1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Nghiệp Vụ Hải Quan

32 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 65,87 KB

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGÀNH HẢI QUAN VIỆT NAM 

    • 1.1, Khái niệm:

    • 1.2, Lịch sử Hải quan Việt Nam

    • 1.3, Chức năng, nhiệm vụ của Hải quan Việt Nam

    • 1.4, Vai trò của Hải quan đối với nền kinh tế đất nước

  • Chương II: Thủ tục Hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại Việt Nam

    • 2.1, Tổng quan về thủ tục Hải quan

    • 2.2, Thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan

  • CHƯƠNG III, MỘT SỐ NGHIỆP VỤ LIÊN QUAN ĐẾN THỦ TỤC HẢI QUAN

    • 3.1. Xác định trị giá hải quan

      • A, Xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu có chứa phần mềm

    • B, Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu giống hệt

    • C, Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu tương tự

    • D, Phương pháp trị giá khấu trừ

      • *Trường hợp áp dụng:

      • *Nguyên tắc xác định

        •      – Giá bán hàng hóa nhập khẩu là giá bán thực tế của hàng hóa đó tại thị trường Việt Nam.

        •      – Người nhập khẩu và người mua hàng trong nước không có mối quan hệ đặc biệt.

        •      – Mức giá bán tính trên số lượng bán ra lớn nhất và đủ để hình thành đơn giá.

        •      – Hàng hóa được bán ra (bán buôn hoặc bán lẻ) vào ngày sớm nhất ngay sau khi nhập khẩu

    • E, Phương pháp trị giá tính toán

      • *Trường hợp áp dụng:

      • *Căn cứ để xác định trị giá tính toán:

    • F, Phương pháp suy luận

      • * Trường hợp áp dụng:

      • *Không được sử dụng các giá trị sau để xác định trị giá hải quan.

    • 3.2. Chứng nhận xuất xứ

    • 3.3. Phân loại hàng hóa

      • Qui tắc phân loại hàng hoá (áp mã HS) 1:

      • Qui tắc phân loại hàng hoá (áp mã HS) 2:

      • Qui tắc phân loại hàng hoá (áp mã HS) 3:

      • Qui tắc phân loại hàng hoá (áp mã HS) 4:

      • Qui tắc phân loại hàng hoá (áp mã HS) 5:

      • Qui tắc phân loại hàng hoá (áp mã HS) 6:

  • CHƯƠNG IV: PHỤ LỤC

Nội dung

Bài tiểu luận môn Nghiệp Vụ Hải Quan ngành Logistics phù hợp cho các bạn sinh viên tham khảo...........................................................................................................................................

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGÀNH HẢI QUAN VIỆT NAM

Hải quan là ngành chịu trách nhiệm kiểm tra và giám sát hàng hóa, phương tiện vận tải, đồng thời phòng, chống buôn lậu và vận chuyển trái phép qua biên giới Nhiệm vụ của hải quan bao gồm thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu, cũng như đề xuất các biện pháp quản lý Nhà nước liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế Địa bàn hoạt động của hải quan trải dài từ cửa khẩu đường bộ, ga đường sắt quốc tế, cảng biển và cảng hàng không đến các khu chế xuất, kho ngoại quan và các địa điểm kiểm tra hàng hóa xuất nhập khẩu trong lãnh thổ Việt Nam và trên vùng biển.

Cơ quan hải quan có trách nhiệm kiểm tra, giám sát và kiểm soát hàng hóa cũng như phương tiện vận tải trong khu vực hoạt động của mình Chính phủ đã quy định rõ ràng phạm vi hoạt động của hải quan để đảm bảo quản lý hiệu quả.

1.2, Lịch sử Hải quan Việt Nam

Năm 1945, sau thành công của Cách mạng tháng 8, Hồ Chủ tịch đã tuyên đọc bản Tuyên ngôn độc lập, đánh dấu sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Tuy nhiên, đất nước vẫn phải đối mặt với 30 năm chiến tranh khốc liệt và 27 năm gian nan trong quá trình hàn gắn những vết thương do chiến tranh để lại.

Sở Thuế quan và thuế gián thu được thành lập nhằm kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu và duy trì nguồn thu ngân sách cho Hải quan Việt Nam Qua thời gian, cơ quan này đã không ngừng cải thiện và hoàn thiện cơ sở pháp lý, từ việc sử dụng quy định của chính quyền thực dân đến việc ban hành “Điều lệ Hải quan”, Pháp lệnh Hải quan và Luật Hải quan Việt Nam có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2002, phù hợp hơn với thực tiễn đất nước.

Hải quan Việt Nam cam kết thực hiện các mục tiêu phát triển xuất nhập khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, và nâng cao chất lượng dịch vụ trong lĩnh vực du lịch và giao thương quốc tế Để đạt được điều này, ngành Hải quan luôn tuân thủ khẩu hiệu "CHUYÊN NGHIỆP, MINH BẠCH, HIỆU QUẢ", nhằm đảm bảo quản lý hiệu quả và cải thiện chất lượng công tác.

*Một số mốc thời gian lịch sử:

Vào ngày 10-9-1945, theo sắc lệnh số 27-SL của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã ký thành lập “Sở thuế quan và thuế gián thu” Sự kiện này nhằm thiết lập chủ quyền thuế quan của nước Việt Nam độc lập, đảm bảo kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu và duy trì nguồn thu ngân sách từ hoạt động này.

Ngày 03-10-1945, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp ký Sắc lệnh để Sở Thuế quan và thuế gián thu thuộc Bộ Tài chính.

Ngày 09-11-1945, Bộ trưởng Bộ Tài chính Phạm Văn Đồng ký Nghị định số 48-TC "ấn định để lập nhập cảng, xuất cảng các hàng hóa".

Vào ngày 05-02-1946, Bộ trưởng Bộ Tài chính Phạm Văn Đồng đã ký Nghị định số 192-TC, quy định về tổ chức nội bộ của Sở Thuế quan và Thuế gián thu Theo đó, Sở này được chia thành ba bộ: Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ.

Vào ngày 29 tháng 5 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 75-SL nhằm tổ chức Bộ Tài chính, trong đó xác định Bộ Tài chính bao gồm 5 Nha, với Nha Thuế quan và Thuế gián thu là cơ quan đứng đầu Do đó, Sở Thuế quan và Thuế gián thu đã được đổi tên thành Nha Thuế quan và Thuế gián thu.

Vào ngày 14 tháng 7 năm 1951, Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến đã ký Nghị định số 54-NĐ, quy định về tổ chức của Bộ Tài chính Theo đó, Nha Thuế quan và Thuế gián thu được hợp nhất thành Phòng Thuế xuất nhập khẩu thuộc Sở Thuế.

Ngày 14-12-1954, Bộ trưởng Bộ Công thương Phan Anh ký Nghị định số 136-BCT/KB/NĐ thành lập Sở Hải quan thuộc Bộ Công thương.

Ngày 06-4-1955, Bộ trưởng Bộ Công thương Phan Anh ký Nghị định số 73/BCT-KB-NĐ quy định nhiệm vụ, quyền hạn, bộ máy tổ chức của Ngành Hải quan.

Từ ngày 15 đến 20 tháng 9 năm 1955, Quốc hội khóa I đã quyết định tách Bộ Công thương thành hai bộ riêng biệt: Bộ Tài chính và Bộ Thương Nghiệp Sở Hải quan Trung ương thuộc Bộ Thương Nghiệp.

Từ ngày 16 đến 29 tháng 4 năm 1958, Kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa I đã quyết định chia tách Bộ Thương nghiệp thành hai bộ riêng biệt: Bộ Nội Thương và Bộ Ngoại Thương Sở Hải quan Trung ương được đặt trực thuộc Bộ Ngoại Thương.

Ngày 27-02-1960, Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng ký Nghị định số 03-CP ban hành Điều lệ Hải quan.

Vào ngày 17 tháng 2 năm 1962, Bộ Ngoại thương đã ban hành Quyết định số 490/BNT-TCCB, chính thức đổi tên Sở Hải quan Trung ương thành Cục Hải quan Trung ương Đồng thời, các Phân sở Hải quan được đổi thành Phân cục Hải quan, và Chi sở được đổi thành Chi cục.

Ngày 01-8-1967, Bộ trưởng Bộ Ngoại thương Phan Anh ký Quyết định số 540/BNgT-TCCB thành lập tổ chức nghiên cứu ngoại thương.

Từ ngày 02 tháng 5 năm 1975, Đoàn công tác Hải quan đã trở về từ vùng giải phóng, cùng với các cán bộ miền Bắc, tổ chức tiếp nhận các cơ sở của Tổng Nha thuế Ngụy tại Sài Gòn và các khu vực mới giải phóng ở Nam Bộ.

Vào ngày 11 tháng 7 năm 1975, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ban hành Quyết định số 09-QĐ để thành lập Cục Hải quan Miền Nam Việt Nam thuộc Tổng nha Ngoại thương Đến ngày 15 tháng 1 năm 1976, Bộ Ngoại thương đã xác nhận rằng Cục Hải quan Miền Nam Việt Nam được quản lý bởi Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Ngày 12-8-1976, Hội nghị Hải quan toàn quốc lần thứ I họp tại TP Hồ Chí Minh đã thống nhất tổ chức và hoạt động của Hải quan cả nước.

Vào ngày 25 tháng 4 năm 1984, Nghị quyết số 68/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng được thực hiện nhằm tăng cường công tác chống buôn lậu và thành lập Tổng cục Hải quan Tiếp theo, Nghị quyết số 547/NQ-HĐNN ngày 30 tháng 8 năm 1984 của Hội đồng Nhà nước đã phê chuẩn việc thành lập Tổng cục Hải quan, chính thức ra mắt vào ngày 20 tháng 10 năm 1984 dưới sự chỉ đạo của Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.

Tô Hữu ký Nghị định số 139/HĐBT quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức của Tổng cục Hải quan Tổng cục Hải quan trực thuộc Chính phủ.

Ngày 11-5-1985, Tổng cục trưởng TCHQ ký Quyết định số 387/TCHQ- TCCB đổi tên Chi cục Hải quan tỉnh, thành phố thành Hải quan tỉnh, thành phố.

Thủ tục Hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại Việt Nam

Xác định trị giá hải quan

3.1.1 Khái niệm trị giá hải quan

Trị giá hải quan là giá trị của hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu, được sử dụng để tính thuế và thống kê hải quan Đối với hàng nhập khẩu, trị giá hải quan là giá thực tế phải trả tại cửa khẩu nhập đầu tiên, dựa trên Hiệp định chung về thuế quan và thương mại hoặc các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết.

3.1.2 Phương pháp xác định trị giá hải quan

A, Xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu có chứa phần mềm

Trị giá hải quan cho hàng hóa nhập khẩu là giá trị thực tế đã thanh toán cho hàng hóa, không bao gồm giá trị của phần mềm dùng cho thiết bị xử lý dữ liệu Trong trường hợp này, trị giá của phần mềm sẽ được tách riêng và không được tính vào trị giá của phương tiện trung gian trên hóa đơn thương mại.

Trị giá hải quan là giá trị thực tế đã thanh toán hoặc sẽ thanh toán cho hàng hóa nhập khẩu, bao gồm cả trị giá phần mềm và chi phí ghi hoặc cài đặt phần mềm vào hàng hóa.

 Trên hóa đơn thương mại, trị giá của phần mềm không được tách riêng với trị giá của phương tiện trung gian

 Trị giá thực thanh toán hay sẽ phải thanh toán cho phần mềm có liên quan đến các khoản điều chỉnh cộng.

 Phần mềm được ghi, cài đặt hoặc tích hợp trong các hàng hóa nhập khẩu không phải là phương tiện trung gian.

B, Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu giống hệt – Trường hợp áp dụng: Nếu không xác định được trị giá hải quan theo phương pháp trị giá giao dịch quy định tại Điều 6 Thông tư này thì trị giá hải quan của hàng hóa nhập khẩu được xác định theo phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu giống hệt.

Phương pháp trị giá giao dịch áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu được thực hiện tương tự như đối với hàng hóa nhập khẩu tương tự.

C, Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu tương tự Nếu không xác định được trị giá hải quan theo 2 phương pháp nêu trên. Thì trị giá hải quan của hàng hóa nhập khẩu được xác định theo phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu tương tự Với điều kiện hàng hóa nhập khẩu tương tự đã được cơ quan hải quan chấp nhận xác định trị giá hải quan theo phương pháp trị giá giao dịch Và có cùng các điều kiện mua bán, điều kiện về thời gian xuất khẩu với hàng hóa nhập khẩu đang xác định trị giá hải quan.

Nếu không tìm thấy lô hàng nhập khẩu tương tự với cùng điều kiện mua bán như lô hàng đang xác định trị giá hải quan, có thể lựa chọn lô hàng nhập khẩu khác Tuy nhiên, lô hàng này cần được điều chỉnh để phù hợp với cùng điều kiện mua bán.

D, Phương pháp trị giá khấu trừ

Nếu không thể xác định trị giá hải quan bằng các phương pháp đã nêu, thì trị giá hải quan cho hàng hóa nhập khẩu sẽ được xác định theo phương pháp trị giá khấu trừ.

Không áp dụng phương pháp này nếu hàng hóa được lựa chọn để xác định đơn giá bán thuộc một trong các trường hợp sau:

Sản phẩm chưa được phân phối trên thị trường nội địa Việt Nam hoặc việc bán hàng hóa không được ghi chép đầy đủ trong chứng từ và sổ sách kế toán, theo quy định của pháp luật về kế toán tại Việt Nam.

 Có liên quan đến khoản trợ giúp do bất kỳ người nào cung cấp.

Giá bán hàng hóa nhập khẩu trên thị trường Việt Nam được xác định theo những nguyên tắc sau:

– Giá bán hàng hóa nhập khẩu là giá bán thực tế của hàng hóa đó tại thị trường Việt Nam.

Khi không có giá bán thực tế của hàng hóa nhập khẩu, cần xác định trị giá hải quan bằng cách sử dụng giá bán thực tế của hàng hóa tương tự hoặc giống hệt đang được bán trên thị trường Việt Nam, với điều kiện hàng hóa đó còn nguyên trạng như khi nhập khẩu.

Hàng hóa nhập khẩu còn nguyên trạng là những sản phẩm không bị thay đổi về hình dạng, đặc điểm, tính chất hay công dụng sau khi nhập khẩu Điều này có nghĩa là giá trị của hàng hóa nhập khẩu cũng không bị tăng hay giảm.

– Người nhập khẩu và người mua hàng trong nước không có mối quan hệ đặc biệt.

– Mức giá bán tính trên số lượng bán ra lớn nhất và đủ để hình thành đơn giá.

Mức giá bán ra cao nhất được xác định dựa trên số lượng hàng hóa bán ra lớn nhất trong các giao dịch thương mại đầu tiên ngay sau khi nhập khẩu.

– Hàng hóa được bán ra (bán buôn hoặc bán lẻ) vào ngày sớm nhất ngay sau khi nhập khẩu

Hàng hóa phải được bán trong vòng 90 ngày kể từ ngày nhập khẩu, với ngày bán sớm nhất là ngay sau khi hàng hóa được nhập khẩu Để xác định đơn giá, cần có số lượng hàng hóa đủ để hình thành đơn giá, tối thiểu là 10% lượng hàng hóa trong lô hàng nhập khẩu.

E, Phương pháp trị giá tính toán

Nếu không thể xác định trị giá hải quan theo các phương pháp quy định, trị giá hải quan của hàng hóa nhập khẩu sẽ được xác định theo phương pháp trị giá tính toán.

Trị giá tính toán của hàng hóa nhập khẩu bao gồm:

– Chi phí trực tiếp để sản xuất ra hàng hóa nhập khẩu.

Chi phí chung và lợi nhuận phát sinh từ hoạt động bán hàng hóa cùng phẩm cấp hoặc chủng loại với hàng hóa nhập khẩu cần được xác định trị giá Những khoản lợi nhuận và chi phí chung này phải được xem xét một cách tổng thể trong quá trình tính toán giá trị hàng hóa nhập khẩu từ nước xuất khẩu vào Việt Nam.

Chứng nhận xuất xứ

3 2.1 Khái niệm xuất xứ hàng hóa

Xuất xứ hàng hóa xác định là nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất toàn bộ sản phẩm hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cuối cùng Điều này đặc biệt quan trọng khi hàng hóa được sản xuất qua nhiều quốc gia hoặc vùng lãnh thổ khác nhau.

3 2.2 Quy tắc xuất xứ hàng hóa

Các khu vực thương mại tự do được kỳ vọng sẽ thúc đẩy tự do hóa thương mại thông qua việc giảm thuế cho hàng hóa xuất xứ từ các nước thành viên Tuy nhiên, quá trình tự do hóa không diễn ra tự động, vì việc cắt giảm thuế phụ thuộc vào việc tuân thủ các quy tắc xuất xứ (ROO) áp dụng cho hàng nhập khẩu với nhiều mục đích khác nhau.

– Xác định hàng hoá nhập khẩu thuộc diện được hưởng ưu đãi thương mại (như ưu đãi thuế quan, các biện pháp phi thuế quan…);

Để thực thi các biện pháp thương mại như thuế chống bán phá giá, thuế đối kháng và biện pháp tự vệ đối với hàng hóa xuất xứ từ một số quốc gia nhất định, đồng thời phục vụ công tác thống kê thương mại, cần xác định lượng và trị giá nhập khẩu từ từng nguồn khác nhau.

– Để phục vụ việc thực thi các quy định pháp luật về nhãn và ghi nhãn hàng hoá;

– Để phục vụ các hoạt động mua sắm của chính phủ theo quy định của pháp luật quốc gia đó và pháp luật quốc tế.

Quy tắc xuất xứ đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tính hợp lệ của hàng hóa nhập khẩu để được hưởng thuế ưu đãi Nếu không có quy tắc này, hiện tượng thương mại chệch hướng sẽ khó kiểm soát, khi hàng hóa từ các quốc gia không tham gia FTA có thể vào khu vực FTA qua các nước thành viên với mức thuế thấp nhất.

Quy tắc xuất xứ không chỉ là công cụ kỹ thuật cho việc thực thi các hiệp định thương mại tự do (FTA) mà còn đóng vai trò quan trọng trong chính sách thương mại Tuy nhiên, việc tuân thủ quy tắc này có thể dẫn đến việc tăng chi phí cho doanh nghiệp, bao gồm cả chi phí giấy tờ và kế toán.

Phân loại hàng hóa

Phân loại hàng hóa là quá trình xác định tên gọi và mã số hàng hóa dựa trên các đặc điểm như thành phần, cấu tạo, tính chất lý hóa, công dụng, quy cách đóng gói và các thuộc tính khác Việc này tuân theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam.

3 3.2 Quy tắc phân loại hàng hóa

Qui tắc phân loại hàng hoá (áp mã HS) 1:

Tên của các phần, chương hoặc phân chương chỉ nhằm mục đích hỗ trợ việc tra cứu mã Hs Để đảm bảo tính pháp lý, việc phân loại hàng hóa cần dựa vào nội dung cụ thể của từng nhóm, cũng như các chú giải liên quan và các quy tắc hiện hành, trừ khi có yêu cầu khác từ các nhóm hoặc chú giải đó.

Qui tắc phân loại hàng hoá (áp mã HS) quy định rằng những mặt hàng chưa hoàn chỉnh nhưng có đặc trưng cơ bản của hàng hóa hoàn chỉnh cũng thuộc cùng một nhóm Tương tự, hàng hóa hoàn chỉnh hoặc đã có đặc trưng cơ bản nhưng chưa lắp ráp hoặc tháo rời cũng được phân loại vào nhóm đó Ngoài ra, nếu một nguyên liệu hoặc chất thuộc về một nhóm nào đó, thì hỗn hợp hoặc hợp chất của nguyên liệu đó với các nguyên liệu khác cũng sẽ thuộc nhóm này Hàng hóa được làm hoàn toàn hoặc một phần từ một loại nguyên liệu hay chất sẽ được phân loại trong cùng nhóm, trong khi việc phân loại hàng hóa làm từ hai loại nguyên liệu hay chất trở lên phải tuân theo quy tắc 3.

Qui tắc phân loại hàng hoá (áp mã HS) 3:

Khi áp dụng quy tắc 2(b), hàng hóa có thể thuộc nhiều nhóm khác nhau sẽ được phân loại theo nguyên tắc như sau: a) Hàng hóa sẽ được xếp vào nhóm có mô tả cụ thể và đặc trưng nhất thay vì nhóm có mô tả khái quát, trừ khi các nhóm liên quan chỉ đến một phần nguyên liệu trong trường hợp hàng hóa là hỗn hợp hay bộ sản phẩm đóng gói để bán lẻ, khi đó các nhóm này có thể được coi là tương đương b) Đối với hàng hóa hỗn hợp hoặc sản phẩm từ nhiều bộ phận, nếu không thể phân loại theo quy tắc 3(a), thì sẽ được phân loại theo nguyên liệu hoặc bộ phận cấu thành chính c) Nếu hàng hóa không thể phân loại theo quy tắc 3(a) hoặc 3(b), thì sẽ được xếp vào nhóm cuối cùng trong thứ tự đánh số của các nhóm tương đương.

Qui tắc phân loại hàng hoá (áp mã HS) 4:

Hàng hóa không thể phân loại theo đúng các qui tắc trên đây thì được phân loại vào nhóm phù hợp với loại hàng hóa giống chúng nhất.

Qui tắc phân loại hàng hoá (áp mã HS) 5:

Các quy định áp dụng cho hàng hóa bao gồm bao máy tính, hộp đựng nhạc cụ, bao súng, hộp đựng dụng cụ vẽ và các loại bao hộp tương tự, được phân loại cùng với sản phẩm khi bán nếu chúng có hình dạng đặc biệt và sử dụng lâu dài Tuy nhiên, quy tắc này không áp dụng cho bao bì có tính chất cơ bản nổi trội hơn hàng hóa bên trong Ngoài ra, bao bì thường dùng cho hàng hóa cũng được phân loại cùng với hàng hóa đó, nhưng không áp dụng cho bao bì rõ ràng có thể sử dụng lặp lại.

Qui tắc phân loại hàng hóa (áp mã HS) 6 yêu cầu việc phân loại hàng hóa vào các phân nhóm phải tuân thủ nội dung cụ thể của từng phân nhóm, các chú giải liên quan và các quy tắc đã nêu, với điều kiện chỉ so sánh các phân nhóm cùng cấp độ Ngoài ra, các chú giải phần và chương cũng được áp dụng, trừ khi có yêu cầu khác trong mô tả của phân nhóm.

Ngày đăng: 27/12/2021, 12:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w