1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Relationship between exchange rate and f

54 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối Quan Hệ Giữa Tỷ Giá Hối Đoái Và Luồng Vốn FDI Vào Việt Nam Giai Đoạn 2007 – 2014
Tác giả Vũ Thị Thúy Hằng, Nguyễn Thị Thu Hiền, Bùi Thị Thu Trang, Trần Trọng Trình, Phạm Thị Tuyết
Người hướng dẫn TS. Mai Thu Hiền
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Tài Chính Quốc Tế
Thể loại Tiểu Luận
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 1,14 MB

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI (FDI) VÀO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007 – 2014 (5)
    • I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI FDI (5)
      • 1. Khái niệm (5)
      • 2. Đặc điểm (5)
      • 3. Phân loại (6)
    • II. NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH VỀ HÌNH THỨC FDI TẠI VIỆT NAM (7)
      • 1. Các loại hình (7)
      • 2. Quy mô và dự án FDI tại Việt Nam (8)
      • 3. Đánh giá chung về hiệu quả các hoạt động thu hút FDI (9)
  • CHƯƠNG II TỔNG QUAN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ FDI (12)
    • I. LÝ THUYẾT CHUNG VỀ TỶ GIÁ (12)
      • 2. Phân loại (12)
      • 3. Vai trò của tỷ giá hối đoái với nền kinh tế (15)
    • II. TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ LUỒNG VỐN FDI ĐẦU TƯ VÀO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007 – 2011 (0)
      • 1. Tình hình nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2007 – 2011 (16)
      • 2. Diễn biến tỷ giá USD/VND giai đoạn 2007 - 2011 (18)
      • 3. Diễn biến dòng vốn FDI đầu tư vào Việt Nam giai đoạn 2007-2011 (24)
    • III. TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ DÒNG VỐN FDI ĐẦU TƯ VÀO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN (0)
      • 1. Tình hình nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2012-2014 (27)
      • 2. Biến động tỷ giá hối đoái và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI giai đoạn (29)
    • IV. TỔNG KẾT CHUNG DIỄN BIẾN TỶ GIÁ VÀ LUỒNG VỐN FDI TẠI VIỆT (32)
      • 1. Tỷ giá hối đoái (32)
      • 2. Thực trạng dòng vốn FDI (33)
    • V. MỐI QUAN HỆ GIỮA TỶ GIÁ VÀ DÒNG VỐN FDI GIAI ĐOẠN 2007-2014 (34)
      • 1. Cơ sở lý luận (34)
      • 2. Tình hình thực tế (36)
  • CHƯƠNG III XÂY DỰNG MÔ HÌNH HỒI QUY KIỂM ĐỊNH MỐI QUAN HỆ GIỮA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI THỰC VÀ LUỒNG VỐN FDI ĐẦU TƯ VÀO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007-2014 (41)
    • I. VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (41)
    • II. CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA MÔ HÌNH (41)
      • 1. Cơ sở lý thuyết (41)
      • 2. Các biến sẽ sử dụng trong mô hình (42)
    • II. XÂY DỰNG VÀ LỰA CHỌN MÔ HÌNH KINH TẾ LƯỢNG (42)
      • 1. Mô hình hồi quy tổng quát (42)
      • 2. Mô hình hồi quy mẫu (43)
      • 3. Phân tích kết quả hồi quy (43)
      • 4. Đồ thị miêu tả quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và tổng lượng vốn FDI (45)
      • 5. Kiểm tra các khuyết tật của mô hình hồi quy (46)
      • 6. Những nhận định về kết quả nghiên cứu (48)
      • 7. Dự báo về sự biến động tỷ giá năm 2015 (49)
  • KẾT LUẬN (46)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (53)

Nội dung

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI (FDI) VÀO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007 – 2014

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI FDI

FDI (Đầu tư trực tiếp nước ngoài) là hình thức đầu tư dài hạn từ cá nhân hoặc công ty của một quốc gia vào một quốc gia khác thông qua việc thiết lập cơ sở sản xuất và kinh doanh Các nhà đầu tư nước ngoài sẽ nắm quyền quản lý các cơ sở này, góp phần vào sự phát triển kinh tế của quốc gia tiếp nhận.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chủ yếu hướng đến việc tìm kiếm lợi nhuận, đặc biệt ở các nước đang phát triển Do đó, các quốc gia này cần xây dựng khung pháp lý vững mạnh và chính sách thu hút FDI hợp lý, nhằm định hướng đầu tư vào các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, tránh tình trạng FDI chỉ phục vụ lợi ích cá nhân của nhà đầu tư và gây lãng phí nguồn lực xã hội.

Các nhà đầu tư nước ngoài cần phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ theo quy định của từng quốc gia để có quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư Tuy nhiên, luật pháp của nhiều quốc gia thường không quy định rõ ràng về vấn đề này.

Tỷ lệ góp vốn của các bên trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp định quyết định quyền lợi, nghĩa vụ và cách phân chia lợi nhuận cũng như rủi ro giữa các bên.

Thu nhập của chủ đầu tư phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà họ đầu tư, mang tính chất là thu nhập từ hoạt động kinh doanh chứ không phải là lợi tức.

Chủ đầu tư có quyền tự quyết định về các hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh và chịu trách nhiệm về lợi nhuận hoặc thua lỗ Họ có khả năng lựa chọn lĩnh vực, hình thức, thị trường, quy mô đầu tư và công nghệ phù hợp, từ đó đưa ra những quyết định tối ưu nhất cho lợi ích của mình.

FDI thường đi kèm với việc chuyển giao công nghệ cho các quốc gia tiếp nhận đầu tư Thông qua hoạt động FDI, nước chủ nhà có cơ hội tiếp cận công nghệ và kỹ thuật tiên tiến, đồng thời học hỏi kinh nghiệm quản lý từ các nhà đầu tư nước ngoài.

 Theo bản chất đầu tư:

Đầu tư vào phương tiện hoạt động là hình thức mà công ty mẹ thực hiện việc mua sắm và thiết lập các phương tiện kinh doanh mới tại nước nhận đầu tư, từ đó gia tăng khối lượng đầu tư vào thị trường này.

Mua lại và sáp nhập là quá trình trong đó hai hoặc nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) hợp nhất hoặc một doanh nghiệp mua lại một doanh nghiệp FDI khác tại quốc gia nhận đầu tư Hình thức này không nhất thiết làm tăng tổng khối lượng đầu tư vào thị trường.

 Theo tính chất dòng vốn:

Nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư vào cổ phần hoặc trái phiếu doanh nghiệp do công ty trong nước phát hành, với mức đầu tư đủ lớn để tham gia vào các quyết định quản lý của công ty.

- Vốn tái đầu tư: Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh trong quá khứ để đầu tư thêm

Vốn vay nội bộ, hay giao dịch nợ nội bộ, là hình thức cho vay giữa các chi nhánh hoặc công ty con trong cùng một tập đoàn đa quốc gia Hình thức này cho phép các đơn vị trong công ty hỗ trợ lẫn nhau trong việc đầu tư hoặc mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp của nhau, từ đó tối ưu hóa nguồn lực tài chính và gia tăng hiệu quả kinh doanh.

 Theo động cơ của nhà đầu tư

Vốn tìm kiếm tài nguyên là các dòng vốn được sử dụng để khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và giá rẻ tại nước tiếp nhận, đồng thời tận dụng nguồn lao động với kỹ năng thấp hoặc dồi dào nhưng có chi phí thấp Hình thức vốn này còn nhằm khai thác các tài sản thương hiệu sẵn có, như các điểm du lịch nổi tiếng, cũng như các tài sản trí tuệ của nước tiếp nhận Thêm vào đó, nó còn có mục đích tranh giành các nguồn tài nguyên chiến lược để không bị rơi vào tay đối thủ cạnh tranh.

Vốn tìm kiếm hiệu quả là nguồn vốn được sử dụng để tận dụng các yếu tố đầu vào kinh doanh với chi phí thấp tại quốc gia tiếp nhận, bao gồm giá nguyên liệu, nhân công, và các yếu tố sản xuất như điện, nước, chi phí thông tin liên lạc, giao thông vận tải, cùng với mặt bằng sản xuất và thuế suất ưu đãi Điều này giúp doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí và nâng cao hiệu quả kinh doanh.

Vốn tìm kiếm thị trường là hình thức đầu tư giúp mở rộng thị trường hoặc bảo vệ thị trường hiện tại khỏi sự cạnh tranh Hình thức này còn tận dụng các hiệp định hợp tác kinh tế giữa nước tiếp nhận và các quốc gia, khu vực khác, nhằm sử dụng nước tiếp nhận làm bàn đạp để thâm nhập vào các thị trường khu vực và toàn cầu.

NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH VỀ HÌNH THỨC FDI TẠI VIỆT NAM

- Hợp đồng hợp tác kinh doanh

- Xí nghiệp 100% vốn nước ngoài

- Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (B.O.T)

- Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh

- Hợp đồng đầu tư trong các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao

- Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp

- Các hình thưc đầu tư trực tiếp khác

2 Quy mô và dự án FDI tại Việt Nam

Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 11/1/2007, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong chính sách kinh tế của quốc gia Ngay sau khi trở thành thành viên WTO, Việt Nam đã điều chỉnh các chính sách kinh tế để tạo điều kiện thuận lợi và minh bạch hơn cho các doanh nghiệp cả trong và ngoài nước Kết quả là, trong giai đoạn 2007 - 2014, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã có sự tăng trưởng đáng kể, thể hiện sự chuyển biến tích cực trong thu hút và giải ngân vốn.

Trong giai đoạn 2007-2009, Việt Nam thu hút 3.993 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng vốn đăng ký đạt 116,4 tỷ USD, vượt 2,1 lần so với mục tiêu 55 tỷ USD Đồng thời, vốn FDI giải ngân cũng đạt 29,5 tỷ USD, vượt mục tiêu 25 tỷ USD cho giai đoạn 5 năm 2006-2010.

Năm 2007, dòng vốn FDI ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ với tổng vốn đăng ký đạt 21,3 tỷ USD, tăng 77,8% so với năm 2006, trong khi vốn giải ngân đạt 8,03 tỷ USD, tăng 96% so với năm trước đó.

Năm 2008, vốn FDI tại Việt Nam đạt mức kỷ lục với tổng vốn đăng ký lên đến 71,7 tỷ USD, gấp gần 3 lần so với năm 2007 Đồng thời, vốn giải ngân cũng tăng trưởng mạnh mẽ, đạt 11,5 tỷ USD, tăng 43% so với năm trước đó.

Năm 2009, dòng vốn đầu tư toàn cầu giảm sút và cạnh tranh thu hút FDI trở nên khốc liệt hơn, dẫn đến việc FDI vào Việt Nam giảm đáng kể, chỉ đạt 23,1 tỷ USD, tương đương 30% so với cùng kỳ năm 2008 Tuy nhiên, đây vẫn là một mức cam kết khá cao trong bối cảnh khó khăn chung.

9 suy thoái kinh tế toàn cầu, vốn giải ngân đạt 10 tỷ USD, bằng 87% so với cùng kỳ năm

Trong giai đoạn 2010 – 2014, mặc dù dòng vốn FDI vào Việt Nam giảm do tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng vẫn duy trì ở mức cao so với các quốc gia trong khu vực.

Từ năm 2010 đến 2012, Việt Nam đã thu hút 50,186 tỷ USD vốn đăng ký đầu tư với 3,715 dự án FDI, tương đương 72% so với vốn đăng ký năm 2008 Cụ thể, năm 2010 ghi nhận 19,88 tỷ USD, năm 2011 đạt 14 tỷ USD và năm 2012 là 16,34 tỷ USD Mặc dù vốn thực hiện chỉ tăng nhẹ, năm 2010 và 2011 đạt 11 tỷ USD, năm 2012 là 10,46 tỷ USD, và năm 2013 đạt 11,5 tỷ USD.

Trong hai năm qua, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam đã có sự phục hồi mạnh mẽ Năm 2013, Việt Nam thu hút được 1.530 dự án FDI với tổng vốn đăng ký đạt 22,35 tỷ USD, tăng 36% so với năm trước đó.

Năm 2014, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đạt 20,23 tỷ USD, tương đương 93,5% so với năm 2013 và vượt 19% so với kế hoạch 17 tỷ USD Tính đến 15/12/2014, vốn thực hiện từ các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài ước tính đạt 12,35 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm 2013 và 2,9% so với kế hoạch năm 2014 Đây là nguồn lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.

3 Đánh giá chung về hiệu quả các hoạt động thu hút FDI

FDI đã trở thành nguồn vốn quan trọng cho sự phát triển kinh tế trong thời kỳ hội nhập, với đóng góp khoảng 16% tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trong giai đoạn 2001-2006 Từ năm 2007 đến 2014, vốn giải ngân từ khu vực FDI đã gia tăng đáng kể, góp phần quan trọng vào tổng vốn đầu tư phát triển của toàn xã hội.

10 năm 2007 là 24,8%, năm 2008 là 30,9%, năm 2009 là 25,7%, năm 2010 là 25,8%, năm

2011 là 24,5, năm 2012 là 21,6% và năm 2013 là 22% tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội.Trong năm 2014, tỷ trọng này tăng lên là 25,1%

Trong giai đoạn này, khu vực FDI đã đóng góp mạnh mẽ vào GDP, đi kèm với sự tăng trưởng xuất khẩu Cụ thể, tỷ trọng khu vực FDI trong GDP đã tăng từ 17,02% năm 2006 lên 17,66% năm 2007, tiếp tục tăng lên 18,68% năm 2008, 18,33% năm 2009, 18,72% năm 2010, 18,97% năm 2011, 18,09% năm 2012 và đạt 19,6% vào năm 2013.

Nguồn vốn FDI vào Việt Nam không chỉ tạo ra tác động tích cực trong việc huy động các nguồn vốn khác như ODA và NGO, mà còn kích thích thu hút vốn đầu tư trong nước.

Chuyển giao công nghệ đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng XHCN Khoảng cách về phát triển khoa học công nghệ giữa Việt Nam và các nước công nghiệp phát triển vẫn còn lớn, khiến việc tự nghiên cứu và phát triển kỹ thuật trở nên khó khăn và tốn kém cho các nước đang phát triển Tuy nhiên, đây cũng là cơ hội để Việt Nam tiếp thu công nghệ một cách thuận lợi, từ đó rút ngắn con đường phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế, tạo ra nhiều lĩnh vực mới như dầu khí, công nghệ thông tin, hóa chất, ô tô, xe máy, thép, điện tử và chế biến nông sản thực phẩm FDI không chỉ nâng cao trình độ kỹ thuật và công nghệ trong các ngành này mà còn góp phần tăng năng suất lao động, từ đó làm tăng tỷ trọng của các ngành kinh tế mới trong tổng thể nền kinh tế.

Việc tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đặc biệt từ các công ty đa quốc gia, có thể tạo ra sức ép cạnh tranh lớn cho các nhà sản xuất trong nước, khiến họ phải đối mặt với những thách thức không công bằng và quá sớm.

TỔNG QUAN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ FDI

LÝ THUYẾT CHUNG VỀ TỶ GIÁ

Tỷ giá hối đoái, hay còn gọi là tỷ giá ngoại tệ, là giá trị của một đơn vị tiền tệ của quốc gia này so với số lượng đơn vị tiền tệ của quốc gia khác Nó thể hiện khả năng trao đổi giữa các đồng tiền và được xác định trong một khoảng thời gian và không gian cụ thể.

Ví dụ: Tỷ giá hối đoái giữa USD và VND ngày 18/5/2015 là

Trong giao dịch ngoại hối và thanh toán thương mại quốc tế, có nhiều loại tỷ giá hối đoái được hình thành nhằm phục vụ các mục đích khác nhau Một số loại tỷ giá phổ biến thường được sử dụng và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

 Căn cứ vào chế độ quản lý ngoại hối:

 Tỷ giá cố định: là tỷ giá hình thành trong chế độ tiền tệ Bretton Woods

Tỷ giá cố định thường là tỷ giá chính thức, hiện nay không tồn tại

 Tỷ giá thả nổi: là tỷ giá hình thành tụ phát trên thị trường mà Nhà nước không chịu trách nhiệm quản lý biến động tỷ giá này

Tỷ giá thả nổi có quản lý là tỷ giá hình thành từ quan hệ cung cầu trên thị trường, nhưng được điều tiết bởi Nhà nước để đảm bảo sự ổn định của tỷ giá.

 Căn cứ vào giá trị của tỷ giá:

Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là tỷ giá của một ngoại tệ được thể hiện theo giá trị hiện tại, không tính đến tác động của lạm phát, và được niêm yết bởi Ngân hàng Nhà nước.

Tỷ giá hối đoái thực là tỷ giá của một ngoại tệ được xác định dựa trên giá trị hiện tại, có tính đến ảnh hưởng của lạm phát và sức mua giữa hai loại tiền tệ Nó phản ánh mối tương quan về giá cả hàng hóa có thể xuất khẩu và hàng tiêu dùng trong nước.

 Căn cứ vào phương tiện chuyển ngoại hối

Tỷ giá điện hối (T/T Rate) là tỷ giá chuyển đổi ngoại hối thông qua điện tử, được niêm yết tại các điểm giao dịch ngoại hối và trên các bảng điện Đây là tỷ giá cơ sở để xác định các loại tỷ giá khác.

Tỷ giá thư hối (M/T Rate) là tỷ giá áp dụng cho việc chuyển đổi ngoại hối thông qua thư Tỷ giá này được tính bằng cách lấy tỷ giá điện hối trừ đi các chi phí phát sinh trong thời gian chuyển thư hối.

 Căn cứ vào phương tiện thanh toán quốc tế:

Tỷ giá Séc (Cheque Rate) là tỷ giá được áp dụng cho giao dịch mua bán các loại séc ngoại tệ, thường thấp hơn tỷ giá điện hối Tùy thuộc vào loại séc, có hai loại tỷ giá là tỷ giá séc trả ngay và tỷ giá séc có kỳ hạn.

Tỷ giá hối phiếu trả ngay (Draft Rate) là tỷ giá được áp dụng cho việc mua bán các loại hối phiếu có kỳ hạn bằng ngoại tệ Tỷ giá này được tính bằng tỷ giá điện hối trừ đi lãi phát sinh từ thời điểm hối phiếu được phát hành cho đến khi hối phiếu được thanh toán Khoảng thời gian này bao gồm cả thời gian chuyển hối phiếu và kỳ hạn của hối phiếu.

Tỷ giá chuyển khoản (Transfer Rate) là tỷ giá được áp dụng trong giao dịch mua bán ngoại hối, trong đó việc chuyển trả ngoại hối được thực hiện thông qua hình thức chuyển khoản.

14 qua ngân hàng Trong nhiều trường hợp, tỷ giá chuyển khoản có thể lớn hơn tỷ giá điện hối (nhưng thường chỉ với tỷ giá mua)

 Tỷ giá tiền mặt (Cash Rate): là tỷ giá áp dụng cho việc mua bán ngoại hối mà việc chuyển trả ngoại hối là bằng tiền mặt

 Căn cứ vào thời điểm giao dịch

Tỷ giá mở cửa (Opening Rate) là tỷ giá được xác định vào đầu giờ giao dịch, phản ánh mức mua bán ngoại hối của hợp đồng giao dịch đầu tiên trong ngày Tỷ giá này có thể dựa trên tỷ giá đóng cửa của ngày giao dịch trước hoặc tỷ giá của trung tâm giao dịch gần nhất.

 Tỷ giá đóng cửa (Closing Rate): tỷ giá của hợp đồng giao dịch cuối cùng của ngày giao dịch

 Căn cứ vào phương thức giao dịch trên thị trường

Tỷ giá giao ngay (Spot Rate) là tỷ giá được áp dụng cho việc mua bán ngoại hối, với việc giao nhận ngoại hối diễn ra trong vòng 2 ngày làm việc kể từ ngày giao dịch.

Tỷ giá có kỳ hạn (Forward Rate) là tỷ giá mua bán ngoại tệ được áp dụng cho giao dịch ngoại hối sẽ diễn ra sau một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận trong hợp đồng, với các kỳ hạn có thể là một, hai, ba tháng hoặc lâu hơn.

 Căn cứ vào nghiệp vụ mua bán ngoại tệ

 Tỷ giá mua (BID Rate): là tỷ giá ngân hàng mua ngoại hối vào

 Tỷ giá bán (ASK Rate): là tỷ giá ngân hàng bán ngoại hối cho khách hàng

Tỷ giá bán luôn cao hơn tỷ giá mua, và chênh lệch giữa hai tỷ giá này, gọi là Spread, chính là nguồn thu nhập của ngân hàng Tỷ giá mua và bán được ngân hàng niêm yết công khai.

Bài tiểu luận này sẽ tập trung vào việc phân loại tỷ giá hối đoái dựa trên tiêu thức giá trị, bao gồm hai loại tỷ giá phổ biến trong thực tế: tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực tế.

Từ cách phân loại này chúng ta có công thức tính tỷ giá thực song phương dạng chỉ số như sau

𝐶𝑃𝐼 Trong đó: r: tỷ giá hối đoái thực

E: tỷ giá hối đoái danh nghĩa

CPI * : chỉ số giá hàng hóa nước ngoài

CPI: chỉ số giá hàng hóa nội địa

3 Vai trò của tỷ giá hối đoái với nền kinh tế

TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ LUỒNG VỐN FDI ĐẦU TƯ VÀO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007 – 2011

Khi hàng hóa của một quốc gia trở nên đắt đỏ hơn ở nước ngoài, hàng hóa nước ngoài sẽ trở nên rẻ hơn tại quốc gia đó, và ngược lại Sự thay đổi này ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu, từ đó tác động đến cán cân thanh toán quốc tế, có thể dẫn đến thâm hụt hoặc thặng dư.

Tỷ giá hối đoái đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết vĩ mô của nhà nước, ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động xuất nhập khẩu và cạnh tranh quốc tế Chính phủ thường xuyên điều chỉnh tỷ giá để quản lý và cân bằng các bất ổn trong nền kinh tế nội địa cũng như kinh tế đối ngoại Hơn nữa, tỷ giá còn tác động đến nhiều khía cạnh khác của nền kinh tế, bao gồm giá cả, lạm phát, khả năng sản xuất, và tình hình việc làm.

II THỰC TRẠNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ LUỒNG VỐN FDI ĐẦU TƯ VÀO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007 – 2011

1 Tình hình nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2007 – 2011

Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 7-11-2006 và trở thành thành viên chính thức vào ngày 11-1-2007 Sự kiện này đã tạo ra cơ hội lớn cho hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam tiếp cận thị trường rộng lớn với 155 quốc gia thành viên, chiếm 97% GDP toàn cầu.

Cuối năm 2008 và đầu năm 2009, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt nguồn từ khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp tại Mỹ, khi nhiều tổ chức tín dụng lớn như New Century Financial Corporation phải xin phá sản vào tháng 8 năm 2007 Tình trạng cổ phiếu giảm mạnh và sự hoảng loạn của người gửi tiền đã dẫn đến nguy cơ khan hiếm tín dụng Cuộc khủng hoảng này nhanh chóng lan ra toàn cầu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền tài chính của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, mặc dù mức độ ảnh hưởng có phần khác biệt do nước này đã gia nhập WTO.

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu gặp khó khăn, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ đã thực hiện các biện pháp tăng cường thanh khoản cho thị trường tín dụng, bao gồm mở rộng nghiệp vụ thị trường mở và giảm lãi suất cho vay liên ngân hàng Hoa Kỳ, với vai trò là thị trường nhập khẩu quan trọng, đã gây thiệt hại cho xuất khẩu của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam Các nền kinh tế phát triển như EU, Nhật Bản và Hàn Quốc cũng đang đối mặt với suy thoái, ảnh hưởng đến dòng vốn đầu tư vào Việt Nam Những biến động này đã tác động sâu sắc đến cán cân vốn và sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách tỷ giá của Việt Nam nhằm duy trì luồng vốn đầu tư và khắc phục khủng hoảng, tiếp tục phát triển.

Trong 5 năm 2007 - 2011, tăng trưởng GDP của nền kinh tế chỉ đạt trung bình 6,5%, không đạt chỉ tiêu kế hoạch 7,5-8% và thấp hơn mức trung bình 7,5% trong giai đoạn 5 năm trước đó Duy nhất một năm (2008), Việt Nam đạt mức tăng trưởng 8,5%, một phần nhờ các rào cản thương mại giảm nhiều khi hội nhập Tuy nhiên từ giữa năm

Từ năm 2008, tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam đã chậm lại, chỉ đạt bình quân 6,1% trong giai đoạn 2008-2011, và vào năm 2009, mức tăng trưởng thậm chí giảm xuống còn 5,3% Chỉ sau một năm mở cửa, nền kinh tế đã phải đối mặt với những tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, làm lộ rõ những yếu kém và hạn chế bên trong.

Trong giai đoạn 2007-2011, xuất khẩu của Việt Nam đã tăng 2,4 lần, đạt 96,9 tỷ USD, với mức tăng trưởng bình quân hàng năm là 19,5% Tuy nhiên, con số này thấp hơn so với giai đoạn trước khi gia nhập WTO, khi xuất khẩu tăng 2,5 lần với tỷ lệ 21,5% mỗi năm Sự hội nhập kinh tế quốc tế đã dẫn đến tình trạng nhập siêu gia tăng, với mức nhập siêu đạt 14,2 tỷ USD vào năm 2007 và 18 tỷ USD vào năm 2008, so với 5,1 tỷ USD vào năm 2006 Đáng chú ý, 60% kim ngạch xuất khẩu hiện nay đến từ các doanh nghiệp FDI, trong khi tăng trưởng của các doanh nghiệp trong nước đang dần chậm lại.

Trong giai đoạn 2007-2011, sự hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng đã làm gia tăng rủi ro tài chính trong hệ thống ngân hàng Điều này đặt ra áp lực lớn đối với việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng để đảm bảo tính ổn định và phát triển bền vững.

18 ngân hàng càng trở nên nghiêm trọng khiến Chính phủ phải tái cơ cấu hệ thống này từ cuối năm 2011

2 Diễn biến tỷ giá USD/VND giai đoạn 2007 - 2011

Quản lý tỷ giá hối đoái là yếu tố quan trọng giúp kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và cán cân thương mại Việt Nam đã chú trọng đến vấn đề này và thực hiện nhiều thay đổi trong cơ chế tỷ giá Nghiên cứu cho thấy giai đoạn 2008-2011 áp dụng chế độ neo tỷ giá với biên độ điều chỉnh, trong đó đồng USD được mặc định là đồng neo tỷ giá Tỷ giá chính thức được Ngân hàng Nhà nước công bố là VND/USD, từ đó các ngân hàng thương mại đưa ra mức tỷ giá ổn định xung quanh biên độ quy định Trong giai đoạn khủng hoảng, tỷ giá VND/USD biến động liên tục, với xu hướng giảm giá của đồng nội tệ.

Bảng 1: Diễn biến tỷ giá bình quân liên ngân hàng trong giai đoạn 2007 – 2011

Năm Tỷ giá chính thức Mức độ tăng

Biên độ giao dịch cuối năm (%)

Bảng 2: Diễn biến của tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường

Năm Tỷ giá chính thức

Tỷ lệ so sánh giữa tỷ giá chính thức và trên thị trường

Hình 1: Tỷ giá VND/USD theo ngày và biên độ dao động trong giai đoạn

Năm 2007, tỷ giá hối đoái thực tế đã có sự tăng trưởng ổn định, với mức tăng bình quân 0,62% so với năm trước Mặc dù tỷ giá có xu hướng tăng, nhưng những biến chuyển tích cực trong tỷ giá cho thấy sự cải thiện trong nền kinh tế.

Vào tháng 6/2007, tỷ giá USD/VND là 16.101, và trong 6 tháng cuối năm, tỷ giá tăng nhẹ lên 16.132, với các biến động cụ thể: tháng 7 tăng 0,22%, tháng 8 tăng 0,16%, tháng 9 tăng 0,57%, tháng 10 giảm 0,6%, tháng 11 giảm 0,28%, và tháng 12 giảm 0,19% Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã thực hiện nhiều biện pháp can thiệp để ổn định tỷ giá hối đoái, trong đó có việc điều chỉnh biên độ dao động tỷ giá từ ±0,25% năm 2005 lên ±0,5% năm 2006 và ±0,75% năm 2007, thể hiện chính sách kịp thời của NHNN đối với tỷ giá hối đoái.

Cuộc khủng hoảng tín dụng Mỹ đã khiến USD mất giá mạnh trên thị trường quốc tế, dẫn đến việc Cục dự trữ liên bang liên tục cắt giảm lãi suất Sự gia tăng vốn đầu tư nước ngoài và kiều hối đã làm tỷ giá USD/VND trở nên bất ổn, khuyến khích người dân bán USD để gửi VND, gây ra tình trạng dư cung ngoại tệ Lãi suất huy động và cho vay VND đã tăng cao, có lúc lên tới 20% Ngân hàng Nhà nước đã mở rộng biên độ tỷ giá USD/VND từ +-0,75% lên +-1% và điều chỉnh tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng lên 3%, nhưng vẫn gặp khó khăn do dư cung USD Trong bối cảnh này, VND đã tăng giá.

Xu hướng hiện nay cho thấy sự mất giá danh nghĩa của VND so với USD, với Ngân hàng Nhà nước (NHNN) điều chỉnh biên độ tỷ giá từ +-3% lên +-5% và tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng lên 17.941 VND/USD So với năm 2008, khi tỷ giá niêm yết tại các ngân hàng thương mại biến động liên tục và đầu năm có tỷ giá thấp hơn tỷ giá chính thức, tình hình hiện tại cho thấy sự thay đổi đáng kể trong chính sách tỷ giá.

2009 lại là năm mà tỷ giá NHTM đưa ra luôn ở mức trần của biên độ dao động mà

NHNN đã công bố rằng tỷ giá USD/VND hiện được niêm yết giống nhau ở mức giá bán ra và mua vào do tình trạng khan hiếm ngoại tệ Thị trường tự do phản ánh rõ ràng cung cầu ngoại tệ, dẫn đến sự chênh lệch ngày càng lớn với tỷ giá chính thức Mặc dù NHNN đã mở rộng biên độ dao động, nhưng các ngân hàng thương mại vẫn giao dịch ở mức giá trần Giá trị nhập khẩu tăng mạnh trong khi xuất khẩu giảm, khiến cán cân thương mại rơi vào trạng thái nhập siêu Bên cạnh đó, sự chênh lệch lớn giữa giá vàng trong nước và quốc tế đã làm tăng nhu cầu USD để tích trữ vàng, đẩy giá USD trên thị trường tự do lên cao Do đó, các doanh nghiệp buộc phải mua ngoại tệ từ thị trường chợ đen hoặc chịu thêm chi phí để giao dịch tại các ngân hàng thương mại, nơi có thủ tục phức tạp, tạo ra tâm lý hoang mang và mất lòng tin vào VND.

Hình 2: Tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường tự do theo ngày giai đoạn 2009-2011

TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ DÒNG VỐN FDI ĐẦU TƯ VÀO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN

tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 4,43 tỉ USD chiếm 23,8 % tổng vốn đầu tư vào Việt Nam

Theo thống kê thì thu hút FDI trong năm nay khá đuối Thực tế giải ngân chỉ đạt

11 tỷ USD bằng với năm 2010 Vốn đăng kí đạt 14,7 tỷ USD , giảm 26% so với năm

Năm 2010, vốn đăng ký mới đạt 11,6 tỷ USD, giảm 35% so với năm trước Đặc biệt, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực bất động sản giảm mạnh, chỉ còn chiếm 6,4% tổng vốn đăng ký, trong khi năm 2010 con số này là 34,3%.

Hình 5: Cơ cấu FDI vào Việt Nam 2006 – 2011

III THỰC TRẠNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ DÒNG VỐN FDI ĐẦU TƯ VÀO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2012 – 2014

1 Tình hình nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2012-2014

Từ năm 2012, Việt Nam đã nhanh chóng thoát khỏi tình trạng kinh tế khó khăn, đời sống người dân được cải thiện rõ rệt Tình hình chính trị - xã hội ổn định, an ninh quốc phòng được đảm bảo, cho thấy nền chính trị Việt Nam luôn duy trì sự ổn định và phát triển.

Cơ cấu FDI vào Việt Nam 2006 – 2011

Bất động sản Lĩnh vực khác

Trong bối cảnh ổn định của 28 trạng thái, các nhà đầu tư cảm thấy vững tâm hơn khi Chính phủ tích cực hoàn thiện thể chế, chính sách và quy định pháp luật nhằm tái cơ cấu kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng Trong ba năm qua, Chính phủ đã ban hành 500 văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm nhiều luật quan trọng liên quan đến củng cố môi trường đầu tư, luật cạnh tranh, phát triển cơ sở hạ tầng và tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi Những nỗ lực này đã tạo ra một khung pháp lý rõ ràng, thu hút dòng vốn đầu tư vào Việt Nam.

Từ năm 2012 đến 2014, kinh tế Việt Nam ghi nhận những tín hiệu tích cực khi lạm phát được kiềm chế nhanh chóng sau khủng hoảng năm 2011 Cụ thể, lạm phát năm 2012 giảm xuống 9.21%, giảm một nửa so với 18.13% của năm 2011 Đến năm 2013, lạm phát tiếp tục giảm xuống còn 6.04%, và dự kiến đến cuối năm 2014, mức lạm phát sẽ được điều chỉnh xuống khoảng 5% Điều này không chỉ giúp ổn định giá cả hàng hóa mà còn tăng cường sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Trong ba năm qua, tổng thu nhập quốc dân bình quân đã tăng trưởng 5.6% Năm 2012 đánh dấu sự chuyển mình của nền kinh tế khi lần đầu tiên xuất siêu sau nhiều năm nhập siêu, dẫn đến cán cân thanh toán thặng dư lớn và dự trữ ngoại hối tăng gấp đôi so với cuối năm trước.

2011 Trong năm 2013 và năm 2014 Việt Nam tiếp tục xuất siêu nhưng nhẹ hơn đó là

Vào tháng 12 năm 2013, Việt Nam ghi nhận thặng dư cán cân thanh toán đạt 10 triệu USD, và con số này đã tăng mạnh lên 1.7 tỷ USD trong 8 tháng đầu năm 2014 Điều này cho thấy cán cân thanh toán của Việt Nam đang có xu hướng tích cực, phản ánh tiềm năng phát triển mạnh mẽ trong nền kinh tế.

Mặt khác thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam ngày càng tăng lên, năm

Từ năm 2012 đến tháng 8 năm 2014, thu nhập bình quân đầu người đã tăng từ 1540 USD lên 2082 USD, cho thấy mức sống của người dân ngày càng được cải thiện Sự gia tăng thu nhập này đã kích thích tiêu thụ hàng hóa, đặc biệt là các sản phẩm nước ngoài, phản ánh xu hướng tiêu dùng hiện đại Điều này không chỉ thúc đẩy nền kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển văn hóa, xã hội và nhận thức của con người.

Một môi trường kinh tế ổn định cùng với khung pháp lý chính trị phù hợp sẽ thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển dự án và kinh doanh Các nhà đầu tư không chỉ chú trọng đến lợi nhuận mà còn đặt an toàn vốn đầu tư lên hàng đầu.

2 Biến động tỷ giá hối đoái và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI giai đoạn 2012 - 2014

Nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2012-2014 thể hiện sự ổn định và phát triển nhanh chóng, nhưng Ngân hàng Trung Ương vẫn cần can thiệp vào tỷ giá ngoại hối để điều chỉnh Mặc dù các chiến lược dài hạn có thể đạt được mục tiêu đề ra, nhưng ngắn hạn vẫn tồn tại biến động khó lường, dẫn đến sự phát triển không đồng đều của nền kinh tế Do đó, sự biến động tỷ giá cần phải phù hợp với tín hiệu thị trường và các mục tiêu của Ngân hàng Nhà nước nhằm ổn định giá cả và phát triển kinh tế vĩ mô.

 Tỷ giá và luồng vốn FDI năm 2012

Năm 2012, mặc dù kinh tế thế giới trải qua nhiều biến động, đặc biệt là khủng hoảng nợ công châu Âu, kinh tế Việt Nam vẫn duy trì ổn định với tỷ giá vững ở mức 20.828 VND/USD cho đến tháng 4/2013 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cam kết tỷ giá chỉ biến động trong khoảng +/- 1%, tạo niềm tin cho người dân vào chính sách điều hành của ngân hàng Đồng thời, việc tăng lãi suất có lợi cho VND đã giảm tình trạng găm giữ ngoại tệ, giúp giảm áp lực lên tỷ giá.

Vào năm 2012, Việt Nam đã thu hút mạnh mẽ dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ các quốc gia lớn như Nhật Bản, Hàn Quốc và EU, với tổng vốn đăng ký đạt 13,99 tỷ USD Các lĩnh vực đầu tư chủ yếu bao gồm công nghiệp chế biến chế tạo, dịch vụ ăn uống, lưu trú và bất động sản Năm này ghi nhận 1.266 dự án mới và 548 dự án tăng vốn, góp phần nâng tổng vốn FDI thực hiện lên 10,46 tỷ USD Khu vực FDI đã tạo ra xuất khẩu đạt 72,25 tỷ USD và nhập khẩu 59,94 tỷ USD, dẫn đến xuất siêu 12.311 tỷ USD, giúp cán cân thanh toán của Việt Nam chuyển sang thặng dư lần đầu tiên sau 5 năm.

Sự gia tăng mạnh mẽ cung ngoại tệ chủ yếu xuất phát từ dòng vốn FDI vào Việt Nam, giúp dự trữ ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tăng lên 25 tỷ USD, gấp đôi so với năm 2011 Nhờ vào khả năng cung ứng ngoại tệ lớn, tỷ giá Việt Nam vẫn được duy trì ổn định mặc dù có nhiều biến động trên thị trường toàn cầu Điều này khẳng định vai trò quan trọng của NHNN trong việc điều chỉnh tỷ giá theo cung cầu ngoại tệ, giữ vững mức tỷ giá đã cam kết từ đầu năm 2012.

 Tỷ giá và luồng vốn FDI năm 2013

Năm 2013, tỷ giá USD/VND tại Việt Nam trải qua nhiều biến động lớn, với mức điều chỉnh giảm xuống 20.950 VND/USD vào cuối tháng 2, tăng lên 21.036 VND/USD vào cuối tháng 6 và đạt 21.100 VND/USD vào tháng 12 Sự tăng giá này chủ yếu do biến động giá dầu trên thị trường thế giới, do nhu cầu dầu tăng cao Mặc dù có sự dao động mạnh, NHNN đã kiểm soát tỷ giá trong phạm vi dự kiến 2-3% cho năm 2013, với mức tăng thực tế chỉ 1% tỷ giá bình quân liên ngân hàng, cho thấy sự tín nhiệm của NHNN trong việc điều hành chính sách tỷ giá.

31 không để tình trạng muốn nắm giữ ngoại tệ xảy ra cũng như phòng tránh việc đô la hóa xảy ra trong những năm trước

Thị trường ngoại tệ năm 2013 ổn định với chênh lệch giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường tự do được thu hẹp, góp phần giảm tác động của giá USD lên các thị trường trong nước Sự ổn định này không chỉ giúp kiểm soát lạm phát mà còn thu hút đầu tư nước ngoài Tỷ giá tăng đã làm giảm chi phí lao động cho doanh nghiệp nước ngoài và giảm chi phí sản xuất tại Việt Nam, nhờ vào lợi thế về địa điểm, từ đó nâng cao tỷ suất lợi nhuận cho các dự án đầu tư nước ngoài và thúc đẩy dòng vốn FDI mạnh mẽ vào Việt Nam.

Năm 2013, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đã gia tăng mạnh mẽ, tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp chế biến chế tạo và sản xuất, phân phối điện, khí nước Tổng vốn thực hiện đạt 11,5 tỷ USD, tăng 109.9% so với năm 2012, trong khi vốn đăng ký đạt 21.68 tỷ USD, gấp rưỡi so với năm trước Việt Nam tiếp tục xuất siêu, đặc biệt trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài với 13.954 tỷ USD Cán cân thanh toán thặng dư 863 triệu USD đã giúp tăng dự trữ ngoại hối lên khoảng 32 tỷ USD Để thu hút ngoại tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã điều chỉnh giá mua USD mà không làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam Điều này là yếu tố quan trọng trong việc điều hành tỷ giá trong suốt năm 2013, giúp giữ mức tăng ngoại tệ trong phạm vi cam kết.

TỔNG KẾT CHUNG DIỄN BIẾN TỶ GIÁ VÀ LUỒNG VỐN FDI TẠI VIỆT

FDI TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007 - 2014

Trong giai đoạn 2007 – 2014, tỷ giá ở Việt Nam đã có sự biến động rõ rệt qua từng thời kỳ, tuy nhiên, nhìn chung xu hướng chính là tăng lên Các giai đoạn cụ thể cho thấy sự thay đổi này một cách tổng quát.

Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã gây ra sự biến động mạnh mẽ cho tỷ giá hối đoái của Việt Nam Vào cuối năm 2008, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại thường xuyên duy trì ở mức trần 17.000 VNĐ/USD Năm 2009, tỷ giá tăng lên 18.492 VNĐ/USD, và năm 2010 đạt 21.550 VNĐ/USD Mặc dù Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cam kết không tăng tỷ giá, bán USD để can thiệp thị trường, điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng và áp dụng trần lãi suất huy động, nhưng tỷ giá vẫn có xu hướng tăng cao và khó kiểm soát.

Tỷ giá VND/USD đã có xu hướng giảm và ổn định trở lại, với mức 21.000 vào đầu năm 2012 Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã mua vào lượng lớn ngoại tệ từ các ngân hàng thương mại, góp phần duy trì sự ổn định tỷ giá Trong các năm 2012 và 2013, NHNN tiếp tục giữ tỷ giá ổn định với biến động chỉ 2-3% mỗi năm Đặc biệt, trong 6 tháng đầu năm 2014, tỷ giá trung bình vẫn ổn định ở mức 21.150 VNĐ/USD.

2 Thực trạng dòng vốn FDI

Trong 10 năm từ 2007 đến 2014, Việt Nam đã thu hút một lượng lớn vốn FDI góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế Trong năm 2007-2008, nước ta thu hút lượng lớn FDI với 64 tỷ USD năm 2008, gấp gần 3 lần so với năm 2007 Những năm sau đó, tuy có những biến động nhưng lượng vốn FDI vào Việt Nam vẫn lớn, đến năm

Năm 2010, vốn FDI chiếm 25,8% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, với bất động sản và du lịch là hai ngành thu hút nhiều nhất Mặc dù lượng vốn FDI vào Việt Nam có xu hướng tích cực, cho thấy môi trường đầu tư hấp dẫn, nhưng việc sử dụng vốn FDI vẫn chưa hiệu quả do các vấn đề trong quy hoạch và xúc tiến Chính vì vậy, chính phủ cần triển khai các chính sách và biện pháp hiệu quả nhằm tăng cường thu hút, thúc đẩy giải ngân và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn FDI, bao gồm các ưu đãi hấp dẫn.

34 khuyế khích đầu tư, thực hiện các biện pháp thúc đẩy giải ngân, thẩm tra kĩ các dự án, đẩy nhanh tiến độ xây dựng,…

MỐI QUAN HỆ GIỮA TỶ GIÁ VÀ DÒNG VỐN FDI GIAI ĐOẠN 2007-2014

Tỷ giá hối đoái chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố như cung cầu ngoại tệ, chênh lệch lạm phát, lãi suất và thu nhập, cũng như các chính sách của chính phủ và kỳ vọng của người dân Đồng thời, các yếu tố kinh tế vĩ mô như tốc độ tăng trưởng, lạm phát, tỷ giá, hệ thống ngân hàng và nguồn nhân công cũng tác động đến luồng vốn FDI Mối quan hệ giữa FDI và tỷ giá hối đoái là tương tác qua lại, với FDI ảnh hưởng đến tỷ giá và ngược lại Bài nghiên cứu này sẽ phân tích sâu hơn về mối quan hệ này.

Nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng sự biến động của tỷ giá là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến luồng vốn FDI Tỷ giá không chỉ tác động đến tổng lượng FDI đổ vào mà còn ảnh hưởng đến cách phân bổ dòng vốn FDI giữa các quốc gia.

Khi một đồng tiền mất giá, sự biến động tỷ giá ảnh hưởng đến luồng vốn FDI theo hai cách chính Thứ nhất, nó làm giảm lương và hiệu suất của quốc gia đó so với nước ngoài Những quốc gia trải qua hiện tượng mất giá đồng tiền thực có khả năng cải thiện lợi thế vị trí, từ đó thu hút nhiều vốn đầu tư hơn Như vậy, sự giảm tỷ giá không chỉ tạo cơ hội cho các dự án đầu tư từ nước ngoài mà còn nâng cao tổng thể lợi suất của những dự án này.

Mức tỷ giá ảnh hưởng mạnh mẽ đến luồng vốn FDI, bởi sự biến động tỷ giá tác động đến chi phí sản xuất tương đối của quốc gia, yêu cầu điều chỉnh mức lương và chi phí sản xuất cho phù hợp với thị trường mục tiêu Hơn nữa, tầm quan trọng của kênh “mức lương tương đối” có thể giảm nếu có những yếu tố khác tác động.

Biến động tỷ giá có thể được dự đoán và ảnh hưởng đến chi phí của các dự án đầu tư tài chính Những thay đổi này có thể được cân bằng bởi điều kiện lãi suất, giúp giảm thiểu rủi ro đối với lợi suất Tuy nhiên, những biến động tỷ giá không được dự đoán trước có thể dẫn đến những kết luận chắc chắn về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), khi chúng không phản ánh trong chi phí kỳ vọng của việc tài trợ cho các dự án FDI.

Các công ty đa quốc gia thường ưu tiên tài trợ cho các dự án có vốn nước ngoài, đặc biệt khi vốn trong nước đang gia tăng ở các công ty mẹ Sự thay đổi tỷ giá có thể ảnh hưởng lớn đến quyết định đầu tư; cụ thể, khi đồng tiền của nước nhận vốn giảm giá, tài sản của các công ty mẹ sẽ tăng giá trị tương đương, đồng thời tạo ra lợi ích quốc tế cho nước nhận vốn Việc các công ty mẹ giữ quá nhiều nội tệ có thể dẫn đến việc giảm chi phí vốn và cho phép các nhà đầu tư mua nhiều tài sản nước ngoài hơn Nghiên cứu của Klein và Rosengren (1994) nhấn mạnh rằng kênh của cải tương đương này có vai trò quan trọng trong việc giải thích dòng vốn FDI vào Mỹ từ 1979 đến 1991.

Sự biến động của tỷ giá có ảnh hưởng đáng kể đến luồng vốn FDI vào một quốc gia, đặc biệt là ở Việt Nam trong giai đoạn 2007-2011 Khi FDI tăng, nó có thể tác động đến cả tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực Cụ thể, dòng vốn FDI lớn làm tăng cung ngoại tệ trên thị trường, dẫn đến việc tỷ giá danh nghĩa giảm và VND tăng giá nếu không có can thiệp từ NHTW Bên cạnh đó, luồng vốn FDI cũng có thể gây ra lạm phát, làm giảm tỷ giá thực tế nếu lạm phát ở các nước khác ổn định hoặc thấp hơn.

Khi tỷ giá ngoại tệ tăng, đồng nội tệ sẽ mất giá, dẫn đến việc một đồng ngoại tệ có thể đổi được nhiều đồng nội tệ hơn Điều này có nghĩa là nếu nhà đầu tư lựa chọn đầu tư vào thị trường nội địa, họ có khả năng tiết kiệm chi phí.

Chi phí nhân công và nguyên vật liệu không phải là yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định đầu tư Theo lý thuyết về xuất khẩu vốn và cung cầu ngoại tệ, hàm xuất khẩu phản ánh mối quan hệ giữa thu nhập từ đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước Việc điều chỉnh tỷ giá theo lãi suất là điều không khả thi do quy luật ngang giá lãi suất quá khắt khe, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam là nước đang phát triển với thị trường nước ngoài chủ yếu là các quốc gia phát triển Hơn nữa, mỗi quốc gia áp dụng chế độ tỷ giá khác nhau, làm cho việc đánh giá mối quan hệ này trở nên khó khăn.

Chế độ tỷ giá không có ảnh hưởng lớn đến luồng vốn FDI vào thị trường nội địa Tuy nhiên, khi FDI tăng mạnh, điều này có thể tạo ra áp lực lên tỷ giá, làm cho đồng nội tệ tăng giá Đặc biệt, trong bối cảnh quốc gia áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết, luồng vốn FDI sẽ tác động đến chính sách điều hành tỷ giá của Ngân hàng Trung ương.

2 Tình hình thực tế a Giai đoạn 2007-2011: Giai đoạn khủng hoảng kinh tế

Sau 5 năm kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và gần 7 năm kể từ khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức WTO, các chuyên gia đã nhận định kinh tế Việt Nam bị nhiễm căn bệnh Hà Lan mà nó được hiểu là một dòng vốn lớn đổ vào làm đồng tiền trong nước lên giá dẫn đến hàng hóa sản xuất trong nước trở nên đắt đỏ hơn so với hàng hóa các nước khác khiến mất năng lực cạnh tranh trên thị trường Để giảm lượng cung USD trong nền kinh tế, NHNN chú trọng làm một việc duy nhất đó là tung VND để mua USD Hậu quả là nền kinh tế bị ngập lụt trong VND dẫn tới lạm phát phi mã cuối năm 2007 đầu năm 2008 và tỷ giá không thể duy trì ổn định VND liên tục chịu áp lực mất giá phản ánh cung cầu ngoại tệ và sức mua của đồng tiền.Dự trữ ngoại hối rơi vào tình trạng khan hiểm buộc NHNN phải phá giá đồng tiền Theo số liệu của quỹ tiền tệ quốc tế IMF thì dự trữ ngoại hối của Việt Nam vào cuối

Vào năm 2008, dự trữ ngoại hối đạt 24 tỷ USD, nhưng đến cuối tháng 2 năm 2011, theo số liệu từ Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, con số này chỉ còn khoảng 10 tỷ USD.

Thống kê về vốn FDI vào Việt Nam cho thấy sự chững lại và biến động ngược chiều với tỷ giá hối đoái của NHNN, nhưng lại cùng chiều với tỷ giá thực tế Sau năm 2007, vốn FDI ồ ạt đổ vào Việt Nam nhờ vào quá trình hội nhập WTO Tuy nhiên, ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã khiến vốn FDI giảm so với các năm trước, đặc biệt rõ rệt trong giai đoạn 2008-2009 Mặc dù vốn đăng ký vào Việt Nam khá lớn, nhưng số vốn thực tế giải ngân chỉ dao động quanh mức 10 đến 12 tỷ USD.

Trong giai đoạn khủng hoảng, việc phân tích mối quan hệ giữa tỷ giá và luồng vốn FDI vào Việt Nam gặp nhiều khó khăn Để làm rõ hơn về mối quan hệ này, chúng tôi sẽ bổ sung các yếu tố vĩ mô khác như nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), tổng thu nhập quốc dân (GDP) và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) vào mô hình kinh tế lượng Đặc biệt, từ năm 2012 đến 2014, nền kinh tế Việt Nam đã có dấu hiệu phục hồi tích cực.

Mối quan hệ giữa tỷ giá và dòng vốn FDI đã được phân tích rõ ràng qua các thông số, tuy nhiên để đánh giá chính xác hơn, cần xem xét biểu đồ tác động của tỷ giá thực song phương giữa Việt Nam và Mỹ lên luồng vốn FDI tại Việt Nam Để bắt đầu, cần xác định vốn thực hiện qua các năm dựa trên số liệu đã cung cấp.

Vốn thực hiện của khu vực FDI năm 2012: 10,46 tỷ USD; năm 2013: 11,5 tỷ USD; năm 2014: 7,9 tỷ USD

Sau đó, xác định công thức tính tỷ giá song phương thực của năm sau so với năm trước (chọn 2012 là năm cơ sở)

Trong đó: 𝑅𝐸𝑅 2012 2013 là tỷ giá thực song phương của năm 2013 so với năm 2012

𝑁𝐸𝑅 2012 2013 là tỷ giá danh nghĩa song phương của năm 2013 so với năm

𝐶𝑃𝐼 2013 𝑈𝑆 là chỉ số giá tiêu dùng của Mỹ năm 2013

𝐶𝑃𝐼 2013 𝑉𝑁 là chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam năm 2013

Bảng 3: Tình hình tỷ giá hối đoái, chỉ số giá tiêu dùng và vốn FDI thực hiện giai đoạn 2012 – 2014

Vốn FDI thực hiện (tỷ USD) 10.46 11.5 7.9

Hình 6: Xu hướng biến động của FDI và tỷ giá thực song phương giai đoạn

Từ đồ thị ta có thể thấy xu hướng biến động của FDI và tỷ giá là cùng chiều Qua

XÂY DỰNG MÔ HÌNH HỒI QUY KIỂM ĐỊNH MỐI QUAN HỆ GIỮA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI THỰC VÀ LUỒNG VỐN FDI ĐẦU TƯ VÀO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007-2014

Ngày đăng: 17/12/2021, 16:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Diễn biến của tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường - Relationship between exchange rate and f
Bảng 2 Diễn biến của tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường (Trang 19)
Hình 1: Tỷ giá VND/USD theo ngày và biên độ dao động trong giai đoạn - Relationship between exchange rate and f
Hình 1 Tỷ giá VND/USD theo ngày và biên độ dao động trong giai đoạn (Trang 19)
Hình 2: Tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường tự do theo - Relationship between exchange rate and f
Hình 2 Tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường tự do theo (Trang 21)
Hình 3: Biến động của tỷ giá thực và tỷ giá danh nghĩa theo quý - Relationship between exchange rate and f
Hình 3 Biến động của tỷ giá thực và tỷ giá danh nghĩa theo quý (Trang 23)
Hình 4: Biểu đồ lượng vốn FDI đăng ký và giải ngân ở Việt Nam  giai đoạn - Relationship between exchange rate and f
Hình 4 Biểu đồ lượng vốn FDI đăng ký và giải ngân ở Việt Nam giai đoạn (Trang 25)
Hình 5: Cơ cấu FDI vào Việt Nam 2006 – 2011 - Relationship between exchange rate and f
Hình 5 Cơ cấu FDI vào Việt Nam 2006 – 2011 (Trang 27)
Bảng 3: Tình hình tỷ giá hối đoái, chỉ số giá tiêu dùng và vốn FDI thực hiện - Relationship between exchange rate and f
Bảng 3 Tình hình tỷ giá hối đoái, chỉ số giá tiêu dùng và vốn FDI thực hiện (Trang 38)
Hình 6: Xu hướng biến động của FDI và tỷ giá thực song phương giai đoạn - Relationship between exchange rate and f
Hình 6 Xu hướng biến động của FDI và tỷ giá thực song phương giai đoạn (Trang 39)
Đồ thị 1: Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và tổng lượng vốn FDI đăng kí - Relationship between exchange rate and f
th ị 1: Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và tổng lượng vốn FDI đăng kí (Trang 45)
Đồ thị 2: Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và tổng lượng vốn FDI giải ngân - Relationship between exchange rate and f
th ị 2: Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và tổng lượng vốn FDI giải ngân (Trang 45)
BẢNG PHÂN CÔNG  VIỆC - Relationship between exchange rate and f
BẢNG PHÂN CÔNG VIỆC (Trang 54)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w