1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU Nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp tại Việt Nam

41 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp tại Việt Nam
Tác giả LS. Đinh Ánh Tuyết
Trường học Văn phòng luật sư IDVN
Thể loại báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 1,56 MB

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I (7)
    • I. Tình hình tranh chấp đầu tƣ quốc tế và giải quyết tranh chấp đầu tƣ quốc tế trên thế giới (7)
    • II. Tình hình giải quyết tranh chấp đầu tƣ quốc tế tại Việt Nam (9)
  • CHƯƠNG II (13)
    • 1. Giới thiệu chung (13)
    • 2. Về định nghĩa tranh chấp đầu tƣ quốc tế (14)
    • 3. Việc xác định trách nhiệm của các cơ quan (15)
    • 4. Cơ chế phối hợp trong giải quyết tranh chấp đầu tƣ quốc tế (18)
    • 5. Các quy định về thuê luật sƣ, chuyên gia kỹ thuật, chỉ định trọng tài, mời nhân chứng và cơ chế tài chính phục vụ giải quyết tranh chấp đầu tƣ quốc tế (23)
  • CHƯƠNG III (26)
    • I. Kết quả đạt đƣợc sau 05 năm thực hiện Quyết định số 04/2014/QĐ-TTg (26)
    • II. Các bất cập, hạn chế trong quá trình thực hiện của Quyết định số 04/2014/QĐ- (27)
      • 3. Về việc phối hợp của Tổ Công tác liên ngành trong giải quyết tranh chấp đầu tƣ quốc tế (30)
      • 4. Đánh giá các quy định tại Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 14/2020/QĐ-TTg (33)
  • CHƯƠNG IV (36)
    • I. Hoàn thiện pháp luật (36)
    • II. Đẩy mạnh công tác phòng ngừa tranh chấp (38)

Nội dung

Tình hình tranh chấp đầu tƣ quốc tế và giải quyết tranh chấp đầu tƣ quốc tế trên thế giới

Lịch sử phát triển của các cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế (ISDS) gắn liền với các cam kết quốc tế về đầu tư, trong đó các Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư song phương (BITs) đóng vai trò quan trọng Các hiệp định này quy định về bảo hộ đầu tư, quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư nước ngoài và quốc gia tiếp nhận đầu tư, cùng với cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các bên ký kết Sự khởi đầu của BITs bắt nguồn từ hiệp định giữa Đức và Pakistan vào năm 1959, nhằm bảo vệ nhà đầu tư khỏi sự đối xử không công bằng và đảm bảo sự bình đẳng.

Sau 60 năm từ khi hiệp định BIT đầu tiên được ký kết, hiện có 2901 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, trong đó 2334 hiệp định đang có hiệu lực Các quốc gia cũng đã ký kết 390 hiệp định đối tác đầu tư và thương mại (TTIP), với 315 hiệp định đang có hiệu lực Các hiệp định này thường có cấu trúc tương tự, bao gồm hai phần chính: quy định về tiêu chuẩn bảo hộ và cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và nhà nước tiếp nhận đầu tư.

(i) nội dung các quyền bao gồm các tiêu chuẩn bảo hộ cho nhà đầu tư nước ngoài:

Thông thường, các tiêu chuẩn bảo hộ cho nhà đầu tư nước ngoài gồm các nội dung sau:

- Đối xử quốc gia (national treatment – NT): đảm bảo cho nhà đầu tư nước ngoài được đối xử công bằng như nhà đầu tư trong nước;

Đối xử tối huệ quốc (Most Favoured Nation - MFN) đảm bảo rằng nhà đầu tư nhận được sự đối xử công bằng và không bị phân biệt so với các nhà đầu tư khác từ các quốc gia thứ ba.

2 Thông tin tại wesite của UNCTAD https://investmentpolicy.unctad.org/international-investment-agreements

Tiêu chuẩn đối xử tối thiểu, hay còn gọi là tiêu chuẩn đối xử chung trong các điều ước quốc tế, đảm bảo rằng nhà đầu tư được hưởng sự đối xử công bằng và đầy đủ (FET), đồng thời được bảo vệ an toàn và đầy đủ (FPS) đối với khoản đầu tư của mình.

Không từ chối công lý (Denial of Justice) xảy ra khi tòa án hoặc cơ quan tư pháp của quốc gia tiếp nhận đầu tư có hành vi phân biệt đối xử, dẫn đến việc thi hành các bản án hoặc phán quyết không công bằng, gây thiệt hại cho nhà đầu tư nước ngoài và tài sản đầu tư của họ.

Không được tước quyền sở hữu của nhà đầu tư, bao gồm việc chiếm hữu, chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc phá hủy tài sản của nhà đầu tư nước ngoài, dù là công khai hay không công khai Hành động này được gọi là tước quyền sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp.

Các điều khoản bảo đảm tự do chuyển lợi nhuận về nước đầu tư quy định rằng quốc gia tiếp nhận đầu tư có quyền điều chỉnh việc chuyển tiền trong lãnh thổ của mình, trừ khi có điều ước quốc tế mà họ tham gia quy định khác Trong các cam kết quốc tế về đầu tư, nguyên tắc tự do chuyển tiền được thể hiện dưới dạng cho phép chuyển tiền vào hoặc ra khỏi lãnh thổ nước tiếp nhận, hoặc liệt kê các loại chuyển tiền được bảo hộ, quyền chuyển đổi tiền tệ và các ngoại lệ liên quan.

(ii) Các điều khoản về giải quyết tranh chấp

Ngoài việc quy định các quyền, các cam kết quốc tế về đầu tư còn đưa ra quy định rõ ràng về nội dung và quy trình giải quyết tranh chấp đầu tư, bao gồm các điều khoản liên quan.

Các quy tắc trọng tài được áp dụng bao gồm các quy tắc theo Công ước về giải quyết tranh chấp đầu tư giữa các quốc gia và công dân quốc gia khác (ICSID), quy tắc của Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Luật Thương mại Quốc tế (UNCITRAL), quy tắc trọng tài của Phòng Thương mại Quốc tế (ICC), quy tắc trọng tài của Phòng Thương mại Stockholm (SCC) hoặc bất kỳ quy tắc trọng tài nào được các Bên thỏa thuận.

- Các quy định về Luật áp dụng trong giải quyết tranh chấp;

Việc lựa chọn trọng tài trong các Hiệp định Đầu tư song phương (BITs) được quy định rõ ràng, thường là do các Bên tranh chấp tự quyết định Mỗi bên có quyền chọn một trọng tài, trong khi trọng tài thứ ba sẽ được thống nhất lựa chọn bởi cả hai Bên.

Hiệp định bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EVIPA) đánh dấu bước ngoặt quan trọng với cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư hai cấp, bao gồm cấp sơ thẩm và phúc thẩm Cấp phúc thẩm có nhiệm vụ xem xét lại các quyết định của cấp sơ thẩm, đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong giải quyết tranh chấp Theo quy định của Hiệp định EVFTA, Hội đồng trọng tài sẽ được thành lập để xử lý các khiếu kiện, với 9 thành viên do Ủy ban thương mại chỉ định, trong đó có 3 thành viên là công dân của Liên minh Châu Âu và 3 thành viên là công dân Việt Nam Thời gian nhiệm kỳ của các trọng tài là 4 năm và có thể được tái bổ nhiệm một lần.

Ba thành viên của Ủy ban thương mại là công dân của nước thứ ba Số lượng thành viên có thể được điều chỉnh theo tỷ lệ chia hết cho ba dựa trên quốc tịch Hội đồng sẽ giải quyết các vụ kiện thông qua một Hội đồng gồm ba thành viên, được điều hành bởi công dân của nước thứ ba.

Sự phát triển nhanh chóng của các cam kết quốc tế về đầu tư đã dẫn đến sự đa dạng hóa các cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, cùng với sự gia tăng số lượng vụ tranh chấp này Từ vụ tranh chấp đầu tư quốc tế đầu tiên vào năm 1987 cho đến ngày 31/12/2019, đã có một số lượng đáng kể các vụ ISDS được ghi nhận trên toàn cầu.

Tính đến nay, tổng số vụ việc là 1023, trong đó 674 vụ đã được giải quyết, 343 vụ đang trong quá trình giải quyết và 06 vụ chưa rõ kết quả Trong 198 vụ kiện có phán quyết yêu cầu Nhà nước bồi thường cho nhà đầu tư, có 35 vụ được tuyên bồi thường từ 100-499 triệu USD, 04 vụ từ 500-999 triệu USD và 14 vụ trên 1 tỷ USD Đặc biệt, vụ Yokos có tổng số tiền bồi thường lên đến hơn 450 tỷ USD, là vụ có mức bồi thường cao nhất.

Tình hình giải quyết tranh chấp đầu tƣ quốc tế tại Việt Nam

Đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường tổng vốn đầu tư phát triển xã hội và là động lực chính cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam Nó cũng góp phần đáng kể vào việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước.

Cùng với sự hội nhập quốc tế, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đã phát triển nhanh chóng Tính đến ngày 20/3/2020, Việt Nam có 31.665 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký đạt 370 tỷ USD.

3 Thông tin tại trang thông tin điện tử https://investmentpolicy.unctad.org/

Tính đến nay, vốn thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư nước ngoài ước đạt 215,63 tỷ USD, chiếm 58,3% tổng số vốn đăng ký còn hiệu lực, với 19/21 ngành kinh tế được đầu tư Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng cao nhất Hiện có 136 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại 63 tỉnh, thành phố, trong đó Thành phố Hồ Chí Minh dẫn đầu với 47,5 tỷ USD, tiếp theo là Hà Nội với 34,64 tỷ USD và Bình Dương với 34,61 tỷ USD Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 50-NQ/TW vào ngày 20/8/2019 nhằm hoàn thiện chế độ, chính sách và nâng cao chất lượng hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030, trong bối cảnh có nhiều thay đổi quốc tế và gia tăng tranh chấp đầu tư Để thực hiện Nghị quyết này, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 58/NQ-CP vào ngày 27/4/2020, triển khai Chương trình hành động theo Nghị quyết số 50-NQ/TW.

Tranh chấp đầu tư đã trở thành vấn đề quen thuộc với Chính phủ Việt Nam trong những năm gần đây Mặc dù Chính phủ luôn nỗ lực phòng ngừa các vụ kiện, nhưng việc hội nhập quốc tế và ký kết 67 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư đã nâng cao sức hấp dẫn của môi trường đầu tư tại Việt Nam Tuy nhiên, điều này cũng tạo cơ hội cho nhà đầu tư nước ngoài khởi kiện Chính phủ nếu họ cho rằng có vi phạm cam kết bảo hộ đầu tư, trong bối cảnh đầu tư nước ngoài ngày càng quan trọng đối với nền kinh tế quốc gia.

Khi nhà đầu tư khởi kiện, Chính phủ Việt Nam buộc phải tham gia vào các tranh chấp đầu tư quốc tế để bảo vệ quyền lợi hợp pháp Pháp luật Việt Nam, đặc biệt là Luật Đầu tư năm 2014, đã quy định rõ về việc giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và Chính phủ theo các điều ước quốc tế.

7 Số liệu đƣợc đăng tải chính thức tại trang thông tin điện tử https://investmentpolicy.unctad.org/international- investment-agreements/countries/229/viet-nam

8 Điều 14 Luật Đầu tƣ năm 2014 quy định rõ việc giải quyết tranh chấp trong hoạt động đầu tƣ kinh doanh:

1 Tranh chấp liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam được giải quyết thông qua thương lượng, hòa giải Trường hợp không thương lượng, hòa giải được thì tranh chấp được giải quyết tại Trọng tài hoặc Tòa án theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này

Nghị định 15/2015/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam quy định về đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) cho phép giải quyết tranh chấp trong hợp đồng PPP giữa nhà đầu tư nước ngoài và cơ quan có thẩm quyền thông qua hội đồng trọng tài do các bên thỏa thuận, bao gồm cả trọng tài quốc tế Nếu Việt Nam không tham gia vào vụ kiện, điều này có thể được hiểu là Việt Nam đã từ bỏ quyền tự bảo vệ của mình, và hội đồng trọng tài vẫn sẽ được thành lập và đưa ra phán quyết dựa trên yêu cầu và chứng cứ do nguyên đơn cung cấp.

Trong thời gian gần đây, số lượng vụ tranh chấp đầu tư quốc tế tại Việt Nam, trong đó nhà đầu tư nước ngoài kiện Chính phủ và các cơ quan nhà nước, đang gia tăng đáng kể Hiện tại, số vụ tranh chấp mà Chính phủ và các cơ quan nhà nước phải đối mặt đã lên tới hàng chục và có xu hướng tiếp tục tăng.

2 Tranh chấp giữa các nhà đầu tư trong nước, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hoặc giữa nhà đầu tư trong nước, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài với cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam được giải quyết thông qua Trọng tài Việt Nam hoặc Tòa án Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này

3 Tranh chấp giữa các nhà đầu tư trong đó có ít nhất một bên là nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế quy định tại khoản 1 Điều 23 của Luật này được giải quyết thông qua một trong những cơ quan, tổ chức sau đây: a) Tòa án Việt Nam; b) Trọng tài Việt Nam; c) Trọng tài nước ngoài; d) Trọng tài quốc tế; đ) Trọng tài do các bên tranh chấp thỏa thuận thành lập

4 Tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam được giải quyết thông qua Trọng tài Việt Nam hoặc Tòa án Việt Nam, trừ trường hợp có thỏa thuận khác theo hợp đồng hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác

9 Điều 63 Nghị định số 15/2015/NĐ-CP quy định rõ về giải quyết tranh chấp nhƣ sau:

1 Tranh chấp giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư hoặc doanh nghiệp dự án và tranh chấp giữa doanh nghiệp dự án với các tổ chức kinh tế tham gia thực hiện dự án trước hết phải được giải quyết thông qua thương lượng, hòa giải Trường hợp không giải quyết được bằng thương lượng, hòa giải, các bên có thể đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tại tổ chức trọng tài hoặc tòa án Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ các trường hợp quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều này

2 Tranh chấp giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với nhà đầu tư nước ngoài hoặc doanh nghiệp dự án do nhà đầu tư nước ngoài thành lập theo quy định tại Điều 42 Nghị định này trong quá trình thực hiện hợp đồng dự án và các hợp đồng bảo lãnh theo quy định tại Điều 57 Nghị định này đƣợc giải quyết thông qua Trọng tài hoặc Tòa án Việt Nam hoặc hội đồng trọng tài do các bên thỏa thuận thành lập

3 Tranh chấp giữa doanh nghiệp dự án với tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc với các tổ chức kinh tế Việt Nam và tranh chấp giữa các nhà đầu tƣ đƣợc giải quyết theo quy định của Luật Đầu tƣ

4 Tranh chấp đƣợc giải quyết bằng trọng tài theo quy định tại hợp đồng dự án và các hợp đồng liên quan là tranh chấp thương mại Quyết định của trọng tài nước ngoài được công nhận và thi hành theo quy định của pháp luật về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài

Giới thiệu chung

Trong quá trình thực hiện báo cáo nghiên cứu, Chính phủ đã giao Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng dự thảo Quyết định thay thế Quyết định số 04/2014/QĐ-TTg do những bất cập và hạn chế của Quyết định này đã bộc lộ trong bối cảnh tình hình phát triển mới của các vụ tranh chấp ngày càng gia tăng về số lượng, quy mô và sự phức tạp Công tác giải quyết tranh chấp còn mới mẻ đối với các cơ quan và cán bộ Việt Nam, đòi hỏi tính chuyên nghiệp và trách nhiệm cao Ngày 08/4/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 14/2020/QĐ-TTg nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về phối hợp giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, đảm bảo sự đồng bộ và thống nhất của pháp luật, đồng thời tháo gỡ các vướng mắc trong 5 năm qua.

Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 14/2020/QĐ-TTg bao gồm 05 chương và 32 điều, quy định rõ nguyên tắc, nhiệm vụ, quyền hạn và quy trình phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân trong việc giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế Quy chế này áp dụng cho các tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước Việt Nam tại trọng tài quốc tế hoặc cơ quan tài phán khác không thuộc Việt Nam, và không áp dụng cho các khiếu kiện về đầu tư giải quyết tại Việt Nam Có hiệu lực từ 01/6/2020, quy chế mới hứa hẹn sẽ mang lại những thay đổi đáng kể trong nhận thức về giải quyết tranh chấp đầu tư.

Bộ, ngành và địa phương về công tác giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế

Chương này tập trung làm rõ quy định về phối hợp giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế theo hai quyết định quan trọng: Quyết định số 04/2014/QĐ-TTg và Quyết định số 14/2020/QĐ-TTg Các chương tiếp theo sẽ đánh giá những cải tiến mà Quyết định số 14/2020/QĐ-TTg đã thực hiện để khắc phục những vướng mắc và khó khăn trong Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 04/2014/QĐ-TTg, đồng thời chỉ ra những vấn đề cần được giải quyết thêm từ góc nhìn của các chuyên gia.

Về định nghĩa tranh chấp đầu tƣ quốc tế

2.1 Quy chế ban hành kèm Quyết định số 04/2014/QĐ-TTg (Điều 2) định nghĩa tranh chấp đầu tư quốc tế là tranh chấp phát sinh từ việc Nhà đầu tư nước ngoài kiện Chính phủ, Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi chung là Chính phủ Việt Nam) hoặc cơ quan nhà nước, tổ chức được cơ quan nhà nước ủy quyền quản lý nhà nước dựa trên cơ sở:

Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư (BIT) là một điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, nhằm thúc đẩy và bảo vệ đầu tư Hiệp định này bao gồm các quy định về việc giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và Chính phủ Việt Nam thông qua trọng tài quốc tế hoặc cơ quan tài phán nước ngoài có thẩm quyền.

Hợp đồng và thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam hoặc cơ quan nhà nước với nhà đầu tư nước ngoài quy định rằng cơ quan giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng này sẽ là trọng tài quốc tế hoặc cơ quan tài phán nước ngoài có thẩm quyền.

2.2 Quy chế ban hành kèm Quyết định số 14/2020/QĐ-TTg (Điều 2) quy định tranh chấp đầu tư quốc tế là tranh chấp phát sinh từ việc nhà đầu tư nước ngoài kiện Chính phủ, Nhà nước Việt Nam hoặc cơ quan nhà nước, tổ chức được cơ quan nhà nước ủy quyền thực hiện chức năng quản lý nhà nước (sau đây gọi chung là cơ quan nhà nước) theo một trong các trường hợp sau:

Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, cùng với các hiệp định thương mại và điều ước quốc tế khác mà Việt Nam tham gia, được gọi chung là hiệp định đầu tư Những hiệp định này bao gồm các quy định quan trọng về việc giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế thông qua trọng tài quốc tế.

Hợp đồng và thỏa thuận giữa cơ quan nhà nước Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài quy định rằng cơ quan giải quyết tranh chấp phát sinh từ các thỏa thuận này sẽ là trọng tài quốc tế.

Quyết định số 14/2020/QĐ-TTg làm rõ phạm vi phối hợp giải quyết tranh chấp, chỉ áp dụng cho trọng tài quốc tế hoặc cơ quan tài phán ngoài Việt Nam Quyết định này không áp dụng cho việc giải quyết khiếu kiện về đầu tư tại trọng tài, tòa án hoặc cơ quan, tổ chức của Việt Nam theo pháp luật Việt Nam.

Tranh chấp đầu tư quốc tế được xác định dựa trên hai yếu tố chính: (i) Hiệp định đầu tư và (ii) hợp đồng, thỏa thuận giữa cơ quan nhà nước và nhà đầu tư nước ngoài, trong đó quy định việc giải quyết tranh chấp tại trọng tài quốc tế Mặc dù Quyết định 04/2014/QĐ-TTg và Quyết định số 14/2020/QĐ-TTg không có sự khác biệt lớn, nhưng Quyết định số 14/2020/QĐ-TTg làm rõ hơn về phạm vi tranh chấp, giúp xác định rõ khi nào và đối tượng nào áp dụng Quy chế phối hợp khi phát sinh tranh chấp đầu tư quốc tế.

Việc xác định trách nhiệm của các cơ quan

3.1 Theo quy định tại Quy chế ban hành kèm Quyết định số 04/2014/QĐ-TTg quy định Cơ quan chủ trì (là Cơ quan bị kiện, đƣợc xác định tại Điều 5 Quy chế, trường hợp có 02 hoặc nhiều hơn 02 cơ quan bị kiện thì Thủ tướng Chính phủ quyết định Cơ quan chủ trì theo đề xuất của Bộ trưởng Bộ Tư pháp): ngoài việc tiếp nhận, xử lý các thông tin, tài liệu và là đầu mối liên lạc khi nhà đầu tư nước ngoài khởi kiện; Cơ quan chủ trì có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Cơ quan đại diện pháp lý cho Chính phủ và Cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan trong toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp đầu tƣ quốc tế tại trọng tài quốc tế và tiến hành các công việc liên quan khác nhƣ xây dựng chiến lƣợc, kế hoạch giải quyết vụ kiện, cũng nhƣ báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Cơ quan đại diện pháp lý cho Chính phủ và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về các vấn đề liên quan đến tranh chấp đầu tư quốc tế theo Quy chế và theo quy định pháp luật

Cơ quan đại diện pháp lý cho Chính phủ, thuộc Bộ Tư pháp, có nhiệm vụ hỗ trợ Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ trong việc chỉ đạo thống nhất giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế Mục tiêu chính của cơ quan này là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chính phủ Việt Nam cũng như các cơ quan nhà nước Việt Nam, đồng thời là cơ quan chủ trì trong việc xử lý các vụ tranh chấp.

Nhà đầu tư nước ngoài có quyền kiện Chính phủ Việt Nam dựa trên hiệp định bảo hộ đầu tư Khi xảy ra tranh chấp, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ sẽ phân công trách nhiệm phối hợp và hỗ trợ các cơ quan chủ trì trong quá trình giải quyết vấn đề này.

Các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan có trách nhiệm phối hợp kịp thời với Cơ quan chủ trì và Cơ quan đại diện pháp lý cho Chính phủ để giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế Sự phối hợp này cần phù hợp với khả năng chuyên môn và lĩnh vực quản lý chuyên ngành Quyết định 04/2014/QĐ-TTg cũng đã nêu rõ về việc xác định cơ quan chủ trì trong quá trình này.

Cơ quan chủ trì vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế là cơ quan bị kiện, trong trường hợp có hai hoặc nhiều hơn hai cơ quan nhà nước của Việt Nam tham gia.

Trong trường hợp bị kiện trong một vụ tranh chấp đầu tư quốc tế, các cơ quan liên quan cần thống nhất chỉ định một Cơ quan chủ trì Nếu không đạt được sự thống nhất, các cơ quan phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ và thông báo cho Bộ Tư pháp Thủ tướng sẽ quyết định Cơ quan chủ trì dựa trên đề xuất của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, với nguyên tắc chọn cơ quan nhà nước có liên quan nhất và năng lực phù hợp nhất để giải quyết vụ tranh chấp đầu tư quốc tế.

Bộ Tư pháp đóng vai trò là cơ quan chủ trì trong việc giải quyết các tranh chấp đầu tư quốc tế, đặc biệt khi nhà đầu tư nước ngoài kiện Chính phủ Việt Nam dựa trên các hiệp định bảo hộ đầu tư.

Cơ quan nhà nước Việt Nam có trách nhiệm chủ trì đàm phán và đại diện cho Chính phủ Việt Nam trong việc ký kết hợp đồng hoặc thỏa thuận với các nhà đầu tư nước ngoài Đồng thời, cơ quan này cũng là đơn vị giải quyết các tranh chấp đầu tư quốc tế phát sinh từ các hợp đồng và thỏa thuận đã ký kết.

3.2 Tại Quy chế ban hành kèm Quyết định số 14/2020/QĐ-TTg, trách nhiệm và vai trò của các cơ quan chủ trì, cơ quan đại diện pháp lý cho Chính phủ và các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đã đƣợc làm rõ hơn, cụ thể hóa bằng từng đầu việc rõ ràng 10

10 Ví dụ, Điều 6 của Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 14/2020/QĐ-TTg làm rõ các nhiệm vụ của cơ quan chủ trì gồm 15 đầu việc:

1 Tiếp nhận, xử lý các thông tin, tài liệu liên quan đến việc đề nghị thương lượng và khởi kiện của nhà đầu tư nước ngoài

Thủ tướng Chính phủ đã quy định Bộ Tư pháp là cơ quan đại diện pháp lý cho Chính phủ, chịu trách nhiệm chỉ đạo thống nhất công tác giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế Bộ Tư pháp sẽ xây dựng và cập nhật danh sách các chuyên gia pháp lý và tổ chức hành nghề luật sư có thể tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp này Ngoài ra, Bộ cũng sẽ đào tạo và nâng cao năng lực cho cán bộ các bộ, ngành, địa phương về phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, đồng thời phối hợp và hỗ trợ các cơ quan liên quan khi cần thiết.

Trước tình hình nhiều tranh chấp đầu tư quốc tế nảy sinh từ hành vi và biện pháp quản lý đầu tư của chính quyền địa phương và các Bộ, ngành, Quy chế ban hành kèm Quyết định số 14/2020/QĐ-TTg đã có sự điều chỉnh trong việc xác định cơ quan chủ trì Sự thay đổi này nhằm cải thiện quy trình quản lý và giảm thiểu xung đột trong đầu tư quốc tế.

2 Chủ trì tổ chức thương lượng với nhà đầu tư nước ngoài theo cam kết với nhà đầu tư nước ngoài hoặc cam kết quốc tế liên quan của Việt Nam

3 Làm đầu mối liên lạc, trao đổi với nhà đầu tư nước ngoài khởi kiện và với trọng tài quốc tế giải quyết vụ tranh chấp đầu tƣ quốc tế

4 Chủ trì, phối hợp với cơ quan đại diện pháp lý cho Chính phủ và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan trong quá trình giải quyết tranh chấp đầu tƣ quốc tế

5 Chủ trì, phối hợp với cơ quan đại diện pháp lý cho Chính phủ và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan xây dựng chiến lược, lộ trình, các bước giải quyết vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế

Cơ chế phối hợp trong giải quyết tranh chấp đầu tƣ quốc tế

4.1 Theo quy định tại Quy chế ban hành Quyết định số 04/2014/QĐ-TTg , việc phối hợp giải quyết tranh chấp đầu tƣ quốc tế bao gồm 03 giai đoạn nhƣ sau:

- Giai đoạn Nhà đầu tư nước ngoài khiếu nại và tham vấn

- Giai đoạn tranh chấp tại trọng tài quốc tế hoặc cơ quan tài phán nước ngoài có thẩm quyền

- Giai đoạn thi hành phán quyết, quyết định của trọng tài quốc tế hoặc cơ quan tài phán nước ngoài có thẩm quyền

4.1.1 Phối hợp trong giai đoạn Nhà đầu tư nước ngoài khiếu nại và tham vấn

Trong giai đoạn này, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần tập trung vào việc giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật Việt Nam và thực hiện các thủ tục tham vấn, thương lượng theo điều ước quốc tế Đặc biệt, Cơ quan chủ trì cần nỗ lực cao nhất để đảm bảo quá trình giải quyết được hiệu quả và minh bạch.

Để hạn chế khả năng khiếu kiện ra trọng tài quốc tế hoặc cơ quan tài phán nước ngoài, các điều ước quốc tế về đầu tư thường quy định rằng các bên tranh chấp phải thực hiện thủ tục tham vấn và thương lượng trước khi đưa tranh chấp ra giải quyết tại cơ quan tài phán có thẩm quyền.

Trong trường hợp cần thiết, cơ quan giải quyết khiếu nại sẽ chủ động xin ý kiến chấp thuận từ cơ quan cấp trên về phương án giải quyết, sau khi tham khảo ý kiến của Cơ quan đại diện pháp lý cho Chính phủ (Bộ Tư pháp) và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhằm giải quyết dứt điểm vụ việc.

4.1.2 Phối hợp trong giai đoạn tranh chấp tại trọng tài quốc tế

Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa quy định rõ ràng về sự phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế tại Tòa án và Trọng tài Việt Nam Do đó, quá trình giải quyết tranh chấp này cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật tố tụng Việt Nam cùng với các quy tắc trọng tài liên quan.

Cơ quan chủ trì và cơ quan đại diện pháp lý cho Chính phủ cùng các tổ chức, cá nhân liên quan phối hợp trong quy trình tố tụng tại trọng tài quốc tế Quy trình này chủ yếu bao gồm các bước cơ bản sau đây:

- Trả lời thông báo trọng tài;

- Thuê luật sư bảo vệ quyền và lợi ích cho Chính phủ, cơ quan Nhà nước;

- Thành lập Hội đồng trọng tài;

Phối hợp chặt chẽ với luật sư, Hội đồng trọng tài và Nguyên đơn để thống nhất các vấn đề liên quan đến lịch trình tố tụng, luật áp dụng, địa điểm trọng tài và các quy tắc tố tụng khác là rất quan trọng trong quy trình giải quyết tranh chấp.

- Xem xét, nghiên cứu và xây dựng văn bản phản đối thẩm quyền và chia tách vụ kiện;

- Xây dựng Bản Tự bảo vệ của Chính phủ Việt Nam ;

- Tiến hành các bước cung cấp tài liệu;

- Xây dựng Bản Kháng biện của Chính phủ Việt Nam (trong trường hợp HĐTT quyết định có 02 vòng đệ trình bằng văn bản);

- Tham gia (các) Phiên xét xử;

- Tiến hành thực hiện các thủ tục sau (các) Phiên xét xử ;

- Tham gia giải quyết các công việc phát sinh trong toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp tại trọng tài quốc tế

Việc phối hợp giữa các cơ quan theo quy định của Quy chế bàn hành Quyết định số 04/2014/QĐ-TTg được tóm tắt tại Bảng dưới đây :

4.1.3 Phối hợp trong thi hành phán quyết, quyết định của trọng tài quốc tế hoặc cơ quan tài phán nước ngoài có thẩm quyền

Cơ quan chủ trì sẽ tiếp tục hợp tác với Cơ quan đại diện pháp lý của Chính phủ và các luật sư để đưa ra các đề xuất phù hợp cho việc thực hiện Một ví dụ cụ thể là có thể yêu cầu hội đồng trọng tài giải thích các phán quyết hoặc quyết định trọng tài.

Việc công nhận và thi hành quyết định trọng tài nước ngoài phụ thuộc vào quy định pháp luật của quốc gia yêu cầu thi hành, các điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương, bao gồm Công ước New York năm 1958 về công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài, cùng với nguyên tắc "có đi, có lại".

4.2 Theo Quy chế mới ban hành kèm theo Quyết định số 14/2020/QĐ- TTg, về bản chất việc phối hợp giải quyết tranh chấp đầu tƣ quốc tế bao gồm các giai đoạn giống nhƣ quy định tại Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 04/2014/QĐ-TTg Tuy nhiên, Quy chế này đã đặt tên lại các giai đoạn cho phù hợp với bối cảnh thực tiễn trong giải quyết tranh chấp, bao gồm 02 giai đoạn:

- Giai đoạn giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhà đầu tư nước ngoài;

- Giai đoạn giải quyết tranh chấp với nhà đầu tư nước ngoài

4.2.1 Phối hợp trong giai đoạn giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhà đầu tư nước ngoài

Tại Quy chế ban hành Quyết định số 14/2020/QĐ-TTg, việc phối hợp trong giai đoạn này bao gồm các việc:

Cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành giải quyết khiếu nại, tố cáo và vướng mắc theo quy định của pháp luật Việt Nam và các cam kết quốc tế liên quan Nếu không có thẩm quyền giải quyết, cơ quan sẽ hướng dẫn nhà đầu tư nước ngoài gửi khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền phù hợp.

Trong trường hợp không thể giải quyết triệt để khiếu nại, tố cáo hoặc các vướng mắc, cần phối hợp với Bộ Tư pháp, cơ quan đại diện pháp lý cho Chính phủ, để báo cáo Thủ tướng Chính phủ Mục tiêu là đề xuất các giải pháp xử lý và phòng ngừa tranh chấp phát sinh.

4.2.2 Phối hợp trong giai đoạn giải quyết tranh chấp với nhà đầu tƣ nước ngoài

Trong giai đoạn này, khối lượng công việc lớn và phức tạp, yêu cầu sự phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành và địa phương liên quan đến vụ tranh chấp đầu tư quốc tế, bắt đầu từ giai đoạn thương lượng với nhà đầu tư.

23 nước ngoài theo quy định tại các cam kết quốc tế về đầu tư, cụ thể các công việc trong giai đoạn này bao gồm:

Cơ quan chủ trì có trách nhiệm tiếp nhận thông báo từ nhà đầu tư nước ngoài về ý định khởi kiện, bao gồm thông báo trọng tài hoặc các thông báo tương tự liên quan đến việc khởi kiện tranh chấp đầu tư quốc tế tại trọng tài quốc tế.

Cơ quan chủ trì sẽ phối hợp với cơ quan đại diện pháp lý của Chính phủ để thực hiện việc thương lượng và sau đó báo cáo kết quả thương lượng lên Thủ tướng Chính phủ.

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan cung cấp thông tin, hồ sơ, chứng cứ, tài liệu

Các quy định về thuê luật sƣ, chuyên gia kỹ thuật, chỉ định trọng tài, mời nhân chứng và cơ chế tài chính phục vụ giải quyết tranh chấp đầu tƣ quốc tế

Theo Điều 25 của Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 04/2014/QĐ-TTg, Cơ quan chủ trì có trách nhiệm tham vấn Cơ quan đại diện pháp lý cho Chính phủ trong việc lựa chọn và thuê luật sư tư vấn Việc lựa chọn luật sư phải tuân thủ các quy định pháp luật, đặc biệt là pháp luật đấu thầu Cơ quan chủ trì cần báo cáo kết quả đàm phán hợp đồng dịch vụ pháp lý cho cơ quan cấp trên và thông báo cho Cơ quan đại diện pháp lý trước khi ký hợp đồng Sau khi hợp đồng được ký, Cơ quan chủ trì phải phối hợp với các cơ quan nhà nước liên quan để kiểm soát việc thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý với tổ chức hành nghề luật sư.

Theo Điều 24 của Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 14/2020/QĐ-TTg, việc thuê luật sư phải tuân thủ nguyên tắc phối hợp giữa cơ quan chủ trì và Tổ công tác liên ngành Luật sư sẽ được thương lượng và quyết định lựa chọn dựa trên các quy định của Thủ tướng Chính phủ và các quy định pháp luật liên quan.

5.2 Thuê chuyên gia kỹ thuật, mời nhân chứng

Theo Điều 26 của Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 04/2014/QĐ-TTg, trong trường hợp có tranh chấp đầu tư quốc tế, Cơ quan chủ trì sẽ phối hợp với Tổ Công tác liên ngành và các bên liên quan, bao gồm luật sư nếu cần, để quyết định việc thuê chuyên gia kỹ thuật và mời nhân chứng nhằm hỗ trợ quá trình giải quyết tranh chấp.

Điều 24 của Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 14/2020/QĐ-TTg đã tách bạch quy định về việc thuê chuyên gia và mời nhân chứng, nhằm đảm bảo tính khả thi trong quá trình thực hiện.

Để giải quyết vụ tranh chấp đầu tư quốc tế, cơ quan chủ trì cần phối hợp với Tổ công tác liên ngành và các bên liên quan, bao gồm cả luật sư, để mời nhân chứng theo yêu cầu của vụ tranh chấp.

Theo yêu cầu của vụ tranh chấp đầu tư quốc tế, cơ quan chủ trì sẽ phối hợp với Tổ công tác liên ngành và các bên liên quan để quyết định việc thuê chuyên gia Việc lựa chọn chuyên gia cần đảm bảo hiệu quả và đáp ứng yêu cầu về thời gian trong quá trình giải quyết tranh chấp.

Quyết định số 17/2019/QĐ-TTg, ban hành ngày 08/4/2019, quy định về một số gói thầu và nội dung mua sắm nhằm duy trì hoạt động thường xuyên Quyết định này áp dụng hình thức lựa chọn nhà thầu trong các trường hợp đặc biệt theo quy định tại Điều.

25 trách nhiệm quản lý công việc của chuyên gia trên cơ sở hợp đồng thỏa thuận giữa cơ quan chủ trì và chuyên gia

+ Về nguồn kinh phí phục vụ giải quyết tranh chấp, theo quy định tại

Theo Quyết định 04/2014/QĐ-TTg, nếu cơ quan chủ trì là cơ quan trung ương, kinh phí giải quyết tranh chấp sẽ được ngân sách trung ương đảm bảo Ngược lại, nếu cơ quan chủ trì là cơ quan nhà nước địa phương, kinh phí cho việc giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế sẽ được ngân sách địa phương đảm bảo theo quy định phân cấp ngân sách.

Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số liên quan đến việc lập dự toán và quyết toán ngân sách nhằm phục vụ giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế.

Thông tư 85/TT-BTC ngày 13/9/2018 hướng dẫn chi tiết về kinh phí giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, bao gồm quy định về lập dự toán, các mục chi, và định mức chi cho từng mục như chi phí thuê luật sư, chuyên gia, nhân chứng, cũng như kinh phí cho hoạt động của Tổ Công tác liên ngành.

Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 14/2020/QĐ-TTg quy định rõ ràng các giai đoạn trong quá trình giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế Quy chế này bao gồm các khoản kinh phí cần thiết cho việc giải quyết tranh chấp, sự tham gia của các cơ quan nhà nước, cũng như kinh phí thực hiện thỏa thuận hòa giải, phán quyết và quyết định của trọng tài quốc tế Điểm này cho thấy sự tiến bộ so với các quy định trước đó.

Quyết định số 04/2014/QĐ-TTg quy định về kinh phí chi trả theo phán quyết và quyết định trong trường hợp Chính phủ hoặc cơ quan nhà nước phải bồi thường Quy định này phân định rõ nguồn kinh phí cho việc chi trả: nếu biện pháp bị kiện thuộc cơ quan nhà nước trung ương, nguồn kinh phí chi trả bồi thường sẽ từ ngân sách nhà nước trung ương; ngược lại, nếu biện pháp bị kiện thuộc cơ quan nhà nước địa phương, kinh phí sẽ được chi trả từ ngân sách địa phương.

Kết quả đạt đƣợc sau 05 năm thực hiện Quyết định số 04/2014/QĐ-TTg

Sau 05 năm thực hiện Quyết định số 04/2014/QĐ-TTg, công tác giải quyết các vụ ISDS đã đạt đƣợc một số thành tựu nổi bật, bao gồm:

Quyết định số 04/2014/QĐ-TTg đã được thực hiện hiệu quả trong việc giải quyết các vụ ISDS, nhờ vào sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ Bộ Tư pháp, với vai trò chủ trì trong nhiều vụ ISDS gần đây, đã hợp tác chặt chẽ với các Bộ, ngành, địa phương và luật sư đại diện cho Chính phủ Việt Nam, góp phần đạt được thành công và hòa giải trong một số vụ kiện Mặc dù kết quả này còn ở giai đoạn đầu, nhưng nó là động lực khích lệ cho đội ngũ cán bộ làm công tác giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế tại Bộ Tư pháp và các thành viên trong Tổ Công tác liên ngành.

Nhận thức của các Bộ, ngành và địa phương đã có sự chuyển biến tích cực, thể hiện qua việc quan tâm hơn đến tình hình quốc tế và đầu tư vào đào tạo cán bộ giải quyết tranh chấp quốc tế Trong 5 năm thực hiện Quyết định số 04/2014/QĐ-TTg, Bộ Tư pháp đã tham mưu và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1063/QĐ-TTg ngày 14/6/2020, phê duyệt Đề án nâng cao năng lực cho công chức, viên chức về pháp luật quốc tế và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế giai đoạn 2016 – 2020.

Công tác phối hợp giữa các Bộ, ngành và địa phương trong giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế đã được cải thiện đáng kể, mang lại hiệu quả trong xử lý các vụ kiện Hoạt động của các Tổ Công tác liên ngành trong từng vụ kiện đã chứng minh tính hiệu quả, đảm bảo lộ trình tố tụng được thực hiện đúng hạn Sau 5 năm, các tổ công tác liên ngành đã được hình thành với sự tham gia của các cán bộ có chuyên môn, kinh nghiệm và khả năng ngoại ngữ, hoạt động theo quy định tại Quy chế hành chính của Quyết định số.

Nhóm chuyên gia được thành lập theo quyết định 04/2014/QĐ-TTg bao gồm đại diện từ các bộ như Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Văn phòng Chính phủ và Bộ Công Thương.

Thứ tư, thông qua quá trình giải quyết các vụ ISDS, Bộ Tƣ pháp và các

Bộ, ngành liên quan đã thành lập Nhóm chuyên gia am hiểu về ISDS, cải thiện rõ rệt sự phối hợp liên ngành từ cơ quan chủ trì đến các cơ quan phối hợp Nhóm này phát huy hiệu quả trong việc xử lý các vụ việc ISDS cụ thể và tham gia đàm phán các cơ chế ISDS, bao gồm cả trong khuôn khổ của Ủy ban Liên hợp quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) và Trung tâm Quốc tế về Giải quyết Tranh chấp Đầu tư (ICSID).

Vào ngày 13/9/2018, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 85/2018/TT-BTC, phối hợp với Bộ Tư pháp, nhằm hướng dẫn kinh phí phòng ngừa và giải quyết các vụ tranh chấp đầu tư quốc tế (ISDS) giữa nhà đầu tư nước ngoài và Chính phủ Việt Nam Thông tư này quy định cụ thể về cách lập dự toán, các mục chi và định mức chi cho từng hạng mục, bao gồm chi phí thuê luật sư, chuyên gia, nhân chứng, và kinh phí cho hoạt động của Tổ Công tác liên ngành, từ đó nâng cao hiệu quả trong việc phòng ngừa và giải quyết các vụ ISDS.

Vào ngày 08/4/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 17/2019/QĐ-TTg, quy định về các gói thầu và nội dung mua sắm nhằm duy trì hoạt động thường xuyên, được xây dựng bởi Bộ Tư pháp và Bộ Kế hoạch và Đầu tư Quyết định này áp dụng hình thức lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt theo Điều 26 của Luật đấu thầu, mang lại ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết những vướng mắc và khó khăn trong quá trình lựa chọn luật sư.

Các bất cập, hạn chế trong quá trình thực hiện của Quyết định số 04/2014/QĐ-

Sau 05 năm thực hiện, công tác giải quyết tranh chấp tại Việt Nam đã đạt được một số kết quả nhất định; tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn và vướng mắc do đây là lĩnh vực tương đối mới, có tính phức tạp và nhạy cảm cao.

28 cán bộ tham gia còn hạn chế về kiến thức, kinh nghiệm nên không tránh khỏi những hạn chế Cụ thể nhƣ sau:

Hầu hết các tranh chấp đầu tư quốc tế tại Việt Nam xuất phát từ hành vi và biện pháp quản lý của chính quyền địa phương hoặc các Bộ, ngành chuyên môn Những biện pháp này có thể bao gồm quyết định thu hồi giấy phép đầu tư, thu hồi dự án, thu hồi mỏ khoáng sản, cũng như các biện pháp thuế tác động đến hoạt động đầu tư Trước khi các biện pháp này được thực hiện, thường có thời gian tranh chấp hoặc tham vấn kéo dài giữa nhà đầu tư và chính quyền Tài liệu và chứng cứ liên quan đến vụ kiện thường phân tán tại nhiều cơ quan chức năng, và nhân chứng thường là cán bộ thuộc sự quản lý của các cơ quan này.

Việc nghiên cứu nội dung vụ tranh chấp, thu thập tài liệu và chứng cứ, cùng với việc làm việc với các nhân chứng (nếu có) trong một vụ kiện thường gặp nhiều khó khăn.

Giao cho Bộ chuyên môn hoặc UBND tỉnh nơi ban hành biện pháp bị khởi kiện làm cơ quan chủ trì xử lý vụ kiện sẽ nâng cao trách nhiệm của các Bộ, ngành và địa phương Điều này không chỉ giúp họ tích lũy kinh nghiệm trong việc thực thi pháp luật mà còn tạo điều kiện cho Bộ Tư pháp đóng vai trò cố vấn pháp lý trong các vụ kiện.

2 Về việc lựa chọn luật sƣ

Trước khi Quyết định số 17/2019/QĐ-TTg được ban hành vào ngày 08/4/2019, các Bộ, ngành địa phương và Bộ Tư pháp đã gặp khó khăn trong việc áp dụng quy định của pháp luật đấu thầu để lựa chọn luật sư Quyết định này quy định về một số gói thầu và hình thức lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt theo Điều 26 của Luật đấu thầu, nhằm duy trì hoạt động thường xuyên.

Theo Điều 25 Quyết định số 04/2014/QĐ-TTg, việc lựa chọn và thuê luật sư tư vấn cho các vụ tranh chấp đầu tư quốc tế phụ thuộc vào tính chất phức tạp của vụ việc Cơ quan chủ trì có trách nhiệm tham vấn với Cơ quan đại diện pháp lý của Chính phủ và phối hợp với các cơ quan nhà nước liên quan để xây dựng tiêu chí, điều khoản giao việc và cơ chế kiểm soát luật sư Đồng thời, cơ quan này cũng phải lập danh sách ít nhất ba tổ chức hành nghề luật sư dự kiến sẽ được thuê.

Cơ quan chủ trì có trách nhiệm tổ chức đàm phán hợp đồng dịch vụ pháp lý với tổ chức hành nghề luật sư phù hợp với quy định pháp luật Sau khi đàm phán, cơ quan này phải báo cáo kết quả cho cơ quan cấp trên và thông báo cho Cơ quan đại diện pháp lý của Chính phủ trước khi ký hợp đồng Thủ trưởng cơ quan chủ trì hoặc người được ủy quyền sẽ ký hợp đồng dịch vụ pháp lý sau khi hoàn tất báo cáo kết quả đàm phán Đồng thời, cơ quan chủ trì cần phối hợp với các cơ quan nhà nước liên quan để kiểm soát việc thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý đã ký.

Theo quy định của Luật Đấu thầu, việc lựa chọn luật sư được thực hiện theo các hình thức từ Điều 20 đến Điều 26, bao gồm đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế, chỉ định thầu, chào hàng cạnh tranh, mua sắm trực tiếp, tự thực hiện và lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt Trong 07 vụ tranh chấp tại trọng tài quốc tế, Chính phủ Việt Nam thường áp dụng phương án lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt, sau khi tham vấn các Bộ, ngành liên quan và báo cáo Thủ tướng Chính phủ theo quy định tại Điều 26 của Luật Đấu thầu năm 2013.

Việc lựa chọn luật sư theo Điều 26 của Luật Đấu thầu năm 2013 đã bộc lộ nhiều hạn chế và bất cập qua quá trình thực hiện của cơ quan chủ trì trong những năm qua.

Quyết định số 04/2014/QĐ-TTg quy định quy trình lựa chọn luật sư, nhưng thực tế gặp nhiều khó khăn do sự khác biệt giữa quy định này và pháp luật về đấu thầu Điều này ảnh hưởng đến khả năng bảo vệ quyền lợi của Chính phủ trong các vụ kiện đầu tư quốc tế, có thể dẫn đến kết quả không thuận lợi Thời gian báo cáo Thủ tướng Chính phủ về phương thức lựa chọn công ty luật theo Điều 26 khá lâu, không đáp ứng kịp thời yêu cầu của quy trình tố tụng trọng tài quốc tế.

Theo Khoản 1 Điều 25 Quyết định số 04/2014/QĐ-TTg, việc lựa chọn và thuê luật sư tư vấn cho các vụ tranh chấp đầu tư quốc tế sẽ được quyết định dựa trên tính chất phức tạp của từng vụ việc, với sự tham vấn của Cơ quan đại diện pháp lý cho Chính phủ.

Theo Luật Đấu thầu năm 2013, việc lựa chọn nhà thầu tư vấn được quy định từ Điều 20 đến Điều 25 Nếu không thể thực hiện theo các quy định này, cơ quan chủ trì giải quyết tranh chấp cần báo cáo Thủ tướng Chính phủ để xem xét và quyết định phương án lựa chọn nhà thầu theo Điều 26 của Luật Đấu thầu 2013.

Việc chọn công ty luật chỉ nên thực hiện sau khi Hội đồng trọng tài được thành lập, tuy nhiên thực tế cho thấy điều này thường diễn ra muộn hơn, sau nhiều bước trong quá trình tố tụng Điều này, theo đánh giá của một số luật sư, không chỉ không cần thiết mà còn ảnh hưởng đáng kể đến quyền lợi chính đáng của Chính phủ Việt Nam.

Giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế là một nhiệm vụ phức tạp và nhạy cảm, đặc biệt khi chưa có quy định rõ ràng về cơ chế lựa chọn luật sư cho Chính phủ Việt Nam Việc lựa chọn công ty luật theo Điều 26 của Luật Đấu thầu năm 2013 là một giải pháp hợp lý Tuy nhiên, quy trình theo Nghị định số 63/2014/NĐ-CP vẫn gặp nhiều khó khăn về thủ tục hành chính và thời gian, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi hợp pháp của Việt Nam trong các vụ kiện.

3 Về việc phối hợp của Tổ Công tác liên ngành trong giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế a Hoạt động của Tổ công tác liên ngành

Theo Quyết định số 04/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Cơ quan chủ trì có quyền quyết định thành lập Tổ Công tác liên ngành tùy thuộc vào tính chất vụ việc Trong trường hợp cần thiết, Tổ Công tác này có thể được thành lập sau khi nhận được thông báo từ Nhà đầu tư nước ngoài về việc khởi kiện tranh chấp đầu tư quốc tế tại trọng tài quốc tế hoặc cơ quan tài phán nước ngoài có thẩm quyền.

Hoạt động của Tổ công tác liên ngành đƣợc quy định tại các Điều 14, 15,

16 của Quyết định số 04, bao gồm các quy định về (i) thành lập, giải thể Tổ

Ngày đăng: 23/12/2021, 10:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w