1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng bình đẳng trong Phật giáo và ý nghĩa của nó.

72 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư tưởng bình đẳng trong Phật giáo và ý nghĩa của nó
Tác giả Ngô Phương Thảo
Người hướng dẫn PGS.TS Đặng Thị Lan
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Triết học
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 3,34 MB

Cấu trúc

  • KHOA TRIẾT HỌC

  • KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH TRIẾT HỌC

    • HÀ NỘI, 6/2020

    • LỜI CẢM ƠN

  • MỤC LỤC

    • MỞ ĐẦU 6

    • 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu

    • 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

    • Phương pháp nghiên cứu

    • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

    • Kết cấu khóa luận

    • CHƯƠNG 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ RA ĐỜI CỦA TƯ

    • CHƯƠNG 2: MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG BÌNH ĐẲNG CỦA PHẬT GIÁO

  • CHƯƠNG 1: KHÁI LƯỢC TƯ TƯỞNG BÌNH ĐẲNG VÀ ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ RA ĐỜI CỦA TƯ TƯỞNG BÌNH ĐẲNG TRONG PHẬT GIÁO

    • 1.1. Khái lược tư tưởng bình đẳng

    • 1.2. Điều kiện tự nhiên - xã hội Ấn Độ cổ đại

    • 1.3. Quá trình hình thành tư tưởng bình đẳng của Đức Phật Thích

    • Tiểu kết chương 1

  • CHƯƠNG 2: MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG BÌNH ĐẲNG CỦA PHẬT GIÁO

    • 2.1. Bình đẳng giữa các cá nhân, giữa các giai cấp trong xã hội

    • 2.2. Bình đẳng trong việc xuất gia tu học và cơ hội giải thoát

    • 2.3. Bình đẳng giữa nam và nữ

    • 2.4. Ý nghĩa của tư tưởng bình đẳng trong Phật giáo đối với xã hội Việt Nam hiện nay

    • Tiểu kết chương 2

  • KẾT LUẬN

  • DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nội dung

Tư tưởng bình đẳng trong Phật giáo và ý nghĩa của nó.Tư tưởng bình đẳng trong Phật giáo và ý nghĩa của nó.Tư tưởng bình đẳng trong Phật giáo và ý nghĩa của nó.Tư tưởng bình đẳng trong Phật giáo và ý nghĩa của nó.Tư tưởng bình đẳng trong Phật giáo và ý nghĩa của nó.Tư tưởng bình đẳng trong Phật giáo và ý nghĩa của nó.

Lý do chọ n đ ề tài

Phật giáo, được hình thành từ Ấn Độ vào thế kỷ VI TCN dưới triều đại của vua A Dục, đã trở thành quốc giáo vào khoảng thế kỷ III TCN Từ đó, Phật giáo bắt đầu phát triển mạnh mẽ và lan rộng ra ngoài biên giới Ấn Độ, từng bước trở thành một tôn giáo toàn cầu.

Phật giáo đã có mặt tại Việt Nam gần 2.000 năm và đóng góp quan trọng vào nền văn hóa dân tộc, để lại dấu ấn sâu sắc trong từng triều đại Các giá trị nhân văn của Phật giáo như từ bi, bình đẳng, nhân ái và khoan dung đã thấm sâu vào đời sống xã hội, hòa quyện với tín ngưỡng bản địa và ảnh hưởng mạnh mẽ đến tinh thần người Việt Trong nhiều giai đoạn lịch sử quan trọng, Phật giáo luôn đồng hành cùng dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.

Sinh ra trong thời đại giai cấp phân chia rõ ràng, Đức Phật đã khẳng định rằng “Không có đẳng cấp trong dòng máu cùng đỏ Không có đẳng cấp trong nước mắt cùng mặn”, thể hiện tư tưởng tiến bộ và mới mẻ, đáp ứng khát vọng của người dân Ấn Độ sống trong chế độ phân biệt đẳng cấp Tư tưởng này gợi nhớ đến Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ ngày 4/7/1776, trong đó tuyên bố rằng “Mọi người sinh ra đều có quyền được sống, được tự do, được mưu cầu hạnh phúc”.

Vào ngày 26 tháng 8 năm 1789, Quốc hội Pháp đã thông qua Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền, trong đó khẳng định rằng "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi" Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tiếp thu tư tưởng nhân văn từ hai bản Tuyên ngôn của Mỹ và Pháp, nhấn mạnh quyền tự nhiên và căn bản của con người: "Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng", bao gồm quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

Tư tưởng nhân văn của Đức Phật Thích Ca, mặc dù được khởi xướng từ thời cổ đại, vẫn giữ nguyên giá trị trong xã hội hiện đại ngày nay Tại Việt Nam, sự phát triển của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế đã dẫn đến sự biến đổi tiêu cực trong đạo đức xã hội, với xu hướng bạo lực gia tăng và tham nhũng lan rộng Văn hóa ngoại lai đang xâm lấn, làm mất đi những giá trị văn hóa truyền thống quý báu Tình trạng tội phạm, đặc biệt là trong giới trẻ và thậm chí cả vị thành niên, đang có chiều hướng gia tăng, với nhiều vụ án nghiêm trọng xảy ra trong chính gia đình Thực trạng đạo đức xã hội đang xuống cấp nghiêm trọng, đòi hỏi cần có nhiều biện pháp khôi phục, trong đó việc khơi dậy và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống là rất quan trọng.

Đạo đức Phật giáo đã hòa quyện với đạo đức truyền thống Việt Nam từ xa xưa, hình thành nên nhân sinh quan và triết lý sống của người Việt Việc áp dụng những giá trị này vào cuộc sống không chỉ góp phần xây dựng nền đạo đức mới lành mạnh, tiến bộ mà còn khẳng định tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát triển đạo Phật như một di sản văn hóa quý giá.

Sự đổi mới của đất nước và chính sách tự do tín ngưỡng đã thúc đẩy sự phát triển đúng hướng của Phật giáo Việt Nam Hiện nay, Phật giáo đang thể hiện sự đa dạng và phong phú với xu hướng nhập thế, góp phần cứu đời thông qua các hoạt động cụ thể Nghiên cứu tư tưởng bình đẳng, một giá trị cốt lõi của đạo Phật, là cần thiết để hiểu sâu sắc hơn về Phật giáo, từ đó phát huy những giá trị tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực trong việc xây dựng đời sống đạo đức xã hội.

Tôi đã chọn đề tài “Tư tưởng bình đẳng trong Phật giáo và ý nghĩa của nó” cho khoá luận của mình, nhằm góp phần nghiên cứu và làm rõ những tư tưởng cơ bản trong Phật giáo Qua đó, tôi cũng muốn nhận định rõ hơn về vị thế của Phật giáo trong xã hội Việt Nam hiện nay.

Tổng quan tình hình nghiên cứu

Các công trình nghiên cứu chung về Phật giáo, tr ong đó có đ ề cập trực tiếp hoặc gián tiế p đ ế n tư tư ởng bình đ ẳng

Nguyễn Duy Hinh đã có những đóng góp quan trọng cho nghiên cứu Phật giáo Việt Nam qua tác phẩm “Tư tưởng Phật giáo Việt Nam” Bên cạnh đó, tác giả Vân Thanh với “Lược khảo lịch sử Phật giáo Việt Nam” (xuất bản năm 1974) cũng đã cung cấp cái nhìn sâu sắc về lịch sử Phật giáo trong nước Thích Hạnh Bình trong “Tìm hiểu Giáo lý Phật giáo nguyên thủy” đã giúp độc giả hiểu rõ hơn về giáo lý cốt lõi của Phật giáo nguyên thủy.

“Lịch sử Phật giáo Việt Nam”của tập thể tác giả thuộc Viện Triết học - Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam xuất bản năm 1991.

Tác giả Thích Minh Châu đã có những đóng góp quan trọng trong việc nghiên cứu và truyền bá giáo lý Phật giáo thông qua các tác phẩm nổi bật như “Lịch sử Đức Phật Thích Ca”, “Lời Phật dạy về hòa bình hòa hợp và giá trị con người” và “Lược sử Phật giáo Việt Nam” Những tác phẩm này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về cuộc đời và giáo lý của Đức Phật mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của hòa bình, hòa hợp và giá trị con người trong xã hội hiện đại.

Tác phẩm "Đường xưa mây trắng", "Trái tim của Bụt" và "An lạc từng bước chân" của Thích Nhất Hạnh trình bày những khái niệm Phật giáo cốt lõi, đồng thời hướng dẫn cách áp dụng chúng vào cuộc sống hàng ngày Với tư cách là một Phật tử, ông chia sẻ những hiểu biết sâu sắc về triết lý Phật giáo, giúp người đọc tìm thấy sự an lạc và bình yên trong từng khoảnh khắc.

Trong cuốn "Phật giáo Việt Nam và thế giới" thuộc bộ sách "Tôn giáo và lịch sử văn minh nhân loại", Thiền sư Đinh Lực và Cư sĩ Nhất Tâm đã trình bày những khía cạnh cốt lõi của Phật giáo, đồng thời nêu rõ các vấn đề cơ bản liên quan đến Phật pháp và thiền học.

Cuốn sách “Tìm hiểu Phật giáo” của tác giả Maha Thongkham Medivongs, xuất bản năm 1970, cung cấp cái nhìn tổng quan về Phật giáo và mối quan hệ của nó với con người trong xã hội Tác giả phân tích rõ ràng về bản chất của Phật giáo, mối liên hệ của nó với các vấn đề giai cấp, vai trò của phụ nữ, tín ngưỡng, cũng như các quan niệm trong triết lý Phật giáo nguyên thủy.

“Những hạt ngọc trí tuệ Phật giáo” Nguyên tác: Gems of Buddhist

Wisdom Buddhist Missionary Society, Malaysia, 1983, 1996, Thích Tâm Quang dịch nói về đức Phật và những giáo lí của ngài.

Cuốn sách “Tìm hiểu nhân sinh quan Phật giáo” của tác giả Thích Tâm Thiện, xuất bản năm 1998, cung cấp cái nhìn tổng quát về nhân sinh quan Phật giáo thông qua cách trình bày logic và lịch sử Nội dung nhân sinh quan được làm rõ chủ yếu qua các bộ kinh như Tương ưng, Bát nhã, Hoa nghiêm, Pháp hoa và Lăng già.

Luận án tiến sĩ nghiên cứu về Phật giáo của tác giả Nguyễn Thị Toan

Quan niệm về giải thoát trong Phật giáo mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, tập trung vào việc giải quyết nỗi khổ của con người Tác giả đã phân tích kỹ lưỡng khái niệm giải thoát trong Phật giáo nguyên thủy và nhấn mạnh tầm quan trọng của nó trong đời sống người Việt Nam hiện nay Giải thoát không chỉ là mục tiêu cá nhân mà còn là cơ hội cho tất cả mọi người và mọi loài, mở ra con đường hướng tới sự an lạc và hạnh phúc.

Các công trình đ ể cập trực tiế p đ ế n tư tư ởng bình đ ẳng

Sách và các công trình nghiên cứu chuyên khảo:

“Phật giáo và bình đẳng giới” của tác giả Thích Giác Toàn.

Cuốn sách "Phật học tinh hoa" của tác giả Thu Giang và Nguyễn Duy Cần cung cấp một cái nhìn toàn diện và có hệ thống về lịch sử đạo Phật Tác phẩm này không chỉ giúp độc giả mà còn hỗ trợ các nhà nghiên cứu Phật học hiểu rõ hơn về nguồn gốc và sự phát triển của đạo Phật.

Cuốn sách "Đạo đức Phật giáo và đạo đức con người Việt Nam" của tác giả Đặng Thị Lan gồm 5 chương, trong đó chương hai tập trung vào những vấn đề cơ bản của đạo đức Phật giáo như từ bi, ngũ giới, nhân quả, nghiệp báo và luân hồi, với tư tưởng bình đẳng được trình bày như một khía cạnh của lòng Từ bi Chương bốn phân tích ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đối với việc xây dựng và hoàn thiện đạo đức con người Việt Nam hiện nay, chỉ ra thực trạng đạo đức và tác động của nó đến ý thức và hành vi đạo đức của con người.

Cuốn sách "Nghiệp và kết quả" của Thích Chân Quang thuyết phục chứng minh sự tồn tại của luật nghiệp báo và hành trình của nghiệp dẫn đến những kết quả tương ứng trong tương lai Mọi hành động đều tạo ra quả báo: người làm điều tốt sẽ nhận được kết quả tốt đẹp, trong khi người gây tội ác sẽ phải đối mặt với hậu quả của chính mình.

Các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành:

Tạp chí nghiên cứu Tôn giáo giới thiệu bài viết của tác giả Hoàng Thị Thơ, mang tiêu đề “Đạo đức Phật giáo với vấn đề xây dựng nhân cách con người Việt Nam” Bài viết này phân tích vai trò của đạo đức Phật giáo trong việc hình thành và phát triển nhân cách của người Việt, nhấn mạnh tầm quan trọng của các giá trị tinh thần và đạo đức trong xã hội hiện đại Qua đó, tác giả khẳng định rằng việc áp dụng những nguyên tắc đạo đức Phật giáo có thể góp phần tích cực vào việc xây dựng một cộng đồng văn minh và nhân ái.

2002), “Vài suy ngẫm về khoan dung tôn giáo trong lịch sử Phật giáo Ấn Độ và

Trong bài viết "Tổ chức Tăng đoàn thời Đức Phật và những bài học cho việc tổ chức Giáo hội hôm nay" của tác giả Thích Thọ Lạc, được đăng trong tạp chí "Phật giáo Việt Nam" số 5 năm 2008, tác giả đã phân tích cấu trúc và vai trò của Tăng đoàn trong thời kỳ Đức Phật, đồng thời rút ra những bài học quý giá cho việc tổ chức Giáo hội Phật giáo hiện nay.

Tạp chí Triết học đã đăng nhiều bài viết quan trọng liên quan đến Phật giáo và giáo dục đạo đức tại Việt Nam, trong đó có tác phẩm của Cao Thu Hằng với tiêu đề “Phật giáo đối với việc giáo dục đạo đức ở Việt Nam hiện nay” (số 7 - 2014) Bài viết của Vũ Công Giao mang tên “Tư tưởng về quyền con người trong Phật giáo” (số 5 - 2016) cũng đóng góp vào việc tìm hiểu mối liên hệ giữa Phật giáo và quyền con người Ngoài ra, tác giả Nguyễn Thị Thành đã trình bày “Quan điểm của Phật giáo về vai trò, vị trí của phụ nữ” (số 6) nhằm làm rõ vai trò của phụ nữ trong bối cảnh Phật giáo.

Tác giả Hoàng Liên Tâm với: “Có phải Phật giáo đại thừa là Bà la môn giáo?” (Tạp chí nghiên cứu Phật học Số 3 - 2004)

Bài viết của tác giả Đặng Thị Lan mang tên “Phát huy giá trị Phật giáo trong điều kiện kinh tế thị trường” đã được trình bày tại Hội thảo khoa học quốc tế “Quốc sư Khuông Việt” Tác phẩm này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ứng dụng các giá trị Phật giáo trong bối cảnh phát triển kinh tế hiện nay, nhằm góp phần nâng cao đời sống tinh thần và văn hóa của cộng đồng Sự giao thoa giữa Phật giáo và kinh tế thị trường không chỉ giúp bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống mà còn tạo ra những cơ hội mới cho sự phát triển bền vững.

Phật giáo Việt Nam đầu kỷ nguyên độc lập đã khẳng định giá trị tiến bộ của tư tưởng bình đẳng mà Đức Phật đề xướng hơn hai nghìn năm trước Bài viết nêu bật những đóng góp tích cực của Phật giáo trong xã hội hiện nay, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát huy các giá trị của Phật giáo để xây dựng một nền đạo đức mới trong bối cảnh kinh tế thị trường.

Hầu hết các nghiên cứu về Phật giáo nhấn mạnh sự bất công xã hội và phân biệt đẳng cấp nghiêm trọng trong xã hội Ấn Độ cổ đại Phật giáo được khẳng định là một hệ tư tưởng đề xướng sự bình đẳng, khuyến khích việc đối xử công bằng với mọi người và môi trường xung quanh.

Mụ c đích, nhi ệm vụ nghiên cứu

Khóa luận này nhằm trình bày những tiền đề và điều kiện hình thành tư tưởng bình đẳng trong đạo Phật, đồng thời làm rõ nội dung và ý nghĩa của tư tưởng này đối với xã hội Việt Nam hiện nay Tư tưởng bình đẳng trong Phật giáo không chỉ phản ánh giá trị nhân văn sâu sắc mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững và hòa bình trong cộng đồng.

1 Làm rõ các tiền đề kinh tế, xã hội, văn hóa Ấn Độ dẫn đến sự ra đời tư tưởng bình đẳng trong Phật giáo.

2 Phân tích những nội dung cơ bản trong tư tưởng bình đẳng của Phật giáo.

3 Nêu những ý nghĩa của tư tưởng bình đẳng trong Phật giáo đối với xã hội Việt Nam hiện nay.

Khóa luận này được xây dựng dựa trên những tư tưởng nhân sinh quan của Phật giáo, các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo Nó cũng xem xét các quan điểm của Đảng trong việc áp dụng và phát huy các giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo Để thực hiện nghiên cứu, tác giả đã đọc và tra cứu nhiều tài liệu, sách báo và văn bản liên quan đến đề tài.

Tổng hợp và phân tích quan điểm của các nhà nghiên cứu.

Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, phương pháp logic, lịch sử, đối chiếu, so sánh,… để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu.

• Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng bình đẳng trong Phật giáo

Phạm vi nghiên cứu: Tư tưởng bình đẳng trong giáo lý Phật giáo nguyên thủy

Báo cáo khóa luận gồm 3 phần: Mở đầu, Nội dung chính và Kết luận Phần nội dung chính gồm 2 chương, 7 tiết

CHƯƠNG 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ RA ĐỜI CỦA TƯ TƯỞNG BÌNH ĐẲNG TRONG PHẬT GIÁO

1.1 Khái lược tư tưởng bình đẳng

1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội Ấn Độ cổ đại

1.3 Quá trình hình thành tư tưởng bình đẳng của Đức Phật Thích Ca

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG BÌNH ĐẲNG CỦA PHẬT GIÁO

1.1 Bình đẳng giữa các cá nhân giữa các giai cấp trong xã hội

1.2 Bình đẳng trong việc xuất gia tu học và cơ hội giải thoát

1.4 Ý nghĩa của tư tưởng bình đẳng trong Phật giáo đối với xã hội Việt Nam hiện nay.

CHƯƠNG 1: KHÁI LƯỢC TƯ TƯỞNG BÌNH ĐẲNG VÀ ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ RA ĐỜI CỦA TƯ TƯỞNG BÌNH ĐẲNG TRONG PHẬT GIÁO

1.1 Khái lược tư tưởng bình đẳng

1.1.1 Khái niệm bình đẳng, bất bình đẳng

Theo từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, bình đẳng được định nghĩa là trạng thái ngang hàng về địa vị và quyền lợi, trong đó "bình" có nghĩa là đều nhau và "đẳng" chỉ thứ bậc.

Bình đẳng xã hội thể hiện sự cân bằng giữa những gì cá nhân đóng góp cho xã hội và những gì họ nhận lại Những đóng góp này có thể mang tính tích cực hoặc tiêu cực, ảnh hưởng đến cộng đồng Trong khi đó, những lợi ích mà cá nhân nhận được có thể bao gồm địa vị xã hội, quyền lợi, tiền công, phần thưởng, hoặc sự công nhận từ xã hội, nhưng cũng có thể là hình phạt ở mức độ khác nhau.

Bình đẳng là sự ngang bằng giữa cá nhân và nhóm xã hội, không phân biệt giới tính, lứa tuổi, tôn giáo hay chủng tộc Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, với nam nữ có quyền như nhau Dù xã hội có sự chênh lệch và khác biệt, tất cả mọi người đều được tôn trọng, có quyền thể hiện tài năng và mưu cầu hạnh phúc, hướng tới những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống.

Bất bình đẳng là tình trạng không công bằng, thể hiện sự chênh lệch về cơ hội và lợi ích giữa các cá nhân trong cùng một nhóm hoặc giữa các nhóm khác nhau trong xã hội.

Bất bình đẳng xã hội biểu hiện khác nhau ở từng xã hội, với mức độ nghiêm trọng cao hơn trong những xã hội phát triển và phức tạp Nguyên nhân và hậu quả của bất bình đẳng thường gắn liền với các yếu tố như giai cấp, giới tính, chủng tộc và lãnh thổ, tạo ra những thách thức đặc thù cho từng cộng đồng.

Sự bất bình đẳng xuất hiện khi một số cá nhân hoặc cộng đồng vượt trội hơn những nhóm khác về một số khía cạnh nhất định Điều này thường xảy ra do mục đích kinh tế hoặc chính trị, dẫn đến việc những người mạnh mẽ lấn át kẻ yếu hơn Mặc dù xã hội công nhận sự khác biệt về của cải, tài năng hay địa vị, nhưng mỗi cá nhân đều có quyền công dân bình đẳng về nghĩa vụ và quyền hạn Tuy nhiên, khía cạnh đạo đức của bình đẳng xã hội thường bị bỏ qua, trong khi đây mới là điều mà xã hội thực sự cần thiết và thiếu thốn.

Tư tưởng bình đẳng trong Phật giáo nhấn mạnh rằng mọi người đều có quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc và quyền được tôn trọng sự sống của mình Sự chênh lệch và khác biệt trong cuộc sống không phải là nguyên nhân của bất bình đẳng Nếu mỗi người nhận thức được giá trị đạo đức mà tư tưởng bình đẳng trong Phật giáo đề xướng, sự bất bình đẳng sẽ được hạn chế.

1.1.2 Bình đẳng trong quan niệm của một số nhà triết học

Thuật ngữ "bình đẳng" và "quyền bình đẳng" không chỉ xuất hiện khi có pháp luật, mà đã tồn tại từ lâu trước đó Lần đầu tiên, khái niệm này được đề cập trong thời kỳ Cách mạng tư sản ở Châu Âu, khi các nhà triết học và tư tưởng luận giải về nhà nước và pháp luật.

Trong tác phẩm "Khảo luận thứ hai về chính quyền - chính quyền dân sự," John Locke đã phân tích về quyền con người và nguồn gốc của nhà nước, nhấn mạnh rằng con người có những quyền tự nhiên cơ bản như quyền tự do, quyền bình đẳng và quyền sở hữu Ông khẳng định rằng những quyền này phải được bảo vệ trong mọi chế độ xã hội, và mỗi người sinh ra đều bình đẳng, bất kể sự khác biệt về khả năng hay hoàn cảnh sống Locke cho rằng con người cần sử dụng lý trí tự nhiên để nhận thức nghĩa vụ và bổn phận của mình đối với người khác, nhằm duy trì sự bình đẳng về quyền lợi và ngăn chặn mọi hành vi xâm phạm đến lợi ích của người khác.

Trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật” của Montesquieu, chương 3 đề cập đến khái niệm bình đẳng, tác giả phân biệt giữa “tinh thần bình đẳng chân chính” và “tinh thần bình đẳng cực đoan” Ông nhấn mạnh rằng bình đẳng chân chính không đồng nghĩa với việc mọi người đều có quyền chỉ huy hoặc không ai bị chỉ huy, mà là sự chỉ huy giữa những người bình đẳng và sự phục tùng lẫn nhau trong mối quan hệ bình đẳng Nền dân chủ, theo Montesquieu, không phải là tình trạng vô chủ, mà là sự lãnh đạo của những người bình đẳng.

Trong tác phẩm “Bàn về khế ước xã hội”, Jean - Jacques Rousseau khẳng định rằng công ước xã hội tạo ra sự bình đẳng về tinh thần và pháp lý, nhằm thay thế sự không bình đẳng tự nhiên về thể chất Ông nhấn mạnh rằng mặc dù con người có sự khác biệt về thể chất và trí tuệ, nhưng trong khuôn khổ của công ước và pháp quyền, tất cả đều được coi là bình đẳng Tuy nhiên, Rousseau cũng chỉ ra rằng dưới sự cai trị của một chính phủ tồi tệ, sự bình đẳng chỉ mang tính chất bề ngoài và giả tạo.

Ông nhấn mạnh rằng trong các hệ thống lập pháp khác nhau, khái niệm về bình đẳng không nên được hiểu là mọi mức độ quyền lực về tài sản phải hoàn toàn ngang nhau.

Trong tác phẩm “Bàn về bất bình đẳng”, J.J Rousseau chỉ ra rằng những kẻ quyền thế thường biện minh cho sự bất bình đẳng, coi đó là quy luật tự nhiên Mặc dù con người sinh ra với sự khác biệt, nhưng bản chất con người là sinh vật xã hội, cần tồn tại trong mối quan hệ với nhau Cuộc sống không có xã hội sẽ trở nên gian nan và tàn nhẫn Do đó, nhu cầu về bình đẳng phát sinh từ tính xã hội của con người, nhằm đảm bảo mọi cá nhân được công nhận và đối xử như những thành viên có quyền lợi đầy đủ trong xã hội Bình đẳng ở đây không chỉ là sự tương đồng về thuộc tính sinh học mà là sự công nhận tư cách con người, bao gồm quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc Quyền bình đẳng là một quyền tự nhiên, và để được thừa nhận quyền này trước pháp luật, mỗi cá nhân cần được công nhận tư cách con người.

Kết cấu khóa luận

Ngày đăng: 17/12/2021, 07:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w