Bố cục đề tài
GVHD; PGS.TS Nguyễn Quốc Lộc
1 Lý do chọn đề tài:
Phú Yên, như nhiều vùng miền Trung khác, đã từ lâu gắn liền với nghề biển, hình thành một cộng đồng cư dân ven biển giàu truyền thống Qua quá trình định cư và phát triển, người dân nơi đây đã tạo dựng một kho tàng văn hóa dân gian phong phú, bao gồm tri thức về nghề biển, các phong tục nghi lễ liên quan đến đánh bắt, cùng những bài hò bả trạo, hò khoan đặc trưng của làng biển Sự đa dạng văn hóa còn thể hiện qua tục thờ cúng cá Ông tại các lăng miếu và đình làng, phản ánh sâu sắc bản sắc văn hóa của cộng đồng ven biển Phú Yên.
Mặc dù nền văn hóa dân gian độc đáo của ngư dân nơi đây chưa được nhiều người chú ý, nhưng đời sống tinh thần và các phong tục truyền thống của họ rất phong phú Nhiều người chỉ tập trung vào hoạt động đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, mà ít quan tâm đến các giá trị văn hóa đặc sắc của cộng đồng này.
Nghiên cứu khoa học về tài nguyên sinh vật biển rất phong phú, nhưng việc tập trung vào văn hóa và cư dân ven biển vẫn còn hạn chế Điều này dẫn đến nhiều quan niệm sai lầm về đời sống tâm linh và tín ngưỡng của ngư dân ở các làng biển.
Nghiên cứu văn hóa truyền thống của làng biển Phú Yên, đặc biệt là làng biển Phú Câu, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về quá trình định cư và các thiết chế xã hội của người dân nơi đây Bên cạnh đó, nghiên cứu này mang đến cái nhìn mới mẻ và chính xác về phong tục, tập quán, tín ngưỡng, cùng những yếu tố tạo nên sắc diện văn hóa đặc trưng của cư dân làng biển.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Các công trình nghiên cứu về văn hóa làng biển Phú Yên có thể kể đến như
“Non Nước Phủ Yên ” của tác giả Nguyễn Đình Tư xuất bản năm 1965.
“Vãn Hỏa Cư Dân Việt Ven Biển Phú Yên” của Viện văn hóa thông tin, Sở văn hóa thông tin tỉnh Phú Yên.
SVTH: Nguyễn Thị Nguyên Châu Trang 1
Khóa luận tốt nghiệp GVHĐ: PGS.TS Nguyễn Quốc Lộc
Các bài viết trên báo, tạp chí và tập san cung cấp tư liệu quý giá cho nghiên cứu về phong tục, tín ngưỡng và lễ hội của cư dân làng biển Phú Yên.
Bài viết này tập trung vào việc nghiên cứu văn hóa truyền thống của làng biển Phú Câu, thuộc phường 6, thành phố Tuy Hòa, nhằm làm rõ hơn về quá trình hình thành làng, các hoạt động kinh tế và đời sống văn hóa của cư dân Mặc dù có nhiều tài liệu đã đề cập đến các phong tục tín ngưỡng như lễ hội cầu ngư và tục thờ cúng tổ tiên, nhưng chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu cụ thể về làng biển Phú Câu Việc tìm hiểu này sẽ giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về văn hóa và kinh tế của ngư dân nơi đây.
Khóa luận nghiên cứu văn hóa truyền thống của làng biển Phú Câu, bao gồm các phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng, thiết chế xã hội và lễ hội truyền thống Qua đó, bài viết nêu bật sự bảo tồn, phát huy và gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống của làng biển trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong khóa luận này là điền dã dân tộc học Chúng tôi đã thực hiện hai chuyến thực địa: lần đầu từ tháng 5 đến tháng 6 tại phòng Văn Hóa Thông Tin thành phố Tuy Hòa và lần hai vào giữa tháng 7 tại làng Phú Câu, phường 6, thành phố Tuy Hòa Qua đó, chúng tôi đã thu thập được nhiều nguồn thông tin đa dạng, có giá trị và độ tin cậy cao, góp phần quan trọng vào việc thực hiện nội dung công trình nghiên cứu này.
Trong quá trình nghiên cứu điền dã, chúng tôi áp dụng phương pháp phỏng vấn sâu và trao đổi ý kiến với người dân địa phương, kết hợp chụp hình và tổng hợp tư liệu để phục vụ cho khóa luận Bên cạnh đó, chúng tôi sử dụng các phương pháp phân tích tư liệu, thống kê định tính và định lượng như những công cụ hiệu quả để hoàn thiện nghiên cứu.
SVTHĩ Nguyễn Thị Nguyên Châu Trang 2
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận được thiết kế thành 3 chương như sau:
Chương 1: Tồng quan về tỉnh Phú Yên.
Chương 2: Văn hóa truyền thống làng biển Phú Câu.
Chương 3: Làng Phú Câu ngày nay và một số kiến nghị trong việc phát huy và gìn giữ văn hóa truyền thống.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS,TS Nguyễn Quốc Lộc
SVTH: Nguyễn Thị Nguyên Châu Trang 3
TỎNG QUAN VÈ TỈNH PHÚ YÊN
Vị trí và lịch sử hình thành làng biển Phú C âu
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Quốc Lộc
CHƯƠNG 1 : TỎNG QUAN 1.1 Khái quát về điều kiện địa lí tự nhiên và lịch sử hình thành tỉnh Phú Yên
1.1.1 Điều kiện địa lí tự nhiên
Theo Nghị quyết kỳ họp thứ V của Quốc hội khóa VII vào ngày 30-6-1989, tỉnh Phú Khánh được chia thành hai tỉnh là Phú Yên và Khánh Hòa Tỉnh Phú Yên được tái lập vào ngày 1-7-1989 Từ năm 2005, tỉnh Phú Yên bao gồm 8 huyện: Sông Cầu, Tuy An, Đồng Xuân, Đông Hòa, Tây Hòa, Phú Hòa, cùng với hai huyện miền núi là Sông Hinh và Sơn Hòa, và thành phố Tuy Hòa là tỉnh lỵ.
Lãnh thổ Phú Yên ngày nay nằm trong tọa độ
Vị trí địa lý của khu vực nghiên cứu nằm ở vĩ độ 45 20 Bắc, kéo dài từ 108° 39 45 đến 109° 29 Phía Bắc giáp tỉnh Bình Định, phía Nam giáp tỉnh Khánh Hòa và Đắc Lắc, trong khi phía Đông tiếp giáp với biển Đông Hình dạng của khu vực này được mô tả như một hình ngũ giác với ba tỉnh Bì.
Hòa nối liền nhau như răng với lợi, thắm thiết như anh em một nhà Vì vậy mà thơ ca dân gian có câu: \
Anh vê Bình Định thâm cha, Phú Yên thăm mẹ Khảnh Hòa t hăm 'em.
Phú Yên, với diện tích 5.045 km² và dân số khoảng 861.130 người vào năm 2005, có khoảng 45 nghìn người thuộc các dân tộc thiểu số như Ê Đê, Ba Na, Chăm - Hroi và Hoa Địa hình tỉnh này thấp dần từ Tây sang Đông, với sườn Đông của dãy Trường Sơn Nam ở phía Tây và đồi núi xen kẽ đồng bằng ở phía Đông Khu vực này có độ dốc lớn và nhiều dãy núi đá gần biển, chia cắt đồng bằng ven biển thành các đồng bằng nhỏ Nằm ở rìa phía Đông dãy Trường Sơn, Phú Yên được bao quanh bởi núi ở hai mặt Bắc-Nam và biển ở phía Đông, với đồng bằng nằm dọc theo hai bờ sông Ba, sông Bàn Thạch và Kỳ Lộ, tạo điều kiện thuận lợi cho cư dân phát triển kinh tế dựa vào tài nguyên rừng và biển.
20 kinh độ Đông: phía Bắc phía Tây giáp tỉnh Gia Lai và mà Phú Yên được nhiều nhà ình Định - Phú Yên - Khánh
Theo sách Đại Nam nhất thống chí, khí hậu ở Phú Yên có đặc điểm ôn hòa vào đầu mùa xuân, nhưng tháng 3 đã bắt đầu nóng như mùa hè Thời tiết tháng 7 và tháng 8 vẫn duy trì nhiệt độ cao, trong khi khoảng thời gian từ thu sang đông thường có mưa dầm, mang lại cảm giác mát mẻ Địa hình nhiều núi rừng của Phú Yên cũng tạo ra những làn gió lam chướng, và trong suốt năm, khu vực này thường xuyên chịu ảnh hưởng của gió nam và thỉnh thoảng có bão.
Nghiên cứu khí hậu và thời tiết tỉnh Phú Yên cho thấy, khu vực này chịu ảnh hưởng của hoàn lưu khí quyển chung và gió mùa, với gió Bắc và Đông-Bắc vào mùa Đông, và gió Tây-Nam mạnh mẽ từ tháng 5 đến tháng 9 âm lịch, có tần suất gió từ 30 đến 65% Nhiệt độ trung bình hàng năm đạt 26°C, cùng với gió đất và gió biển tuần hoàn quanh năm Phú Yên có khoảng 50 con sông, trong đó sông Ba (còn gọi là sông Đà Rằng) dài 360 km, chảy qua tỉnh 90 km Ngoài sông Ba, còn có các sông lớn khác như sông Cái, sông Bàn Thạch, và sông Long Bình Mạng lưới sông suối dày đặc này, bắt nguồn từ các tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk, Kon Tum, và các dãy núi phía Nam Bình Định và Bắc Khánh Hòa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các nhà máy thủy điện lớn, cung cấp điện cho toàn tỉnh Đến tháng 6 năm 2004, 100% xã trong tỉnh đã được sử dụng điện lưới quốc gia, đồng thời hệ thống sông cũng cung cấp lượng phù sa dồi dào cho đồng bàng Tuy Hòa và Tuy An.
Phú Yên, vùng đất sơn thủy hữu tình, nổi bật với bờ biển dài 189 km kéo dài từ Cù Mông đến Đèo Cả Dọc theo bờ biển, những ngọn núi hùng vĩ đổ ra biển, tạo nên ba đoạn cảnh quan thiên nhiên độc đáo.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Quốc Lộc
1 Đại Nam nhất thống chỉ, Sđd, trang 76.
SVTH; Nguyền Thị Nguyên Châu Trang 5
Bờ biển từ Cù Mông (huyện Sông cầu) đến Tân Quy (huyện Tuy An) nổi bật với nhiều đá lởm chởm và bị gián đoạn ở nhiều vị trí do sự ăn mòn của núi ra biển Khu vực này bao gồm các đầm vịnh lớn như Cù Mông, Xuân Đài, Vũng Lấm và Ô Loan, tạo nên cảnh quan thiên nhiên đa dạng và hấp dẫn.
■ Đầm Cù Mông nằm ở phía Nam chân núi Cù Mông, tục gọi là vũng Mồi, có
► diện tích 15.000 ha, là địa phận của ba thôn Tùy Luật, Hội Phú, Vĩnh Cữu.
Tại các làng biển ven đầm Cù Mông, các nhà khảo cổ đã phát hiện và khai quật nhiều di tích thuộc nền văn hóa Sa Huỳnh, có niên đại từ hàng nghìn năm trước Những phát hiện này góp phần làm sáng tỏ lịch sử và văn hóa của khu vực này.
Trong khoảng thời gian từ 4000 năm đến 3500 năm trước, để bảo vệ vùng duyên hải, triều đình phong kiến nhà Nguyễn đã thiết lập 6 hải khẩu tại Phú Yên, bao gồm: Cù Mông hải khẩu, Xuân Đài hải khẩu, Vũng Lấm hải khẩu, Phú Sơn hải khẩu, Đà Diễn hải khẩu và Đà Nông hải khẩu.
Phú Yên sở hữu nhiều đảo đẹp như Bàn Thạch (Hòn Nần) cao 36m trong vịnh Cù Mông, đảo Nhất Tự Sơn ở thôn Khoan Hậu, đảo Hải Phú tại Vũng Lắm, đảo Hòn Yến thuộc xã An Hòa, cùng với Hòn Chùa, Hòn Than ngoài khơi thôn Mỹ Quang, Hòn Dứa ở thôn Long Thủy, và Hòn Khô, Hòn Nứa phía Nam huyện Đông Hòa Những cảnh quan này còn hoang sơ, chưa bị tác động bởi con người, tạo tiềm năng lớn cho phát triển du lịch biển tại tỉnh Phú Yên.
Hướng ra phía Đông, bán đảo Tuy Phong - Vĩnh Cửu (còn gọi là bán đảo
Cù Mông là khu vực nằm giữa hai xã Xuân Hải và Xuân Hòa, bao gồm bán đảo Vịnh Hòa và bán đảo Xuân Thịnh ở phía Nam đầm Cù Mông, cùng với bán đảo Aii Ninh Đông và An Hải.
An Hòa bao bọc đầm Ô Loan ở mũi Phú Tân (còn gọi là mũi Nước Giao); bán đảo Vũng Rô thuộc huyện Đông Hòa.
Biển Phú Yên có ba vùng nước đặc trưng: nước ngọt, nước lợ và nước mặn Hồ đầm nước ngọt có diện tích 897 ha và độ sâu từ 2m đến 10m Vùng nước lợ và mặn tại các cửa sông và cửa đầm vịnh chiếm khoảng 21.000 ha Phía Bắc bờ biển nổi bật với địa hình khúc khuỷu, tạo nên nhiều hang động và bãi tắm đẹp như Long Thủy, Bãi Xếp, Bãi Nồm Theo thống kê, nguồn lợi thủy sản tại Phú Yên rất phong phú với 500 loài cá, 30 loại tôm và 29 loài ốc.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Quốc Lộc
SVTH: Nguyễn Thị Nguyên Châu Trang 6
! nhiều loại hải sản quí, có giá trị kinh tế cao như: rong biển, bào ngư, hải sâm, ghẹ hoa, cua xanh
Phú Yên, nằm ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ, là một đầu mối giao thông quan trọng với tuyến đường sắt Bắc-Nam và quốc lộ 1A chạy ngang qua Tỉnh này kết nối với quốc lộ 25 đi Gia Lai, đường 645 đi Đắk Lắk, cùng với sân bay Tuy Hòa và cảng nước sâu Vũng Rô đang được đầu tư xây dựng thành cảng thương mại Địa hình dốc thoải từ cao nguyên Đắk Lắk ra biển theo lưu vực sông Ba tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển giao thông, đặc biệt là tuyến đường sắt đi Tây Nguyên Với những lợi thế này, Phú Yên trở thành điểm trung chuyển hàng hóa quan trọng và cửa ngõ ra biển Đông cho các tỉnh Tây Nguyên và các nước tiểu vùng sông Mê Kông.
Phú Yên là vùng đất có điều kiện địa lý tự nhiên phong phú, khí hậu ôn hòa và tài nguyên thiên nhiên dồi dào Khi những lưu dân Thanh-Nghệ đầu tiên đến đây, họ đã nhanh chóng biến nơi này thành vùng đất trù phú với dân cư đông đúc Sự phát triển này đã tạo nền tảng cho sự hình thành và phát triển của đơn vị hành chính Phú Yên, đóng vai trò quan trọng trong quá trình Nam tiến, Tây tiến và Đông tiến, đồng thời thúc đẩy sự hội nhập kinh tế-văn hóa của Phú Yên với cả nước trong các giai đoạn tiếp theo.
1.1.2 Tình hình kinh tế - Văn hóa - Xã hội của tỉnh Phú Yên trong những năm gần đây
Phú Yên, một tỉnh nghèo so với các tỉnh khác trong nước, đã trải qua 18 năm tái lập (1989-2005) với sự lãnh đạo của Đảng bộ và chính quyền tỉnh, cùng với nỗ lực của người dân và sự hỗ trợ từ Trung ương Từ một tỉnh có xuất phát điểm thấp và cơ sở hạ tầng yếu kém, Phú Yên đã từng bước xây dựng và phát triển, đạt được những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 10,7% vào năm 2005.
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG LÀNG PHÚ CÂU
Văn hóa tinh thần của cư dân làng biển Phú Câu
2.1 Văn hóa vật chất của cư dân làng biển Phú Câu
2.2 Văn hóa tinh thần của cư dân làng biển Phú Câu
GVHD: PGS.TS Nguyễn Quốc Lộc Khóa luận tốt nghiệp
CHƯƠNG 2: VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG LÀNG BIÊN
PHÚ CÂU 2.1 Văn hóa vật chất của ngư dân làng biển Phú Câu
2.1.1 Hoạt động kinh tế của ngư dân làng biển Phú Câu
Do điều kiện môi trường tự nhiên, đời sống kinh tế của người dân nơi đây chủ yếu phụ thuộc vào ngư nghiệp, bao gồm đánh bắt và chế biến hải sản Trong làng, khoảng 50% dân số làm việc trong ngành ngư nghiệp, 10% tham gia nông nghiệp, và 40% còn lại làm thuê hoặc buôn bán nhỏ.
Khu vực ven biển này thường xuyên đối mặt với lũ lụt, khiến nghề nuôi trồng thủy sản không phát triển mạnh Người dân chủ yếu sống dựa vào nghề chế biến hải sản đánh bắt hàng ngày Khi thời tiết thuận lợi, cuộc sống trở nên khấm khá, nhưng trong những ngày bão tố, ngư dân phải ngừng làm việc hàng tháng và không có thu nhập Những năm biển động, tài sản tích lũy bao năm như nhà cửa và thuyền bè thường bị cuốn trôi, dẫn đến sự sạt nghiệp Do đó, cuộc sống của người dân nơi đây thường thiếu ổn định.
Trước đây, ngư dân tại khu vực này chủ yếu tập trung vào các hình thức đánh bắt gần bờ như câu to, câu mý, câu chạy, câu rạng, giã cào, lưới cảng và lưới mành, dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp.
Hiện nay, nhờ sự hỗ trợ vốn từ Tỉnh, nhiều ngư dân trong làng đã chuyển sang nghề câu cá ngừ đại dương, mang lại sự thay đổi lớn trong đời sống của họ Theo lời kể của vạn trưởng, ngư dân Phú Câu đến với nghề này như một duyên trời cho Làng Phú Câu được xem là địa phương đầu tiên phát hiện ra nghề câu cá ngừ đại dương tại Việt Nam, với người đầu tiên khám phá ra nghề này là ông Châu Văn Liên, hay còn gọi là Sáu Liên.
Năm 1993, trong một chuyến đi đánh lưới chuồn, tác giả đã vô tình phát hiện một con cá ngừ mắc câu trên lưới của một tàu Đài Loan Sau khi gỡ lưới, ông đã cắt trộm một con cá ngừ để mang về nghiên cứu Khi mổ con cá, ông thấy một chiếc lưỡi câu khổng lồ và trong bụng nó còn nguyên những con cá chuồn tươi sống Từ đó, ông đã bàn bạc với các thuyền viên để tìm hiểu thêm về hiện tượng này.
SVTH: Nguyên Thị Nguyên Châu Trang 21
GVHD: PGS.TS Nguyễn Quốc Lộc đã hướng dẫn khóa luận tốt nghiệp về phương pháp sản xuất giàn câu và lưỡi câu giống như tàu Đài Loan Trong chuyến đánh thử đầu tiên, cách bờ gần mười hải lý, chỉ sau vài ngày, tàu của ông đã thu hoạch được hàng chục chú cá ngừ.
Ông đã chia sẻ kinh nghiệm quý báu của mình cho ngư dân trong làng, giúp nghề câu cá ngừ đại dương phát triển mạnh mẽ cho đến ngày nay Nhiều ngư dân từ các tỉnh khác cũng tìm đến để học hỏi và áp dụng những kỹ thuật câu cá hiệu quả.
Làng nổi tiếng với nghề làm nước mắm, hầu hết các gia đình đều có người biết làm mắm, phục vụ cho nhu cầu sử dụng cá nhân và bán ra thị trường Nước mắm ở đây rất đa dạng với nhiều loại khác nhau.
Mắm trong được chế biến từ cá cơm, theo tỷ lệ 4 hoặc 5 cá với muối Nguyên liệu này được cho vào chum, vại hoặc thùng gỗ, sau đó phủ lên bằng một tấm nơ đan tre và đè đá lên trên để ngăn nước tràn ra ngoài trong quá trình phân hủy Sau khoảng một tuần, nước cá bắt đầu được xả ra; trong vài tuần đầu, nước có màu đục, sau đó chuyển dần sang màu hồng nhạt và cuối cùng là màu đỏ.
Mắm tôm là một loại gia vị truyền thống được chế biến từ các loại tôm như tôm đất, tôm sú và tôm rằn Đầu tiên, tôm được rửa sạch bằng rượu trắng, sau đó cho vào hũ Để tăng thêm hương vị, người ta thêm một ít đường, gừng, sả và ớt vào hỗn hợp.
Mấm hàu là món ăn được chế biến từ hàu tươi Sau khi ngư dân bắt được hàu, họ sẽ tách vỏ, rửa sạch và ướp với muối Tiếp theo, hàu được cho vào thùng và đậy kín bằng lá chuối Quá trình ủ mắm diễn ra trong khoảng một tháng, sau đó có thể sử dụng.
Mắm ruốc, hay còn gọi là con ruốc hoặc chà rinh, là một đặc sản nổi tiếng ở Phú Yên, mùa ruốc thường bắt đầu từ tháng 11 âm lịch và kéo dài đến tháng 2 năm sau Ngư dân sử dụng các dụng cụ như mành, vợt hoặc giã cào để đánh bắt ruốc Sau khi bắt, ruốc được rửa sạch, trộn với các nguyên liệu khác và xay nhuyễn trước khi cho vào thùng Sau khoảng một tháng, ruốc sẽ chín và trở thành món mắm thơm ngon.
Mắm cá thu là một loại mắm nổi tiếng của làng, với quy trình chế biến phức tạp Đầu tiên, cần lột da cá và nạo lấy thịt, sau đó trộn cá với muối theo tỷ lệ 5 hoặc 6 cá/1 muối Tiếp theo, xay nhuyễn hỗn hợp và cho vào lọ để bảo quản Để tăng thêm hương vị cho mắm cá thu, khi thưởng thức, nên thêm ớt, tỏi và gừng.
Ngoài các loại mấm trên thì còn có mấm ru ộ t, mấm ốc, mấm giắc.
Người dân làng có kinh nghiệm phong phú trong việc chế biến hải sản tươi sống thành những món ăn bổ dưỡng Khi lượng hải sản đánh bắt được dồi dào, họ tận dụng tối đa để tạo ra các món ăn chất lượng, giàu giá trị dinh dưỡng.
SVTH: Nguyễn Thị Nguyên Châu Trang 22
Khóa luận tốt nghiệp do GVHD PGS.TS Nguyễn Quốc Lộc hướng dẫn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chế biến hải sản để bảo quản hiệu quả hơn Việc này không chỉ nhằm mục đích cung cấp thực phẩm trong mùa biển động mà còn phục vụ nhu cầu tiêu thụ của người dân ở miền núi.
Đặc điểm tình hình của làng biển Phú Câu ngày nay
3.2 Làng biển Phú Câu vói việc bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống
3.3 Một số kiến nghị trong việc phát huy và giữ gìn văn hóa truyền thống làng biển Phú Câu
CHƯƠNG 3: LÀNG PHỦ CÂU NGÀY NAY VÀ
MỘT SÓ KIÉN NGHỊ TRONG VIỆC PHÁT HUY , GÌN GIỮ
VĂN HÓA TRUYỀN THÓNG 3.1 Đặc điểm tình hình của làng Phú Câu ngày nay
Làng Phú Câu, nằm dưới chân cầu Vạn Kiếp, từng là một khu vực nhỏ với chỉ vài chục hộ gia đình chủ yếu làm nghề câu cá và đan lưới Kinh tế của làng rất nghèo nàn và lạc hậu, khiến nơi đây trở thành một trong những làng nghèo nhất tỉnh Phú Yên.
Ngày nay, làng Phú Câu đã phát triển mạnh mẽ và khẳng định vị thế tiên phong trong nghề khai thác cá ngừ đại dương Theo thông tin từ ông Bùi Thanh Lịch, Phó Chủ Tịch UBND Phường 6, làng Phú Câu hiện thuộc hai khu phố Bạch Đằng và Lê Duẫn, được thành lập từ ngày 30/11/1998 Với vị trí địa lý thuận lợi, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp khu phố Trần Hưng Đạo, phía Nam giáp sông Đà Rằng và phía Bắc giáp phường 7, nơi đây có nhiều cơ quan cấp tỉnh như UBND tỉnh Phú Yên, Ban chỉ huy quân sự tỉnh, và cảng cá Phú Câu Đời sống người dân làng Phú Câu rất sôi động, đặc biệt từ tháng 2 đến tháng 6, mùa chính để đánh bắt cá ngừ đại dương, khi cảng cá trở nên nhộn nhịp và vui tươi.
Mùa cá ngừ bội thu đã mang lại nhiều cải thiện cho đời sống cư dân làng biển, giúp họ thoát khỏi những ngôi nhà tạm bợ bằng tole và tranh xiu vẹo trước đây.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS TS Nguyễn Quốc Lộc
SVTH: Nguyên Thị Nguyên Châu Trang 50 đã được thay thế bằng những khu nhà kiên cố và quy hoạch rõ ràng Theo báo cáo tổng hợp từ hai khu phố Lê Duẫn và Bạch Đằng (2005), trong làng có 10 nhà cấp 1 chiếm 1,26%, 105 nhà cấp 2 và 3 chiếm 13,21%, trong khi đó nhà cấp 4 có 599 nhà, chiếm 75,31% Số còn lại là nhà mái lợp tôle và vách tôle, chiếm tỷ lệ 8,91%.
Bảng thống kê cấp nhà của làng Phú Câu
Khóa luận tốt nghiệp _ GVHD; PGS.TS Nguyễn Quốc Lộc cấp nhà
Nhà cấp 1 Nhà cấp 2 Nhà cấp 4 Nhà mái tole SỐ hộ
Tỉ lệ% Số hộ Tỉ lệ% Số hộ Tỉ lệ% Số hộ Tỉ lệ% Khu phố Lê Duẫn
Tông sô hộ của làng
Nguôn: Uy Ban Nhân Dân Phường 6 (sô liệu)
Tác già tổng hợp và lập bảng biểu
Số hộ gia đình giàu có trong làng Phú Câu đã tăng lên đáng kể với 166 hộ, cùng với 292 hộ khá và 312 hộ trung bình Trong khi đó, chỉ có 25 hộ nghèo và hộ tàn tật, trong đó có 5 hộ có người tàn tật cô đơn được ngành thương binh xã hội trợ cấp đầy đủ Đặc biệt, làng đã vượt chỉ tiêu không có hộ đói Tất cả các hộ dân đều có đầy đủ công trình vệ sinh như giếng nước, nước máy đạt 100%, nhà vệ sinh và hồ xí tự hủy đạt 90%, cùng với hệ thống điện đảm bảo an toàn cho bà con Đường vào làng hiện nay đã được bê tông hóa, thay thế cho những con đường đất thường xuyên ngập úng vào mùa mưa.
Thành phần dân cư làng trước đây cũng như bây giở đa số là dân cư bản địa
Một số kiến nghị trong việc phát huy và giữ gìn văn hóa truyền thống làng biển Phú C âu
CHƯƠNG 3: LÀNG PHỦ CÂU NGÀY NAY VÀ
MỘT SÓ KIÉN NGHỊ TRONG VIỆC PHÁT HUY , GÌN GIỮ
VĂN HÓA TRUYỀN THÓNG 3.1 Đặc điểm tình hình của làng Phú Câu ngày nay
Làng Phú Câu, nằm dưới chân cầu Vạn Kiếp, từng là một khu đất nhỏ với vài chục hộ gia đình chủ yếu làm nghề câu cá và đan lưới Với đời sống kinh tế nghèo nàn và lạc hậu, nơi đây được coi là một trong những làng nghèo nhất tỉnh Phú Yên.
Làng Phú Câu ngày nay đang phát triển mạnh mẽ và khẳng định vị thế là một trong những làng tiên phong trong nghề khai thác cá ngừ đại dương Theo thông tin từ ông Bùi Thanh Lịch, Phó Chủ Tịch UBND Phường 6, làng Phú Câu hiện thuộc địa phận hai khu phố Bạch Đằng và Lê Duẫn, được thành lập vào ngày 30/11/1998 Với vị trí địa lý thuận lợi, phía Đông giáp biển Đông và nhiều cơ quan cấp tỉnh như UBND tỉnh Phú Yên, Ban chỉ huy quân sự tỉnh, và cảng cá Phú Câu, khu vực này trở thành trung tâm hoạt động sôi nổi Đời sống của người dân làng Phú Câu rất nhộn nhịp, đặc biệt từ tháng 2 đến tháng 6, khi mùa đánh bắt cá ngừ đại dương diễn ra, tạo nên không khí vui tươi và nhộn nhịp tại cảng cá.
Nhờ vào mùa cá ngừ bội thu, đời sống của cư dân làng biển đã có nhiều cải thiện Những ngôi nhà tạm bợ với mái tole và tranh xiu vẹo trước đây giờ đã được thay thế bằng những công trình khang trang hơn, phản ánh sự phát triển kinh tế của cộng đồng.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS TS Nguyễn Quốc Lộc
Khu vực SVTH: Nguyên Thị Nguyên Châu Trang đã được cải tạo với những khu nhà kiên cố và quy hoạch rõ ràng Theo báo cáo tổng hợp từ hai khu phố Lê Duẫn và Bạch Đằng (2005), trong làng có 10 nhà cấp 1 chiếm 1,26%, 105 nhà cấp 2 và 3 chiếm 13,21%, và 599 nhà cấp 4 chiếm 75,31% Số nhà còn lại là nhà mái lợp tole và vách tole, chiếm tỷ lệ 8,91%.
Bảng thống kê cấp nhà của làng Phú Câu
Khóa luận tốt nghiệp _ GVHD; PGS.TS Nguyễn Quốc Lộc cấp nhà
Nhà cấp 1 Nhà cấp 2 Nhà cấp 4 Nhà mái tole SỐ hộ
Tỉ lệ% Số hộ Tỉ lệ% Số hộ Tỉ lệ% Số hộ Tỉ lệ% Khu phố Lê Duẫn
Tông sô hộ của làng
Nguôn: Uy Ban Nhân Dân Phường 6 (sô liệu)
Tác già tổng hợp và lập bảng biểu
Số hộ giàu trong làng Phú Câu đã tăng đáng kể, với 166 hộ giàu, 292 hộ khá và 312 hộ trung bình, trong khi chỉ còn 25 hộ nghèo và tàn tật, trong đó có 5 hộ tàn tật cô đơn được hỗ trợ đầy đủ từ ngành thương binh xã hội Đặc biệt, làng đã đạt chỉ tiêu không có hộ đói Tất cả các hộ dân đều có 8 công trình vệ sinh như giếng nước, nước máy 100%, nhà vệ sinh tự hủy 90%, và hệ thống điện đảm bảo kỹ thuật an toàn Đường vào làng hiện đã được bê tông hóa, thay thế cho những con đường đất thường bị ngập úng vào mùa mưa.
Thành phần dân cư làng trước đây cũng như bây giở đa số là dân cư bản địa
3.2 Làng biển Phú Câu với việc bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống
Kể từ khi Nghị quyết Trung ương khóa VIII được ban hành về việc xây dựng và phát triển nền văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc, đã có những tác động tích cực đến việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của các làng Các hoạt động truyền thống liên quan đến sinh hoạt văn hóa đã được khôi phục và phát triển, góp phần gìn giữ những giá trị văn hóa độc đáo của cộng đồng.
SVTH: Nguyễn Thị Nguyên Châu Trang 51
Khóa luận tốt nghiệp của GVHD PGS.TS Nguyễn Quốc Lộc nhấn mạnh sự khôi phục và phát huy các hoạt động văn hóa như lễ hội cầu ngư, hò bá trạo, múa siêu và đua thuyền Nhiều thể loại văn học dân gian đã được nghiên cứu, sưu tầm và phổ biến rộng rãi Các công trình tôn giáo như đình chùa đã được đầu tư nâng cấp, cùng với sự phát triển của các thiết chế văn hóa như câu lạc bộ, nhà văn hóa và Bưu điện văn hóa xã Các phương tiện phục vụ văn hóa như ti vi, radio, máy cassette và karaoke đã trở thành phổ biến trong mỗi gia đình, giúp ngư dân tiếp cận thông tin về chính sách, pháp luật và nghệ thuật, từ đó nâng cao đời sống tinh thần Nhờ vậy, khoảng cách trong việc tiếp cận các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội giữa người dân đã được thu hẹp đáng kể.
Việc giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ về những truyền thống tốt đẹp của cha ông là rất quan trọng, giúp họ hiểu biết sâu rộng về văn hóa dân tộc Đồng thời, việc này cũng góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa đang có nguy cơ mai một trước sự xâm nhập của các yếu tố văn hóa hiện đại.
Vào tháng 3 năm 2006, UBND thành phố Tuy Hòa đã quyết định tổ chức lễ hội cá ngừ đại dương tại làng Phú Câu để kỷ niệm 395 năm Phú Yên Phó Chủ Tịch ủy Ban Nhân Dân Thành phố Tuy Hòa, Mai Kim Lộc, nhấn mạnh rằng lễ hội này có ý nghĩa quan trọng về mặt tâm linh và tinh thần của ngư dân, tôn vinh nghề khai thác xa bờ và quảng bá sản phẩm cá ngừ có giá trị xuất khẩu cao Đêm hội diễn ra long trọng với hàng chục tàu thuyền trang trí hình cá, cua, tôm, cùng với tiếng nổ máy ầm vang tại cảng cá và màn bắn pháo rực rỡ Ngư dân đã chèo thuyền rồng thả hoa trên sông, cầu mong cho trời yên biển lặng và mùa cá bội thu Lễ hội không chỉ mang ý nghĩa lớn đối với người dân làng mà còn trở thành một sự kiện văn hóa được biết đến rộng rãi.
Nguyễn Thị Nguyên Châu Trang, 52 tuổi, cho biết rằng hầu hết mọi người đều nhắc đến nghề đánh bắt cá ngừ đại dương với niềm tự hào và hạnh phúc, vì làng của họ là nơi tiên phong trong cả nước về phong trào này Ông Sáu Liêm, người phát hiện ra nghề đánh bắt cá ngừ đại dương, không chỉ ghi dấu ấn trong lịch sử của làng mà còn nhận được lòng biết ơn sâu sắc từ mỗi ngư dân, mặc dù họ không trực tiếp bày tỏ.
Cùng với Nghị quyết Trung ương V, các chủ trương và chỉ thị của Đảng và Nhà nước đã thúc đẩy xây dựng đời sống văn hóa mới trong việc cưới, việc tang, gia đình văn hóa và khu phố văn hóa Những chính sách này, bao gồm kế hoạch hóa gia đình và phong trào toàn dân đoàn kết, đã từng bước đi vào đời sống nhân dân và nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ từ cộng đồng.
Quá trình thực hiện các chủ trương và Nghị quyết của Đảng và Nhà nước đã mang lại sự cải thiện đáng kể cho đời sống văn hóa của cư dân làng biển Nhiều tập tục lạc hậu như sinh con nhiều, áp lực phải có con trai, kết hôn sớm, sống trong nhà ở tạm bợ, thiếu công trình vệ sinh, và các tệ nạn như cờ bạc, rượu chè đã được khắc phục và hạn chế dần.
Trong lễ hội truyền thống, nhiều tập tục di đoan đã bị xóa bỏ, và các kiêng kỵ trong đánh bắt cũng giảm dần Lễ cưới và lễ tang được thực hiện theo nếp sống mới, giúp ngư dân lựa chọn cách tổ chức đơn giản hơn Thời gian nhàn rỗi của cư dân ngày càng được sử dụng cho việc nghe đài, xem báo, học tập và rèn luyện thân thể.
Những diễn biến văn hóa ở làng biển cho thấy sự thay đổi phức tạp trong nhận thức của cư dân, khi họ vừa duy trì các giá trị văn hóa truyền thống theo định hướng của Nhà nước, vừa tiếp nhận các hiện tượng văn hóa hiện đại Người dân phải lựa chọn và giải mã để kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống cùng với sự đổi mới trong đời sống tinh thần Việc giải mã những vấn đề này đòi hỏi sự chọn lọc và tiếp thu tinh hoa văn hóa của từng thời kỳ.
Khóa luận tốt nghiệp _ GVHD: PGS.TS Nguyễn Quốc Lộc
Nguyễn Thị Nguyên Châu Trang 53 nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thích ứng và biến đổi văn hóa dân tộc để phù hợp với thị hiếu, tâm lý và nhu cầu hiện đại Điều này giúp các giá trị văn hóa nhanh chóng hòa nhập vào đời sống, từ đó tiếp tục được hoàn thiện và nâng cao, giống như những gì cha ông chúng ta đã thực hiện.
3.3 Một số kiến nghị trong việc phát huy và giữ gìn văn hóa truyền thống ỉàng biển Phú Câu