho đến tháng Giêng.
$100 một cổ phiếu nếu người sở hữu yêu cầu thực hiện quyền chọn trong thời hạn của quyền chọn. Với nghĩa vụ này người bán nhận được số tiền phí là $725 cho một quyền chọn.
Tóm lại, người sở hữu Put có quyền bán, và người bán Put có nghĩa vụ mua.
Điều này tạo một áp lực lên giá thị trường, làm giá thị trường biến động mạnh… Để hạn chế những tình huống nêu trên, Ủy Ban Chứng Khoán (SEC) quy định giới hạn vị thế như sau: Không một người đầu tư nào dù cá nhân hay tổ chức có vị thế vượt quá 8,000 quyền chọn của cùng một cổ phiếu cơ sở trên cùng một phía thị trường. Nếu một tổ chức đầu tư muốn tránh giới hạn vị thế, họ có thể hành động như sau: thứ Hai mua 8.000 quyền chọn call và yêu cầu thực hiện chúng vào sáng thứ Ba; chiều thứ Ba lại mua 8.000 quyền chọn call khác và yêu cầu thực hiện vào sáng thứ Tư, cứ thế ngày này qua ngày khác, họ có thể dễ dàng làm giá mà không hề trái quy định về giới hạn vị thế.
Trong bản thỏa ước này anh ta phải núi rừ rằng đó đọc tài liệu cụng bố tin quyền chọn, đồng ý tuân theo các giới hạn mua bán và các qui định khác trong giao dịch quyền chọn. Hơn nữa giá giới hạn là số tiền tối đa người nắm giữ quyền chọn có thể được hưởng trong khi giá thị trường có thể biến động có lợi và anh ta có thể thu được nhiều lợi nhuận hơn; như vậy trong trường hợp này anh ta bị rủi ro giới hạn lợi nhuận.
Công ty thanh toán quyền chọn có nhiệm vụ này; bên cạnh đó, công ty còn đưa ra nhiều tiêu chuẩn khác và thực hiện các nhiệm vụ khác như điều chỉnh quyền chọn, thay đổi vị thế người đầu tư, soạn thảo và công bố tài liệu, trung tâm thanh toán …. Việc triển khai ứng dụng quyền chọn trên thị trường chứng khoán cần có những điều kiện nhất định như: nâng cao nhận thức về quyền chọn chứng khoán đối với các chủ thể tham gia thị trường, hoàn thiện hệ thống pháp lý, điều kiện về con người, về hạ tầng thông tin, cơ sở vật chất - kỹ thuật.
Đó là tính thanh khoản trên thị trường chứng khoán ngày càng cao; hàng hóa tăng mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng; đã xuất hiện nhiều công ty cổ phần đại chúng lớn, sắp tới đây sẽ tiến hành cổ phần hóa gắn kết niêm yết trên thị trường chứng khoán các công ty hàng đầu, các tổng công ty lớn như: các ngân hàng quốc doanh (Ngân hàng Đầu tư. & Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam..), Tổng công ty Bưu chính Viễn thông (Vinaphone, Mobifone), Tập đoàn dầu khí Petrolimex; và đã có sự tham gia giao dịch rất lớn của các nhà đầu tư nước ngoài … Khi cổ phiếu của các công ty này được niêm yết trên sàn sẽ là nguồn hàng chất lượng thu hút nhiều nhà đầu tư trong cũng như ngoài nước tham gia vào thị trường, đây là nguồn cung về hàng cho TTCK phát triển. Tuy nhiên, từ kinh nghiệm ứng dụng chứng khoán phái sinh của một số nước trên thế giới, bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam, đó là bên cạnh việc nghiên cứu ứng dụng quyền chọn chứng khoán trên thị trường cần có cơ chế giám sát, quản lý chặt chẽ từ cơ quan nhà nước để thị trường phát triển một cách hiệu quả, có kiểm soát. Điều này một phần xuất phát từ nguyên nhân về khung pháp lý điều chỉnh hoạt động giao địch chứng khoán phái sinh chưa đầy đủ, quyền lợi và trách nhiệm của các chủ thể tham gia chưa được đảm bảo, do đó chưa tạo được sự quan tâm của các định chế tài chính cũng như các nhà đầu khi tham gia trên thị trường chứng khoán, trong vận dụng các biện pháp để hạn chế rủi ro và đầu tư kiếm lợi.
Sự kiện tổn thất 1,28 tỷ USD của Ngân hàng đầu tư Barings với sự cố của Nick Leeson năm 1995 và tổn thất của Societe Generale tới 7,1 tỷ USD được phát hiện tháng 1/2008 là những bài học đắt giá cho các định chế tài chính về rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động khi thực hiện kinh doanh các công cụ tài chính phái sinh.
Với các hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn chưa xuất hiện ngay các luồng tiền thanh toán thực nên khó kiểm soát, kết hợp với những yếu tố đầu cơ, gian lận của nhân viên đã che dấu việc thực hiện các trạng thái mở quá lớn là những nguyên nhân gây nên tổn thất lớn của các Tổ chức tài chính. Hai yếu tố về việc thiếu nhận thức và thiếu am hiểu về sản phẩm phái sinh còn dẫn đến một vấn đề là nhà đầu tư nhầm lẫn lợi ích của sản phẩm phái sinh đến từ đầu cơ kiếm lời chứ không phải từ chuyện phòng ngừa rủi ro trong khi đó mục tiêu sử dụng phái sinh là ở lợi ích của việc phòng ngừa rủi ro. Điều này một phần xuất phát từ nguyên nhân về khung pháp lý điều chỉnh hoạt động giao địch quyền chọn chứng khoán phái sinh chưa đầy đủ, quyền lợi và trách nhiệm của các chủ thể tham gia chưa được đảm bảo, do đó chưa tạo được sự quan tâm của các định chế tài chính cũng như các nhà đầu khi tham gia trên thị trường chứng khoán trong quá trình vận dụng các biện pháp để hạn chế rủi ro và đầu tư kiếm lợi.
Đây là một thực trạng đang tồn tại vì những chuyên gia đào tạo về sản phẩm phái sinh thực tiễn còn khá ít ỏi do sản phẩm này khá mới ở Việt Nam và số đơn vị cung cấp và số đơn vị tham gia thực hiện sản phẩm này chưa có, chỉ đang trong giai đoạn nghiên cứu.
Dựa trên cơ sở nghiên cứu luật về thị trường chứng khoán phái sinh của các nước trên thế giới kết hợp kinh nghiệm quản lý trong quá trình hình thành và phát triển các quyền chọn trên thị trường ngoại hối, thị trường cà phê ở nước ta trong thời gian qua, để từng bước xây dựng khung pháp lý cho giao dịch tiến đến hình thành luật và quy chế giao dịch quyền chọn chứng khoán chính thức. Nghiên cứu hoàn chỉnh các chính sách về thuế, phí, lệ phí đối với hoạt động chứng khoán để khuyến khích thị trường phát triển, trong đó giám sát hoạt động của thị trường chứng khoán và từng đối tượng, thành viên tham gia thị trường là đặc biệt quan trọng thị trường hoạt động lành mạnh, phát triển phát triển bền vững. Các định chế tài chính chuyên nghiệp triển khai các giao dịch quyền chọn chứng khoán như: ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán, triển khai quảng bá công cụ quyền chọn chứng khoán, nhằm tạo ra sự nhận thức và hiểu biết cho khách hàng, nhà phát hành và nhà hoạch định chính sách về công dụng và cách thức sử dụng công cụ quyền chọn chứng khoán.
Để thực hiện điều này, các định chế tài chính như Công ty chứng khoán, Công ty đầu tư tài chính..rút kinh nghiệm và thay đổi cách tiếp thị chào bán sản phẩm quyền chọn chứng khoán, theo hướng là lựa chọn và huấn luyện kiến thức tiếp thị cho những nhân viên thật sự am hiểu về sản phẩm để trực tiếp giới thiệu và chào bán cho khách hàng.
(Nguồn: Trang web Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM www.hsx.vn) Cũng giống như giao dịch mua bán chứng khoán, nhà đầu tư phải mở tài khoản giao dịch quyền chọn tại một Công ty chứng khoán và trước khi giao dịch nhà đầu tư phải ký quỹ tương ứng, sau đó uỷ nhiệm cho Công ty chứng khoán tiến hành thực hiện mua hoặc bán quyền chọn cụ thể với mức giá cụ thể hay giá yết trên sàn. Mặc dù trong thời gian hiện nay, vì nhiều lý do khách quan và chủ quan, việc ứng dụng chứng khoán phái sinh trên thị trường chứng khoán Việt Nam cũng như trên thế giới có những hạn chế nhất định do tác động cuả cuộc khủng hoảng toàn cầu, tuy nhiên xét về mục tiêu dài hạn thì chứng khoán phái sinh vẫn là công cụ không thể thiếu đối với những thị trường chứng khoán phát triển. Việc thành lập thị trường quyền chọn chứng khoán là cần thiết, tuy nhiên, Việt Nam là một nước đang phát triển, hệ thống pháp luật chưa thống nhất và đồng bộ, nhà đầu tư thì chưa thật sự quan tâm đến vấn đề rủi ro xảy ra trong quá trình thực hiện quyền chọn chứng khoán, trình độ nhận thức của người dân về pháp luật thì chưa cao.
Trong đó, Nhà nước có vai trò quan trọng nhất trong việc xây dựng những quy định pháp luật hoàn chỉnh khung pháp lý, cơ chế quản lý, giám sát chặt chẽ đến từng đối tượng tham gia thị trường để thị trường hoạt động hiệu quả; đồng thời tuyên truyền, vận động, thúc đẩy, tạo điều kiện cho các thành phần khác tham gia thị trường một cách dễ dàng và có thể kiểm soát.