1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phòng chổng tác hại của thuốc lá trên báo chí

133 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phòng Chống Tác Hại Của Thuốc Lá Trên Báo Chí
Tác giả Nguyễn Thị Diệu Linh
Người hướng dẫn PGS.TS. Đặng Thị Thu Hương, PGS.TS. Duong Xuân Son
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Báo chí học
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 34,27 MB

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (0)
  • 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài (10)
  • 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu (15)
  • 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (0)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (0)
  • 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài (17)
  • 7. Cấu trúc của luận văn (18)
  • Chương 1 VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ VỚI CÔNG TÁC TRUYỀN THÔNG PHÒNG CHỐNG TÁC HẠI CỦA THUỐC LÁ (19)
    • 1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài (19)
    • 1.2. Tình hình sử dụng thuốc lá tại Việt Nam và quan điểm của Đảng, Nhà nước về truyền thông phòng chống tác hại của thuốc lá (26)
      • 1.2.1. Tình hình sử dụng thuốc lá tại Việt Nam (26)
      • 1.2.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về truyền thông phòng chong tác hại của thuốc lá (28)
    • 1.3. Vai trò và thế mạnh của báo chí trong truyền thông về phòng chống tác hại của thuốc lá (0)
      • 1.3.1. Báo in (32)
      • 1.3.2. Báo điện tử (34)
      • 1.3.4. Truyền hình (36)
    • 1.4. Tiêu chí đánh giá chất lượng truyền thông phòng chống tác hại của thuốc lá (36)
    • 1.5. Vài nét về các cơ quan báo chí trong diện khảo sát (0)
      • 1.5.1. Báo Sức khỏe&Đời sống (38)
      • 1.5.2. Bảo điện tử VietnamPlus (0)
      • 1.5.3. Báo Hànộimới (39)
  • Chương 2 NỘI DUNG, HÌNH THỨC THÊ HIỆN THÔNG TIN TRUYỀN THÔNG PHÒNG CHỐNG TÁC HẠI CỦA THUỐC LÁ TRÊN 3 BÁO sức KHỎE&ĐỜI SỐNG, HÀNỘIMỚI, VIETNAMPLUS (41)
    • 2.1. Tần suất, mật độ tin, bài (41)
    • 2.2. Nội dung tin, bài về truyền thông phòng chống tác hại của thuốc lá trên 3 báo Sức khỏe&Đời sống, VietnamPlus, Hànộimới (46)
      • 2.2.2. Chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Y tế và hành động phòng chống tác hại thuốc lá của các địa phương (53)
      • 2.2.3. Khám chữa bệnh (phân tích biêu hiện, nguyên nhân) và các biện pháp phòng chống tác hại của thuốc lá (0)
      • 2.2.4. Nghiên cứu, thành tựu y học, khoa học về phòng chống tác hại của thuốc lá (58)
    • 2.3. Hình thức chuyển tải thông tin truyền thông phòng chống tác hại của thuốc lá trên các báo được lựa chọn khảo sát (60)
      • 2.3.1. Tin (62)
      • 2.3.2. Bài phản ánh (65)
      • 2.3.3. Bài phỏng vấn (66)
      • 2.3.5. ủng dụng đa phương tiện sử dụng trong tin, bài 2.4. Ưu điểm, hạn chế 2.4.1. Những ưu diêm (0)
      • 2.4.2. Những hạn chế (77)
      • 2.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế (0)
    • 3.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng truyền thông phòng chống tác hại của thuốc lá (87)
      • 3.2.1. Hoàn thiện cơ chế, chỉnh sách đối với hoạt động cung cấp thông tin y tế của ngành y tế với các cơ quan háo chỉ (0)
  • KẾT LUẬN (95)

Nội dung

Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Để đánh giá vai trò của công tác truyền thông và giáo dục sức khỏe, đặc biệt là trong việc phòng chống tác hại của thuốc lá, tác giả đã tiến hành tổng hợp và phân tích các nghiên cứu liên quan Lịch sử nghiên cứu cho thấy có nhiều tác phẩm khẳng định vai trò quan trọng của báo chí và truyền thông trong các vấn đề sức khỏe, trong đó nổi bật là công tác truyền thông phòng chống tác hại của thuốc lá.

Một số giáo trình quan trọng cung cấp kiến thức về lý luận báo chí bao gồm: "Báo chí - Những điểm nhìn từ thực tiễn" của Nguyễn Văn Dừng, "Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản" do Nguyễn Văn Dừng (chủ biên) và Đồ Thị Thu Hằng biên soạn, "Cơ sở lý luận báo chí" của Nguyễn Văn Dững, "Truyền thông đại chúng" của Tạ Ngọc Tấn, và "Cơ sở lý luận báo chí truyền thông" của Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần.

Quang), Bảo chí và dư luận xã hội (Nguyễn Văn Dững), Báo mạng điện tử đặc trưng và phương pháp sảng tạo (Nguyễn Trí Nhiệm, Nguyễn Thị Trường

Giáo trình đề cập đến các vấn đề phương pháp luận, bao gồm những khái niệm, phạm trù, đặc trưng, chức năng, nguyên tắc, hiệu quả và tính chất của chúng.

7 sáng tạo của lao động báo chí, làm cơ sở cho việc tìm hiêu, nghiên cứu các vân đề cụ thể trong lĩnh vực báo chí, truyền thông.

Cuốn sách "Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản" do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia phát hành năm 2012, được biên soạn bởi PGS.TS Nguyễn Văn Dũng và PGS.TS Đồ Thị Thu Hằng, tổng kết từ nhiều tài liệu và kinh nghiệm Tác phẩm làm rõ các khái niệm về truyền thông, lý thuyết truyền thông, truyền thông cá nhân, nhóm và đại chúng, cùng với chu trình truyền thông, lập kế hoạch và giám sát hoạt động truyền thông Qua đó, tác giả luận văn có thể kế thừa hệ thống lý luận về báo chí, truyền thông, từ đó phát triển các kỹ năng phân tích và lập luận cho các vấn đề trong đề tài của mình.

Cuốn sách "Cơ sở lý luận báo chí truyền thông" của tác giả Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường và Trần Quang, do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội phát hành, cung cấp những kiến thức nền tảng về lý luận báo chí và truyền thông Tác phẩm này là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên và những người làm việc trong lĩnh vực truyền thông, giúp nâng cao hiểu biết và kỹ năng nghề nghiệp.

Năm 2011 đã đề cập đến các vấn đề phương pháp luận, khái niệm, phạm trù, chức năng và nguyên tắc của lao động báo chí, nhấn mạnh hiệu quả và tính sáng tạo trong lĩnh vực này Cuốn sách cung cấp nền tảng cho việc nghiên cứu các vấn đề cụ thể trong báo chí và truyền thông Cuối giáo trình, phần Phụ lục bao gồm Luật Báo chí, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí năm 1999, cùng với Quy ước tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp của báo chí Việt Nam.

Cuốn sách "Cơ sở lý luận báo chí" của tác giả Nguyễn Văn Dừng, xuất bản năm 2012 bởi Nhà xuất bản Lao động, cung cấp kiến thức hệ thống về lý luận báo chí, bao gồm khái niệm, đặc điểm, bản chất và đối tượng của báo chí Tác phẩm cũng đề cập đến công chúng, cơ chế tác động, chức năng và nguyên tắc cơ bản của hoạt động báo chí, cũng như vấn đề tự do báo chí Đặc biệt, cuốn sách tiếp cận báo chí từ góc độ hệ thống, phản ánh các quan điểm khác nhau về báo chí, đồng thời bám sát tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam xác định 8 quan điểm chủ đạo về báo chí, nhấn mạnh vai trò và chức năng quan trọng của báo chí, đặc biệt là báo in trong việc truyền tải thông tin và tư tưởng Tác giả luận văn đã tham khảo và kế thừa hệ thống lý luận liên quan đến khái niệm báo chí, nhằm làm rõ hơn vị trí của báo chí trong xã hội.

Tác giả Tạ Ngọc Tấn trong cuốn sách "Truyền thông đại chúng" (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2001) đã trình bày những kiến thức cơ bản và có hệ thống về các phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại, bao gồm báo in, phát thanh, truyền hình, sách, điện ảnh, hãng tin tức và internet Cuốn sách cũng đề cập đến các nguyên tắc và phương pháp quản lý nhằm phát huy hiệu quả vai trò của truyền thông trong việc xây dựng và phát triển đất nước Ngoài ra, tác giả còn kế thừa hệ thống lý luận về báo in và các loại hình báo chí khác.

Cuốn sách "Ngôn ngữ báo chí" của tác giả Vũ Quang Hào cung cấp cái nhìn hệ thống về ngôn ngữ Việt Nam trong bối cảnh truyền thông đại chúng Đây là tài liệu hữu ích và cần thiết cho người đọc, giúp họ hiểu rõ các vấn đề chung của ngôn ngữ truyền thông cũng như những đặc điểm riêng biệt của ngôn ngữ truyền thông Việt Nam.

Vai trò của báo chí được nhấn mạnh trong nhiều tác phẩm nghiên cứu như "Những vấn đề của báo chí hiện đại" (2007) của Hoàng Đình Cúc và Đức Dũng, "Những vấn đề văn hóa, báo chí, truyền thông" (2010) của Phạm Ngọc Trung, và "Báo chí và dư luận xã hội" (2011) của Nguyễn Văn Dừng Những nghiên cứu này cho thấy tầm quan trọng của báo chí và truyền thông, cũng như những ảnh hưởng của chúng đối với sự phát triển toàn diện của xã hội.

Báo chí và truyền thông đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực y tế và sức khỏe, một vấn đề được xã hội đặc biệt quan tâm hiện nay Tác giả đã nghiên cứu một số công trình liên quan, trong đó có đề tài "Thông tin sức khỏe trên báo chí Việt Nam hiện nay - vấn đề và thảo luận", thông qua khảo sát trên báo Sức khỏe & Đời sống và kênh truyền hình 02TV.

Năm 2009, học viên cao học Bùi Thị Thu Thủy đã nghiên cứu về hệ thống lý luận và lý thuyết liên quan đến kênh truyền thông và nhu cầu công chúng trong lĩnh vực thông tin sức khỏe, đồng thời đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng công tác truyền thông và giáo dục sức khỏe Tiếp theo, nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hòa (2013) về thông tin y tế - sức khỏe trên báo in đã khảo sát hai tờ báo Sức khỏe & Đời sống và Khoa học và đời sống, đánh giá thực trạng, ưu điểm và hạn chế của thông tin sức khỏe trên báo in, từ đó đưa ra các giải pháp cải thiện hiệu quả truyền thông y tế Cuối cùng, đề tài của Đỗ Võ Tuấn Dũng về tuyên truyền giáo dục sức khỏe trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng góp phần quan trọng vào việc nâng cao nhận thức cộng đồng về sức khỏe.

Báo chí và Tuyên truyền đã tổng hợp tình hình thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền và giáo dục sức khỏe qua các phương tiện truyền thông đại chúng Nghiên cứu "Đánh giá mức độ ô nhiễm Nicotin trong môi trường khỉ nơi sản xuất thuốc lá và tác động của nó đến sức khỏe người lao động" của học viên Bùi Thị Kiều Trang tại Trường Đại học, thực hiện năm 2011, đã chỉ ra những ảnh hưởng nghiêm trọng của ô nhiễm Nicotin đối với sức khỏe người lao động.

Đại học Quốc gia Hà Nội đã nghiên cứu về nguồn gốc, cấu tạo và tính chất hóa lý của Nicotin, đồng thời tìm hiểu về thuốc lá, tình hình sản xuất và tiêu thụ thuốc lá toàn cầu cũng như tại Việt Nam Nghiên cứu cũng tập trung vào hàm lượng Nicotin trong không khí tại các nhà máy sản xuất thuốc lá và tác động của nó đến sức khỏe con người.

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Đề tài này không chỉ củng cố hệ thống lý luận mà còn làm phong phú thêm hiểu biết về vai trò của báo chí trong việc bảo vệ và nâng cao sức khỏe cộng đồng, đặc biệt trong công tác truyền thông phòng chống tác hại của thuốc lá Kết quả khảo sát từ ba báo được nghiên cứu cung cấp tư liệu quý giá cho các công trình nghiên cứu tiếp theo về truyền thông phòng chống tác hại của thuốc lá, đồng thời hỗ trợ cho các môn học chuyên ngành báo chí.

Sau khi nghiên cứu và thực hiện đề tài, tác giả đã tích lũy được những bài học quý giá về vai trò của báo chí trong công tác truyền thông phòng chống tác hại của thuốc lá Những kinh nghiệm này không chỉ giúp nâng cao nhận thức cộng đồng mà còn góp phần xây dựng các chiến dịch truyền thông hiệu quả hơn.

Khảo sát toàn diện về truyền thông phòng chống tác hại của thuốc lá trên ba báo Sức khỏe&Đời sống, Hànộimới, và VietnamPlus giúp các nhà báo và cơ quan báo chí nhận diện rõ ưu điểm, nhược điểm, thành công và hạn chế trong công tác này Qua đó, nâng cao chất lượng và hiệu quả của truyền thông về tác hại của thuốc lá.

Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm

Chương 1: Vai trò của báo chí với công tác truyền thông phòng chống tác hại của thuốc lá.

Chương 2: Nội dung, hình thức thê hiện thong tin truyền thông phòng chống tác hại của thuốc lá trên 3 báo: Sức khỏe&Đời sống, Hànộimới, Vietnamplus.

Chương 3: Một sổ giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác truyền thông phòng chống tác hại của thuốc lá trên báo chí.

VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ VỚI CÔNG TÁC TRUYỀN THÔNG PHÒNG CHỐNG TÁC HẠI CỦA THUỐC LÁ

Một số khái niệm liên quan đến đề tài

Theo Từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Dân trí (2018), thuốc lá là cây thuộc họ cà, có hoa màu hồng nhạt, lá to, mềm và có lông, thường được sử dụng để làm thuốc hút.

Thuốc lá là sản phẩm chủ yếu được chế biến từ lá thuốc lá đã thái sợi, được cuốn hoặc nhồi lại bằng giấy, thường có hình dạng trụ và chiều dài dưới một tiêu chuẩn nhất định.

Thuốc lá điếu có đường kính khoảng 10 mm và chiều dài 120 mm, thường được đốt ở một đầu để tạo ra khói Khói này được hút vào miệng người sử dụng thông qua đầu hút, thường có gắn đầu lọc Ngoài thuốc lá điếu truyền thống, còn có các loại thuốc lá khác như thuốc lá không khói và thuốc lá điện tử.

Công ước Khung của WHO về kiểm soát thuốc lá tại điều 1 định nghĩa:

Sản phẩm thuốc lá là những sản phẩm được chế biến hoàn toàn hoặc một phần từ nguyên liệu lá thuốc, được sử dụng cho các hình thức như hút, mút, nhai hoặc hít.

Theo Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 18/6/2012, thuốc lá được định nghĩa là sản phẩm được sản xuất từ nguyên liệu thuốc lá, bao gồm các hình thức như thuốc lá điếu, xì gà, thuốc lá sợi, thuốc lào và các dạng khác.

Tại Quyết định số 02/2007/QĐ-BYT của Bộ Y tế ngày 15/1/2007 về việc Ban hành Quy định về vệ sinh an toàn đối với sản phẩm thuốc lá như sau:

“Thuốc lá là các sản phẩm được sản xuất từ toàn bộ hay một phần từ cây

Thuốc lá được chia thành nhiều loại dựa trên các tiêu chí khác nhau nhằm phục vụ cho các mục đích sử dụng khác nhau Các loại thuốc lá bao gồm thuốc lá điếu truyền thống và thuốc lá thế hệ mới như thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng Các sản phẩm thuốc lá này có thể được sử dụng dưới nhiều hình thức như hút, nhai, ngửi hoặc mút.

* Khái niệm tác hại của thuốc lá:

Theo Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, thuốc lá gây ra những tác hại nghiêm trọng đối với sức khỏe con người, môi trường và sự phát triển kinh tế - xã hội Những ảnh hưởng tiêu cực này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phòng ngừa và giảm thiểu tác hại từ thuốc lá.

Tác hại của thuốc lá bao gồm những ảnh hưởng tiêu cực từ việc sử dụng thuốc lá và các hành vi liên quan đến nó đối với xã hội Theo báo cáo của Tổng hội y sĩ Hoa Kỳ năm 2010, khói thuốc lá chứa hơn 7000 hợp chất hóa học, trong đó có 250 chất độc hại và ít nhất 69 chất gây ung thư, được phân loại thành 5 nhóm chính.

Hắc ín: Hắc ín hay còn gọi là nhựa thuốc lá, có màu đen và quánh giống như nhựa đường, chứa rất nhiều chất gây ung thư.

Nicotine: Nicotine trong khói thuốc lá được Cơ quan kiểm soát Dược và

Nicotine, được xếp vào nhóm chất gây nghiện bởi FDA, là một hợp chất không màu, chuyển sang màu nâu khi cháy và có mùi khi tiếp xúc với không khí Chất này có thể được hấp thụ qua da, miệng, niêm mạc mũi hoặc hít vào phổi Trung bình, người hút thuốc lá tiêu thụ từ 1 đến 2 mg nicotine từ mỗi điếu thuốc Hút thuốc lá giúp nicotine nhanh chóng đến não, tạo ra tác dụng gây nghiện chủ yếu trên hệ thần kinh trung ương thông qua các thụ thể nicotine trên tế bào thần kinh.

Trung tâm thưởng trong hệ viền não bộ giải phóng các hóa chất trung gian như dopamin, serotonine và noradrenaline Sự phóng thích này mang lại cảm giác sảng khoái, nâng cao tâm trạng, đồng thời cải thiện hoạt động nhận thức và trí nhớ.

Não bộ nhận biết rằng thuốc lá có thể kích thích bài tiết dopamine, khởi động quá trình hút thuốc kéo dài nhiều năm Đối với những người hút hơn 15 điếu thuốc mỗi ngày, nồng độ nicotine trong máu cao khiến việc cai thuốc trở nên khó khăn hơn rất nhiều.

Khí carbon monoxit (CO) có nồng độ cao trong khói thuốc lá và dễ dàng hấp thụ vào máu, nơi nó gắn kết với hemoglobin với ái lực mạnh hơn 210 lần so với oxy Khi hút thuốc lá, khí CO nhanh chóng chiếm chỗ của oxy trên hồng cầu, dẫn đến việc một lượng lớn hồng cầu tạm thời mất khả năng vận chuyển oxy Hậu quả là cơ thể sẽ không nhận đủ oxy để sử dụng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe.

Khói thuốc lá chứa nhiều chất kích thích dạng khí và hạt nhỏ, dẫn đến thay đổi cấu trúc niêm mạc phế quản, bao gồm sự tăng sinh của các tuyến phế quản và tế bào tiết nhầy Tuy nhiên, hầu hết các thay đổi này có thể hồi phục khi ngừng hút thuốc lá.

Khói thuốc lá chứa khoảng 70 chất gây ung thư, bao gồm các hợp chất như benzopyrene và nitrosamine Những hóa chất này ảnh hưởng đến tế bào bề mặt đường hô hấp, gây viêm mạn tính, tổn thương mô và biến đổi tế bào Quá trình này dẫn đến dị sản, loạn sản và cuối cùng là ác tính hóa.

- Tác hại của thuốc lá lên các cơ quan trong cơ thế đối với người hút thuốc lá:

Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lý tim mạch, bao gồm bệnh mạch vành và đột quỵ, với nguy cơ tăng gấp 2-4 lần Hút thuốc gây tổn thương mạch máu, dẫn đến tim đập nhanh hơn và huyết áp cao hơn, từ đó gia tăng khả năng hình thành cục máu đông và tắc mạch Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), 35% số ca tử vong do bệnh tim mạch liên quan đến việc hút thuốc lá.

Tình hình sử dụng thuốc lá tại Việt Nam và quan điểm của Đảng, Nhà nước về truyền thông phòng chống tác hại của thuốc lá

1.2.1 Tình hình sử dụng thuốc lá tại Việt Nam Điều tra tình hình sử dụng thuốc lá ở người trưởng thành (gọi tắt là điều tra GATS) là một điều tra chuẩn toàn cầu để giám sát một cách có hệ thống tình hình sử dụng thuốc lá ở người trưởng thành (cả thuốc lá truyền thống và thuốc lá thế hệ mới bao gồm thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng) và theo dõi các chỉ số cơ bản về phòng chống tác hại của thuốc lá Đây là điều tra hộ gia đình, phỏng vấn cá nhân từ 15 tuổi trở lên Điều tra này do Bộ Y tể phối hợp với Trường Đại học Y Hà Nội và Tổng cục Thống kê thực hiện Tại Việt Nam, GATS được thực hiện lần đầu vào năm 2010 và điều tra nhắc lại vào năm 2015 Cả hai điều tra đều sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống phân tầng theo hai giai đoạn để tạo ra bộ dữ liệu đại diện quốc gia Tổng số có 9.925 cuộc phỏng vấn cá nhân được thực hiện ở điều tra năm 2010, đạt tỷ lệ trả lời là 92,8% Năm 2015 có 8.996 cuộc phỏng vấn cá nhân được thực hiện, đạt tỷ lệ trả lời là 95,8%. Điều tra GATS góp phần nâng cao năng lực các quốc gia trong thiết kế, triển khai và đánh giá các chương trình phòng, chống tác hại của thuốc lá Điều tra cũng giúp các quốc gia thực hiện các quy định của Công ước Khung về

Kiêm soát thuôc lá của WHO trong việc thu thập dừ liệu có thê so sánh tại quốc gia đó và giữa các quốc gia trên thế giới.

Theo điều tra GATS, trên toàn thế giới hiện có khoảng 1,3 tỷ người hút thuốc lá Trong khi tỷ lệ hút thuốc đang giảm ở các nước phát triển, thì ở các nước đang phát triển, việc sử dụng thuốc lá lại có xu hướng gia tăng.

Việt Nam hiện đang đứng trong top 15 quốc gia có tỷ lệ người hút thuốc lá cao nhất thế giới, với 47,4% nam giới và 1,4% nữ giới tham gia hút thuốc (GATS 2010) Khoảng 15,3 triệu người trưởng thành tại Việt Nam hút thuốc, tương đương với tỉ lệ 1 nam giới trong 2 người Đáng chú ý, 2/3 phụ nữ và trẻ em thường xuyên hít phải khói thuốc lá trong gia đình, trong khi hơn 5 triệu người trưởng thành không hút thuốc cũng bị phơi nhiễm khói thuốc tại nơi làm việc Để hiểu rõ hơn về tình hình này, Bộ Y tế đã thực hiện các nghiên cứu vào năm 2020.

Y tế tiến hành nghiên cứu “Tình hình sử dụng thuốc lá và thực hiện Luật

Theo nghiên cứu về tác hại của thuốc lá được thực hiện trên 34 tỉnh, thành phố, tỷ lệ hút thuốc lá điện tử ở người trưởng thành đã tăng từ 0,2% vào năm 2015 lên 0,7% vào năm 2020 Đặc biệt, tỷ lệ hút thuốc lá ở nam giới cũng ghi nhận sự gia tăng từ 0,4% năm 2015 lên 1,2% năm 2020.

Tỷ lệ hút thuốc lá ở nam giới đạt 42,3%, tức là cứ 2 nam giới trưởng thành thì có 1 người hút thuốc Hơn nữa, tỷ lệ hút thuốc thụ động rất cao, với gần 80% khách hàng tại nhà hàng và 65% tại khách sạn bị ảnh hưởng Đặc biệt, tỷ lệ phụ nữ sử dụng thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng ngày càng tăng, với 8% trẻ em gái và phụ nữ hút thuốc lá điện tử, trong khi tỷ lệ hút thuốc lá điếu ở nữ giới chỉ là 1,7%.

Theo điều tra sức khỏe học sinh Việt Nam năm 2019 do Viện Chiến lược và Chính sách y tế thuộc Bộ Y tế thực hiện, tỷ lệ học sinh từ 13-17 tuổi đang sử dụng thuốc lá điện tử trên toàn quốc đã được ghi nhận.

Theo nghiên cứu của Viện Chiến lược và Chính sách y tế năm 2020, tỷ lệ học sinh lớp 8-12 sử dụng thuốc lá điện tử tại Hà Nội đạt 8,35%, trong đó nam là 12,39% và nữ là 4,8% Đặc biệt, tỷ lệ này ở học sinh lớp 10-12 lên tới 12,6% Những con số này cho thấy tình hình sử dụng thuốc lá tại Việt Nam, đặc biệt trong giới trẻ, đang trở nên phức tạp do sự xuất hiện của nhiều sản phẩm thuốc lá thế hệ mới Điều này đặt ra thách thức lớn cho công tác phòng chống tác hại của thuốc lá, yêu cầu cần đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động truyền thông để nâng cao nhận thức và giảm thiểu tình trạng này.

1.2.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về truyền thông phòng chống tác hại của thuốc lá

Trong những năm qua, ngành y tế đã nỗ lực đáng kể trong việc hướng dẫn phòng, chống tác hại của thuốc lá dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Để giảm thiểu tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe, Bộ Y tế đã phối hợp với các bộ, ngành xây dựng dự thảo Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, được Quốc hội thông qua vào ngày 18/6/2012 và có hiệu lực từ 1/5/2013 Luật này bao gồm 5 chương và 35 điều, quy định các biện pháp giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá, kiểm soát nguồn cung cấp sản phẩm thuốc lá và đảm bảo thực hiện các quy định Chính phủ được giao trách nhiệm thống nhất quản lý nhà nước về phòng chống tác hại của thuốc lá, với Bộ Y tế chịu trách nhiệm thực hiện các biện pháp quản lý này.

25 bộ ngành có trách nhiệm phối hợp với Bộ Y tế để thực hiện nhiệm vụ phòng chống tác hại của thuốc lá Ủy ban nhân dân các cấp sẽ quản lý nhà nước về vấn đề này, đồng thời chủ trì, chỉ đạo và chịu trách nhiệm thực hiện các quy định liên quan đến địa điểm cấm hút thuốc lá tại địa phương.

Theo Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, mọi hành vi bán và cung cấp thuốc lá cho người dưới 18 tuổi, cũng như việc sử dụng người chưa đủ tuổi để mua, bán thuốc lá, đều bị nghiêm cấm Ngoài ra, các hành vi vi phạm khác như bán thuốc lá qua máy bán tự động, sử dụng hình ảnh thuốc lá trong các ấn phẩm dành cho trẻ em, và hút thuốc trên phương tiện giao thông công cộng cũng bị cấm từ ngày 1/5/2013.

Vào ngày 25/1/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 229/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược Quốc gia Phòng, chống tác hại của thuốc lá đến năm 2020 Mục tiêu của chiến lược là giảm nhu cầu sử dụng và kiểm soát cung cấp sản phẩm thuốc lá tại thị trường Việt Nam, với mục tiêu giảm tỷ lệ hút thuốc lá trong thanh thiếu niên (15-24 tuổi) từ 26% năm 2011 xuống 18% năm 2020, trong nam giới từ 47,4% xuống 39%, và trong nữ giới dưới 1,4% Chiến lược này đề ra các giải pháp bao gồm hoàn thiện chính sách, pháp luật, tăng cường thông tin, giáo dục, truyền thông, tổ chức, nhân lực và tài chính cho hoạt động phòng chống tác hại của thuốc lá.

Bộ Y tế, cùng với các bộ, ngành liên quan, đã xây dựng và trình Chính phủ ban hành các nghị định hướng dẫn thực hiện Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá và Chiến lược Quốc gia về vấn đề này Đồng thời, các thông tư, chỉ thị, kế hoạch thực hiện luật và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng đã được ban hành, thể hiện sự cam kết mạnh mẽ trong việc giảm thiểu tác hại của thuốc lá thông qua nhiều văn bản quan trọng.

Nghị định số 77/2013/NĐ-CP ngày 17/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, bao gồm các biện pháp phòng chống tác hại của thuốc lá Nghị định này cụ thể hóa các điều khoản trong Luật, như điều kiện thành lập và tổ chức hoạt động cai nghiện, tư vấn cai nghiện thuốc lá, cũng như việc chuyển đổi địa điểm cấm hút thuốc trong nhà thành khu vực hoàn toàn cấm hút thuốc Ngoài ra, nghị định cũng yêu cầu tăng diện tích in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá.

Nghị định số 67/2013/NĐ-CP ban hành ngày 27/6/2013 quy định chi tiết về các điều và biện pháp thực hiện Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá trong lĩnh vực kinh doanh thuốc lá Nghị định này quy định rõ ràng các điều kiện cần thiết cho việc sản xuất, mua bán thuốc lá, cũng như chế biến nguyên liệu thuốc lá, đồng thời đưa ra các biện pháp phòng chống buôn lậu và gian lận thương mại liên quan đến thuốc lá.

Nghị định số 176/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, trong đó từ điều 23 đến điều 27 tập trung vào xử phạt vi phạm về phòng chống tác hại của thuốc lá Cụ thể, các hành vi bị xử phạt bao gồm vi phạm quy định về địa điểm cấm hút thuốc lá, vi phạm quy định về bán thuốc lá, vi phạm quy định về ghi nhãn và in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá, cũng như vi phạm quy định về cai nghiện thuốc lá Những quy định này nhằm góp phần hạn chế tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe cộng đồng.

Vai trò và thế mạnh của báo chí trong truyền thông về phòng chống tác hại của thuốc lá

Thông tin mang tính xác thực cao

Quy trình sản xuất báo in trải qua nhiều bước như tiếp cận nguồn tin, viết tin, biên tập và kiểm duyệt, đảm bảo thông tin chính xác, chính thống và khách quan Điều này giúp các cơ quan báo chí dễ dàng định hướng truyền thông về các chính sách y tế, sức khỏe, đặc biệt là trong việc phòng, chống tác hại của thuốc lá đến công chúng.

Phân tích, lý giải, đảnh giả chuyên sâu, tỷ mỷ, có hệ thong

Báo in yêu cầu người viết thực hiện phân tích và đánh giá sâu sắc, với lập luận logic chặt chẽ về nội dung tác phẩm Để làm rõ tác hại của thuốc lá, người viết cần sử dụng ngôn ngữ diễn đạt, hình ảnh và bảng biểu thống kê Trước khi tờ báo được phát hành, việc đầu tư thời gian và công sức là rất quan trọng, vì một sai sót nhỏ trong ngôn ngữ có thể dẫn đến hiểu lầm từ phía độc giả Khi tác phẩm đã đến tay độc giả, việc chỉnh sửa và đính chính sẽ trở nên rất khó khăn.

Báo in hướng đến toàn bộ công chúng, vì vậy ngôn ngữ của nó cần phải dễ hiểu và phù hợp với số đông độc giả Những thông tin về sức khỏe, dù có tính chuyên ngành, được trình bày một cách đơn giản, giúp mọi người ở mọi trình độ tri thức đều có thể tiếp cận và hiểu rõ Điều này đã khiến các nhà hoạch định chính sách tận dụng báo in như một công cụ hiệu quả để truyền tải thông tin chính sách mới đến công chúng một cách chính xác và tin cậy.

Báo in có khả năng lưu trữ tốt và tiện lợi cho người sử dụng, giúp dễ dàng so sánh và đối chiếu thông tin Trong khi đó, các loại hình báo chí khác như phát thanh và truyền hình thường gặp khó khăn trong việc lưu trữ, khiến công chúng khó tiếp cận thông tin một cách hiệu quả.

Báo in là một nguồn tài liệu quý giá giúp lưu trữ tác phẩm và tra cứu thông tin chính sách y tế dễ dàng qua nhiều năm Với đặc trưng sử dụng chữ viết, hình ảnh và đồ thị trên giấy, báo in không chỉ cung cấp thông tin mà còn tạo điều kiện cho người đọc chủ động tiếp cận kiến thức Các nhóm công chúng tham gia phản biện chính sách có cơ hội đọc và tìm hiểu sâu về chính sách y tế cũng như các hoạt động phòng, chống tác hại thuốc lá từ các ban ngành, đoàn thể ở cả trung ương và địa phương trước khi đưa ra ý kiến thảo luận.

Tờ báo được thiết kế hoàn chỉnh về khuôn khổ và hình thức, phù hợp với thị hiếu của độc giả, giúp họ dễ dàng lật, giở và tìm kiếm thông tin mà không gặp trở ngại.

Báo in đóng vai trò quan trọng trong việc truyền thông các chính sách y tế, đặc biệt là trong công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá Thông qua báo chí, công chúng nhận được thông tin kịp thời, trung thực và khách quan về các chủ trương y tế hiện hành Việc truyền thông sâu rộng về sức khỏe không chỉ giúp nâng cao nhận thức của người dân mà còn tạo điều kiện cho Đảng, Nhà nước và ngành y tế có những quyết sách phù hợp, từ đó góp phần cải thiện sức khỏe cộng đồng.

Báo in không chỉ là công cụ thông tin mà còn đóng vai trò giám sát và phản biện chính sách, pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá Qua việc cung cấp thông tin trung thực và chất lượng, báo in góp phần hoàn thiện các chính sách pháp luật liên quan Đội ngũ phóng viên chuyên trách lĩnh vực y tế không chỉ tiếp nhận thông tin từ Đảng, Nhà nước mà còn nghiên cứu thực trạng và hợp tác với các chuyên gia y tế để đưa ra những đánh giá và lập luận hợp lý về công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá.

Trong bài viết này, chúng tôi sẽ điểm qua 30 hệ thống cơ sở khám chữa bệnh và cộng đồng, phân tích những nơi hoạt động hiệu quả cũng như những nơi còn hạn chế và thiếu sót Mỗi tác phẩm sẽ phản ánh rõ nét những vấn đề này để nâng cao nhận thức và cải thiện chất lượng dịch vụ y tế.

1.3.2 Báo điện tử Đa phương tiện truyền thông

Theo xu hướng phát triển hiện nay, bài báo đa phương tiện sẽ trở thành một phần quan trọng của báo điện tử Thay vì chỉ sử dụng hình ảnh và văn bản, bài viết còn tích hợp video, clip, băng audio, biểu đồ, đồ thị, hoạt hình và trình diễn ảnh Sự kết hợp này giúp thông tin trên báo có ưu thế nổi bật so với các loại hình báo chí khác, đóng vai trò thiết yếu trong công tác truyền thông phòng, chống tác hại của thuốc lá.

Tính cập nhập và phi định kỳ

Báo điện tử có ưu thế vượt trội so với các loại hình báo chí khác nhờ tốc độ cập nhật thông tin nhanh chóng và lượng thông tin phong phú, đảm bảo tính thời sự Điều này mang lại sự thuận tiện tối đa cho công chúng, cho phép người làm báo cung cấp thông tin liên tục, trong khi người đọc có thể tiếp cận nội dung mọi lúc, mọi nơi qua internet.

Công chúng có thể dễ dàng tương tác với tòa soạn qua phản hồi, giao lưu trực tuyến và hộp thư bạn đọc, tạo ra một kênh thông tin hai chiều gần gũi Người đọc cũng có thể thuận tiện di chuyển giữa các trang báo điện tử nhờ vào các từ khóa có liên kết, giúp tìm kiếm và tham khảo nội dung liên quan nhanh chóng.

Khá năng lưu trữ và dề tìm kiểm thông tin

Công nghệ đã cách mạng hóa việc lưu trữ, sao chép và chia sẻ dữ liệu trên internet, giúp người dùng thực hiện các thao tác này dễ dàng và nhanh chóng hơn Ngoài ra, báo điện tử cung cấp cho công chúng một nguồn thông tin phong phú từ nhiều nguồn khác nhau, đồng thời tạo ra các chủ đề thông tin theo dòng sự kiện Các công cụ tìm kiếm hỗ trợ người dùng tìm kiếm thông tin một cách hiệu quả.

31 với từ khóa được đính kèm trên môi trang báo điện tử, độc giả cũng có thê đọc lại nhiều lần bài báo với thao tác đon giản.

Một trang báo điện tử hoàn chỉnh được mô tả như một cấu trúc không gian mở, phục vụ cho nhiều đối tượng độc giả và tích lũy thông tin qua thời gian Nó đặc trưng bởi tính tương tác hai chiều giữa tòa soạn và độc giả, cho phép chia sẻ thông tin nhanh chóng Bên cạnh đó, trang báo còn cung cấp dịch vụ đa phương tiện phong phú, bao gồm các hình thức nghe, nhìn và đọc.

Chỉ thị số 52-CT/TW ngày 22/7/2005 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khẳng định những ưu điểm nổi bật của báo điện tử, bao gồm khả năng cung cấp thông tin phong phú, tương tác nhanh chóng và không bị giới hạn bởi không gian, thời gian hay biên giới quốc gia Báo điện tử đã đóng góp quan trọng vào việc tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, đồng thời nâng cao dân trí và đáp ứng nhu cầu thông tin của người dân.

Tiêu chí đánh giá chất lượng truyền thông phòng chống tác hại của thuốc lá

Đánh giá chất lượng công tác truyền thông phòng chống tác hại của thuốc lá có thể được thực hiện thông qua việc phân tích nội dung và hình thức của các tác phẩm được đăng tải Sự tác động của các tác phẩm này đến công chúng tiếp nhận là yếu tố quan trọng để xác định hiệu quả của chiến dịch truyền thông.

Để đảm bảo chất lượng nội dung của tác phẩm báo chí, cần đạt được các tiêu chí quan trọng như thông tin phải chính xác, khách quan và trung thực Bên cạnh đó, thông tin cũng cần được chọn lọc kỹ lưỡng, mang tính đặc sắc và hấp dẫn để thu hút sự chú ý của độc giả.

Để thực hiện chiến dịch truyền thông phòng chống tác hại của thuốc lá hiệu quả, cần cung cấp thông tin đúng thời điểm và giai đoạn, dễ hiểu và thiết thực, cùng với tần suất đưa tin hợp lý Điều này yêu cầu các nhà báo, phóng viên và tòa soạn phải có kiến thức vững về y tế và vấn đề truyền thông liên quan đến thuốc lá.

Tác phẩm cần đáp ứng các tiêu chí hình thức như sử dụng thể loại phù hợp với nội dung và phải có tính hấp dẫn để thu hút sự quan tâm của công chúng.

Thời lượng và thời điểm tuyên truyền là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả truyền thông phòng chống tác hại của thuốc lá trên báo chí Tùy thuộc vào từng giai đoạn và chiến dịch, thông tin về phòng chống thuốc lá có thể tăng hoặc giảm Các phóng viên và biên tập viên cần đảm bảo thông tin ngắn gọn, súc tích và phù hợp với tâm lý công chúng Thời điểm tuyên truyền cũng cần phải chính xác, phản ánh đúng thực trạng sử dụng thuốc lá Những người làm truyền thông cần hiểu rõ mức độ sử dụng thuốc lá hiện nay để đưa ra cảnh báo hợp lý và thực hiện truyền thông một cách đúng mực.

Quỹ Phòng, chống tác hại của thuốc lá đã tổ chức các hoạt động nhằm nâng cao sự quan tâm của báo chí đối với công tác phòng chống tác hại của thuốc lá Mục tiêu là ghi nhận, cổ vũ và động viên các phóng viên, biên tập viên và cộng tác viên báo chí tích cực tham gia vào công tác truyền thông về vấn đề này.

Bộ Y tế phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông hàng năm tổ chức các cuộc thi viết nhằm nâng cao nhận thức về phòng chống tác hại của thuốc lá Đồng thời, các buổi tập huấn và cập nhật thông tin định kỳ cho phóng viên báo chí cũng được tổ chức thường xuyên, nhằm khuyến khích sản xuất nhiều bài viết chất lượng về chủ đề này.

Vài nét về các cơ quan báo chí trong diện khảo sát

1.5.1 Báo Sức khỏe&Đời sổng

Báo Sức khỏe&Đời sống, tiền thân là báo Sức khỏe, được thành lập vào ngày 10/10/1961 như một ấn phẩm của Nhà xuất bản Y học, với mục tiêu chính là tuyên truyền các hoạt động ngành y tế và phổ biến kiến thức y học cho nhân dân Để thích ứng với sự phát triển của ngành y tế và tình hình chính trị xã hội, vào ngày 9/10/1995, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 1626/BYT - QĐ, tách Báo Sức khỏe khỏi Nhà xuất bản Y học, chính thức thành lập Báo Sức khỏe&Đời sống trực thuộc Bộ Y tế.

Báo Sức khỏe&Đời sống không ngừng nâng cao chất lượng và số lượng phát hành, hiện phát hành 4 kỳ mỗi tuần với 16 trang, kích thước 29x42cm vào các ngày thứ 3, 5, 7 và chủ nhật Để đáp ứng nhu cầu độc giả, báo đã giới thiệu thêm các ấn phẩm mới như Cuối tuần, Cuối tháng, Dân tộc thiểu số & miền núi, Y tế thôn bản, tổng cộng 25 số mỗi tháng Phiên bản điện tử tại địa chỉ suckhoedoisong.vn cũng đã nhanh chóng gia nhập thị trường báo điện tử, mở rộng phạm vi tiếp cận trong nước và quốc tế Là cơ quan ngôn luận của Bộ Y tế, báo Sức khỏe&Đời sống thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực y tế và các vấn đề liên quan đến sức khỏe cộng đồng.

Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) là cơ quan thông tấn thuộc Chính phủ, ra đời vào ngày 15/9/1945 Sự kiện này đánh dấu sự xuất hiện của hãng thông tấn đầu tiên tại Việt Nam, mang tên "Việt Nam Thông tấn xã" TTXVN đã công bố toàn văn Tuyên ngôn Độc lập cùng danh sách Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thông qua các bản tin bằng ba ngôn ngữ, trong đó tiếng Việt được ký hiệu là VNTTX.

Việt Nam Thông tấn xã (VNA) là cơ quan thông tin chính thức của nước Việt Nam, được thành lập để thông báo với thế giới về sự ra đời của đất nước Vào ngày 12/5/1977, Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 84/UBTVQH hợp nhất Thông tấn xã Giải phóng (TTXGP) với VNTTX, đổi tên thành TTXVN TTXVN hiện nay là hãng thông tấn duy nhất tại Việt Nam, với trụ sở đặt tại số 5, Lý Thường Kiệt, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

TTXVN luôn nỗ lực đổi mới để trở thành một hãng thông tấn uy tín trong khu vực, theo mô hình tổ hợp truyền thông hiện đại và đa dạng Báo điện tử VietnamPlus, một trong những website thông tin hàng đầu tại Việt Nam, cung cấp nội dung bằng 6 thứ tiếng: Việt, Anh, Trung, Pháp, Tây Ban Nha và Nga Đứng đầu trong việc đổi mới công nghệ thông tin, VietnamPlus sở hữu hệ thống cơ sở dữ liệu khổng lồ, tích hợp nội dung số hóa của TTXVN với hàng triệu tin bài và hình ảnh, hỗ trợ tìm kiếm thông tin hiệu quả.

Vào ngày 24/10/1957, Báo Thủ đô ra mắt số đầu tiên với định dạng in đen trắng, kích thước 30x40cm, đánh dấu sự ra đời của tờ báo Hànộimới Đến ngày 9/12/1958, Thành ủy Hà Nội ban hành Thông tư số 22/TT-ĐBHN, hợp nhất Báo Thủ đô và Hà Nội hàng ngày thành một tờ báo chung cho Thủ đô Hà Nội Để phù hợp với tình hình mới, vào đầu năm 1968, Báo Thời mới và Báo Thủ đô Hà Nội đã hợp nhất, tạo thành Báo Hànộimới Trụ sở của báo đặt tại số 44 Lê Thái Tổ, Hà Nội, và được coi là vũ khí chính trị quan trọng.

36 tư tưởng săc bén của Đảng bộ và chính quyên Thủ đô Hà Nội, người bạn thân thiết của nhân dân Thủ đô.

Theo Nghị quyết số 15/QH/2008 của Quốc hội khóa XII, địa giới Thủ đô Hà Nội được điều chỉnh, dẫn đến việc hợp nhất Báo Hànộimới và Báo Hà Tây thành báo Đảng Thủ đô mang tên Hànộimới Trước khi hợp nhất, hai tờ báo đã có những hoạt động và đóng góp riêng biệt trong việc thông tin và tuyên truyền.

Sau khi hợp nhất, Báo Hànộimới còn lại 4 ấn phẩm chính: Hànộimới hằng ngày, Hànộimới điện tử, Hànộimới cuối tuần và Hànội ngày nay Báo Hànộimới đã phát triển mạnh mẽ trong việc tuyên truyền các chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Đồng thời, báo cũng tích cực hợp tác với ngành y tế trong công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Thủ đô.

Trong chương 1, tác giả xây dựng khung lý thuyết về thuốc lá, bao gồm khái niệm, phòng chống và tác hại của nó Đồng thời, tác giả làm rõ quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước trong công tác truyền thông nhằm phòng chống tác hại của thuốc lá, được thể hiện qua Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá.

Trong chương này, tác giả nhấn mạnh vai trò quan trọng của báo chí trong công tác truyền thông phòng chống tác hại của thuốc lá, đồng thời đề xuất các tiêu chí để đánh giá chất lượng truyền thông trong lĩnh vực này Với chức năng cung cấp thông tin và định hướng dư luận, báo chí đã xây dựng chiến lược tuyên truyền “mưa dầm thấm lâu”, nhằm nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của cộng đồng về tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe và môi trường.

Trong chương tiếp theo, luận văn sẽ khảo sát nội dung và hình thức chuyển tải thông tin về truyền thông phòng, chống tác hại của thuốc lá trên ba báo: Sức khỏe&Đời sống, Hànộimới, và VietnamPlus Nghiên cứu sẽ phân tích các bài viết từ năm 2018 đến 2020 nhằm cung cấp cái nhìn tổng quát hơn về vấn đề truyền thông phòng chống tác hại của thuốc lá.

NỘI DUNG, HÌNH THỨC THÊ HIỆN THÔNG TIN TRUYỀN THÔNG PHÒNG CHỐNG TÁC HẠI CỦA THUỐC LÁ TRÊN 3 BÁO sức KHỎE&ĐỜI SỐNG, HÀNỘIMỚI, VIETNAMPLUS

Ngày đăng: 29/12/2021, 09:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bộ Chính trị (2005), “Nghị Quyết số 46-NQ/TW” về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dãn trong tình hình mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghị Quyết số 46-NQ/TW
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
5. Bộ Y tế (2007), Quyết định số 02/2007/QĐ-BYT của Bộ Y tế QuyA r ? rđịnh vê vệ sinh an toàn đôi với sản phâm thuôc lá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 02/2007/QĐ-BYT của Bộ Y tế Quy"A r ? "r
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2007
15. Quốc hội (2013), Luật số 09/2012/QH13 ngày 18/06/2012 về Phòng, chổng tác hại của thuốc lá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật" số
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2013
16. Bộ Y tế (2015), Bảng phân loại quốc tế bệnh tật ICD10 Tập 1, 2, Nxb. Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảng phân loại quốc tế bệnh tật ICD10 Tập 1, 2
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nxb. Y học
Năm: 2015
17. Đức Dũng (2001, tái bản: 2002, 2003, 2004), Viết báo như thế nào?, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viết báo như thế nào
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
18. Nguyễn Văn Dững (2001), Báo chí những diêm nhìn từ thực tiễn, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí những diêm nhìn từ thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb. Văn hóa Thông tin
Năm: 2001
19. Nguyễn Văn Dũng (2012), Cơ sở lỷ luận Bảo chí, Nxb. Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lỷ luận Bảo chí
Tác giả: Nguyễn Văn Dũng
Nhà XB: Nxb. Lao Động
Năm: 2012
20. Nguyễn Văn Dững (chủ biên), TS. Đỗ Thị Thu Hằng (2012), Truyền thông: lý thuyết và kỹ năng cơ bản, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông: lý thuyết và kỹ năng cơ bản
Tác giả: Nguyễn Văn Dững (chủ biên), TS. Đỗ Thị Thu Hằng
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2012
21. Nguyễn Văn Dừng (chủ biên) (2011), Báo chỉ Truyền thông hiện đại, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chỉ Truyền thông hiện đại
Tác giả: Nguyễn Văn Dừng (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
22. Phạm Mạnh Hùng (1999), Y tế Việt Nam trong quá trình đổi mới, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y tế Việt Nam trong quá trình đổi mới
Tác giả: Phạm Mạnh Hùng
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 1999
23. Vũ Quang Hào (2009), Ngôn ngữ Báo chí, Nxb Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ Báo chí
Tác giả: Vũ Quang Hào
Nhà XB: Nxb Thông tấn
Năm: 2009
24. Vũ Đình Hòe (1999), Truyền thông đại chúng trong công tác lãnh đạo và quán lý, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông đại chúng trong công tác lãnh đạo và quán lý
Tác giả: Vũ Đình Hòe
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
25. Phạm Mạnh Hùng (chủ biên) (1999), Y tế Việt Nam trong quá trình đôi mới, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y tế Việt Nam trong quá trình đôi mới
Tác giả: Phạm Mạnh Hùng (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1999
26. Đinh Văn Huờng (2004), Tô chức và hoạt động tòa soạn, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tô chức và hoạt động tòa soạn
Tác giả: Đinh Văn Huờng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
27. Đinh Văn Hường (2006), Các thề loại báo chí thông tẩn, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thề loại báo chí thông tẩn
Tác giả: Đinh Văn Hường
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
28. Nguyễn Thành Lợi (2014), Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại, Nxb. Thông tin và Truyền thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại
Tác giả: Nguyễn Thành Lợi
Nhà XB: Nxb. Thông tin và Truyền thông
Năm: 2014
29. Trần Nhâm (1995), Câm nang pháp lý về hoạt động y tế, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câm nang pháp lý về hoạt động y tế
Tác giả: Trần Nhâm
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
30. Nguyễn Trí Nhiệm, Nguyễn Thị Trường Giang (2014), Bảo mạng điện tử đặc trưng và phương pháp sáng tạo, Nxb. Chính trị Quốc gia,- Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo mạng điện tử đặc trưng và phương pháp sáng tạo
Tác giả: Nguyễn Trí Nhiệm, Nguyễn Thị Trường Giang
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2014
31. Trần Quang (2005), Các thê loại bảo chi chinh luận, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thê loại bảo chi chinh luận
Tác giả: Trần Quang
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
49. Trang điện tử Chương trinh Phòng chống tác hại của thuốc lá: http://vinacosh.gov.vn Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Thống kê tổng số tin, bài về truyền thông phòng chống tác hại - Phòng chổng tác hại của thuốc lá trên báo chí
Bảng 2.1. Thống kê tổng số tin, bài về truyền thông phòng chống tác hại (Trang 41)
Bảng 2.2. Thống kê số lượng tin, bài về truyền thông phòng chống tác hại - Phòng chổng tác hại của thuốc lá trên báo chí
Bảng 2.2. Thống kê số lượng tin, bài về truyền thông phòng chống tác hại (Trang 42)
Bảng 2.3. Thông kê sô lượng tin, bài vê truyên thông phòng chông tác hại của - Phòng chổng tác hại của thuốc lá trên báo chí
Bảng 2.3. Thông kê sô lượng tin, bài vê truyên thông phòng chông tác hại của (Trang 44)
Bảng 2.4. Thống kê tổng tần suất xuất hiện các tin, bài về 4 nội dung truyền thông phòng chống tác hại của - Phòng chổng tác hại của thuốc lá trên báo chí
Bảng 2.4. Thống kê tổng tần suất xuất hiện các tin, bài về 4 nội dung truyền thông phòng chống tác hại của (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w