1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÌM HIỂU NGHỆ THUẬT CẢI LƯƠNG ở NAM BỘ VIỆT NAM

33 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 1,76 MB

Cấu trúc

  • 1. Lí do chọn đề tài 3 (0)
  • 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4 (4)
  • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4 (4)
  • 4. Phương pháp nghiên cứu 4 (4)
  • Chương 1. Cơ sở lí luận chung 4 (4)
    • 1.1 Diễn xướng dân gian 4 (4)
    • 1.2 Đặc điểm với các loại hình diễn xướng dân gian tiêu biểu 6 (6)
  • Chương 2. Tìm hiểu về cải lương 12 (13)
    • 2.1 Khái niệm 12 (13)
    • 2.2 Lịch sử hình thành và phát triển của cải lương 13 (0)
    • 2.3 Đặc điểm chính của cải lương 19 (19)
    • 2.4 Ý nghĩa, giá trị của cải lương trong sinh hoạt cộng đồng 22 (23)
    • 2.5 Các tác phẩm cải lương tiêu biểu 25 (26)
    • 2.6 Sự ảnh hưởng của cải lương với cả nước và thế giới 26 (0)
  • Chương 3. Liên hệ cá nhân/địa phương và đề xuất giải pháp 27 (28)
    • C. KẾT LUẬN 28 (29)

Nội dung

Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

Cải lương là một trong ba thể loại ca kịch truyền thống nổi bật của văn hóa Việt Nam, mặc dù ra đời sau tuồng và chèo, nhưng đã tồn tại gần 100 năm Mặc dù có nhiều sách báo và tài liệu về cải lương, nhưng ít có nghiên cứu sâu sắc về lịch sử phát triển, vẻ đẹp và vai trò quan trọng của loại hình nghệ thuật này.

Nhóm chúng em đã thực hiện một tiểu luận nhằm giúp bạn đọc yêu thích cải lương hiểu rõ hơn về bộ môn nghệ thuật này Đồng thời, chúng em mong muốn quảng bá nghệ thuật cải lương ra nước ngoài, để bạn bè trong và ngoài nước có thể nhận thấy vẻ đẹp truyền thống và độc đáo của nó.

Phương pháp nghiên cứu 4

Nhóm em nghiên cứu đề tài này thông qua việc phân tích tài liệu, so sánh và đối chiếu thông tin, đồng thời áp dụng phương pháp liên ngành để làm rõ các khía cạnh của vấn đề.

1 số đơn vị về các ngành về bên mảng du lịch và nghệ thuật

Cơ sở lí luận chung 4

Diễn xướng dân gian 4

Diễn xướng dân gian là một loại hình nghệ thuật đặc sắc, phản ánh đời sống sinh hoạt của người dân Việt Nam Nó phát triển từ các hoạt động lao động, tình cảm, tín ngưỡng tôn giáo và các sinh hoạt văn hóa cộng đồng Diễn xướng dân gian được xem là sự kết hợp hài hòa giữa ca hát và hành động, tạo nên một tổng thể nghệ thuật mang tính thẩm mỹ cao.

Diễn xướng gồm 3 phần chính:

• Xướng: Là phần biểu diễn lời ca tiếng hát hành những làn điệu, cách nói, xét về mặt biểu hiện của âm thanh và giai điệu

Diễn là một hình thức nghệ thuật thể hiện thông qua các điệu múa, cử chỉ và phong cách, cùng với cấu trúc không gian biểu diễn Những yếu tố này giúp làm nổi bật giá trị của lời nói, đồng thời tạo ra yếu tố thẩm mỹ cho tác phẩm.

• Âm nhạc: có giá trị phối hợp, như một mối liên kết và hỗ trợ, làm tăng thêm hiệu quả của toàn bộ quá trình diễn xướng

Diễn xướng dân gian Việt Nam thể hiện sự hòa trộn độc đáo giữa dân ca, dân vũ, nghi lễ và âm nhạc, tạo nên một bức tranh văn hóa đa dạng Các hình thức diễn xướng không chỉ gắn liền với không gian sinh hoạt cộng đồng như lễ hội và chợ, mà còn xuất hiện trong các không gian biểu diễn chuyên nghiệp và tôn giáo Mỗi vùng miền có những loại hình dân ca đặc trưng, từ miền núi phía Bắc đến Nam bộ, cho thấy sự phong phú trong văn hóa dân gian Sự vay mượn và tiếp biến giữa các loại hình dân ca tạo nên sự đa dạng, vừa lạ lẫm vừa quen thuộc, là lợi thế lớn cho phát triển du lịch văn hóa Ngoài giá trị thẩm mỹ, diễn xướng dân ca còn mang lại nhiều giá trị cho đời sống cá nhân và cộng đồng, giúp giải tỏa áp lực, thổ lộ tình cảm và xây dựng niềm cộng cảm xã hội.

Hình 1: Nghệ thuật diễn xướng dân gian Đồng Nai xưa

Đặc điểm với các loại hình diễn xướng dân gian tiêu biểu 6

Mỗi vùng miền ở Việt Nam đều sở hữu những làn điệu diễn xướng dân gian độc đáo, phản ánh rõ nét văn hóa đặc trưng của khu vực đó Mặc dù mỗi loại hình có những đặc điểm và kỹ thuật riêng, nhưng tất cả đều thể hiện sự tinh túy của văn hóa dân gian Việt Nam Dưới đây là 10 loại hình tiêu biểu trong diễn xướng dân gian Việt Nam.

Chèo là một loại hình nghệ thuật sân khấu cổ truyền đặc sắc của Việt Nam, phát triển mạnh mẽ ở vùng châu thổ sông Hồng và các khu vực miền núi phía Bắc Với tính dân tộc cao, chèo mang tính quần chúng và thường xuất hiện trong các hội hè, sử dụng ngôn ngữ đa thanh, đa nghĩa cùng với cách nói ví von giàu tính tự sự Để cảm nhận vẻ đẹp và sự độc đáo của chèo, người xem cần trực tiếp tham gia các buổi biểu diễn Hát chèo, có thể do một hoặc nhiều người thể hiện, với giai điệu phù hợp với giọng nói tự nhiên của người Việt, được hình thành từ các làn điệu dân ca và lời hát chủ yếu từ văn học dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Hình 2: Khỏi dựng vở Chèo xưa

Chầu văn, hay còn gọi là hát văn, hát hầu đồng, và hát bóng, là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền độc đáo của Việt Nam Nó gắn liền với nghi thức hầu đồng trong tín ngưỡng Tứ phủ (Đạo Mẫu) và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần, phản ánh sâu sắc văn hóa dân gian Việt Nam Với âm nhạc mang tính tâm linh và lời văn trang trọng, chầu văn được xem như một hình thức ca hát thể hiện sự tôn kính đối với các vị thánh Xuất phát từ vùng đồng bằng Bắc Bộ và có sự phát triển tại cung đình Huế, hát văn giữ một vị trí quan trọng trong di sản văn hóa Việt Nam.

Hình 3 :Liên hoan hát Chầu văn toàn quốc

Cải lương là một thể loại kịch hát đặc trưng của miền Nam Việt Nam, phát triển từ nhạc Đờn ca tài tử và dân ca vùng đồng bằng sông Cửu Long Ban đầu, các vở cải lương thường xoay quanh những tích xưa, như Trảm.

Trịnh Ân, Vợ Ngũ Vân Thiệu, và các tác phẩm như Cao Lũng vít thiết xa, Ngưu Cao tảo mộ, hay Thoại Khanh – Châu Tuấn đều mang ảnh hưởng của hát bội, do các soạn giả cải lương đầu tiên từng là soạn giả của sân khấu này Sau đó, các vở kịch về đề tài xã hội như Tội của ai, Khúc oan vô lượng, và Tứ đổ tường đã chuyển sang cấu trúc của kịch nói, với các hồi, màn, lớp, mở màn và hạ màn, phản ánh sự phát triển của hành động kịch Đặc biệt, dàn nhạc cải lương đóng vai trò thiết yếu trong mỗi tuồng diễn, không chỉ hỗ trợ giọng hát mà còn làm nổi bật tâm lý nhân vật và tăng cường kịch tính cho kịch bản, góp phần vào thành công của vở diễn.

Hình 4: Một cảnh trong vở cải lương Thái hậu Dương Vân Nga

- Quan họ: là một trong những làn điệu dân ca tiêu biểu của vùng châu thổ sông

Hồng ở miền Bắc Việt Nam, đặc biệt phát triển tại vùng văn hóa Kinh Bắc, nằm giữa hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh, với dòng sông Cầu được gọi là "dòng sông quan họ" Kinh Bắc, một tỉnh cũ bao gồm Bắc Ninh, Bắc Giang và một số khu vực của Lạng Sơn, Hưng Yên, Hà Nội, là nơi hình thành quan họ Sự chia tách địa lý đã dẫn đến việc quan họ mang tên các địa phương như quan họ Kinh Bắc, Bắc Giang và Bắc Ninh.

Hình 5: Hát Quan họ Bắc

Xẩm là một loại hình dân ca đặc sắc của Việt Nam, phổ biến tại đồng bằng và trung du Bắc Bộ Thuật ngữ "Xẩm" cũng chỉ những người hành nghề hát rong để kiếm sống Nghệ nhân Hà Thị Cầu (1928–2013) được xem là người hát xẩm cuối cùng của thế kỷ XX Tỉnh Ninh Bình đang nỗ lực trình UNESCO công nhận hát xẩm là di sản văn hóa thế giới cần được bảo vệ khẩn cấp Hát xẩm xưa thường là phương thức mưu sinh của người nghèo, đặc biệt là người khiếm thị, nhưng hiện nay đã được sân khấu hóa phục vụ du khách Xẩm thường được biểu diễn tại chợ, trên đường phố và nơi đông người, với tính ngẫu hứng cao, cho phép người biểu diễn sáng tác ngay tại chỗ.

Hình 6: Xẩm chợ,nghệ tuật hát Xẩm tại Hà Nam

Ca trù, hay còn gọi là hát cô đầu hoặc hát nhà trò, là một loại hình diễn xướng âm nhạc thính phòng phổ biến tại Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam, bắt nguồn từ thế kỷ 15 Đây từng là nghệ thuật yêu thích của giới quý tộc và trí thức, thể hiện sự kết hợp tinh tế giữa thi ca và âm nhạc Một buổi biểu diễn ca trù thường có ba thành phần chính: nữ ca sĩ (đào), nhạc công nam (kép) và người thưởng thức (quan viên) Không gian trình diễn ca trù thường nhỏ gọn, với đào ngồi ở giữa, còn kép và quan viên ngồi hai bên Khi bài hát được sáng tác và biểu diễn ngay tại chỗ, nó được gọi là "tức tịch." Ca trù không chỉ là thanh nhạc mà còn bao gồm cả khí nhạc, với ngôn ngữ âm nhạc tinh tế và sâu sắc.

Hình 7: Hát ca trù tại Liên hoan hát ca trù toàn quốc 2018

- Tuồng (hát bội): là những cách gọi một loại hình nhạc kịch thịnh hành tại Việt

Nam có nguồn gốc từ kinh kịch Trung Hoa, và khác biệt rõ rệt với các loại hình nghệ thuật như cải lương xã hội, cải lương Hồ Quảng, thoại kịch và opera Những hình thức này là những loại hình diễn xướng sân khấu mới, ra đời sau và được ưa chuộng hơn trong thời gian gần đây.

Hình 8: Nghệ thuật tuồng cổ

Hát bài chòi là một loại hình nghệ thuật dân ca và trò chơi dân gian đặc trưng ở miền Trung Việt Nam, đã phát triển thành sân khấu ca kịch Thường được tổ chức trong các lễ hội, đặc biệt là vào dịp Tết Nguyên Đán, hát chòi diễn ra tại làng quê với 9 hoặc 11 chòi được dựng lên, chia thành 2 bên, mỗi bên có 5 chòi cao 2-3m, đủ chỗ cho vài ba người ngồi, cùng với một chòi trung tâm (chòi mẹ) dành cho các vị chức sắc địa phương.

Bộ bài chòi được cải tiến từ bộ bài tam cúc, bao gồm 33 lá bài với các tên gọi nôm na như nhứt nọc, nhì nghèo, ông ầm, thằng bí, lá liễu, v.v Mỗi lá bài được vẽ trên giấy và dán vào thẻ tre, trong đó mỗi thẻ tre chứa ba con bài không trùng lặp nhau.

Bộ bài bao gồm 3 pho: Pho văn, Pho vạn và Pho sách, mỗi pho có 10 lá Để đủ 33 lá cho trò chơi, cần thêm 3 lá nữa là ông ầm đen, tử cẳng đen và cửu điều đen, nhằm phân biệt với 3 lá cùng tên nhưng màu đỏ.

Hình 9: Nghệ thuật hát bài chòi Trung bộ

Múa rối nước là một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian truyền thống độc đáo, xuất phát từ nền văn hóa lúa nước của người Việt Khác với múa rối thông thường, múa rối nước sử dụng mặt nước làm sân khấu, được gọi là nhà rối hay thủy đình, với phông che phía sau (tấm y môn) tạo không gian biểu diễn giống như ban thờ lớn ở Đình, Chùa Sân khấu được trang trí bằng cờ, quạt, voi, lọng, và cổng hàng mã, trong khi những con rối bằng gỗ được điều khiển từ phía sau thông qua hệ thống sào và dây Biểu diễn rối nước không thể thiếu âm thanh từ trống và pháo, tạo nên không khí sôi động cho nghệ thuật này.

Hình 10: Nghệ thuật múa rối nước

Hát xoan là một loại hình dân ca lễ nghi phong tục, thể hiện sự thờ cúng thần và thành hoàng thông qua nghệ thuật kết hợp giữa nhạc, hát và múa Loại hình nghệ thuật này thường được biểu diễn vào đầu xuân, đặc biệt phổ biến tại vùng đất tổ Hùng Vương - Phú Thọ, một tỉnh ở vùng trung du Việt Nam Vào mùa xuân, các phường xoan tổ chức khai xuân tại đình, miếu làng, với ngày mùng 5 âm lịch thường hát ở hội đền Hùng Mỗi phường chọn một vị trí cửa đình để biểu diễn, nhằm tạo sự gắn kết giữa cộng đồng địa phương Theo phong tục, người dân tại chỗ đóng vai anh, trong khi các làng khác đóng vai em, và sau khi kết nghĩa, việc kết hôn giữa trai gái hai bên sẽ bị cấm do mối quan hệ anh em.

Hình 11: Hát xoan Phú Thọ

Tìm hiểu về cải lương 12

Khái niệm 12

Cải lương là một loại hình nghệ thuật nổi tiếng với lịch sử lâu đời và ảnh hưởng sâu sắc đến công chúng Xuất phát từ miền Nam Việt Nam, cải lương được hình thành dựa trên nền tảng của nhạc Đờn ca tài tử, dân ca miền đồng bằng sông Cửu Long và nhạc tế lễ Những tác phẩm cải lương đặc sắc vẫn ghi dấu ấn mạnh mẽ trong lòng người yêu nghệ thuật cho đến ngày nay.

Chữ "cải lương" (改良) theo nghĩa Hán Việt được giáo sư Trần Văn Khê giải thích là "sửa đổi cho trở nên tốt hơn", thể hiện qua các yếu tố như sân khấu biểu diễn, đề tài kịch bản, nghệ thuật biểu diễn, dàn nhạc và bài bản Nghệ thuật Cải Lương đã cải cách và đổi mới từ nghệ thuật hát bội, chuyển từ một động từ thông thường thành một danh từ riêng Sau quá trình cải lương, nghệ thuật này đã có sự khác biệt rõ rệt so với nghệ thuật hát bội về cả nội dung lẫn hình thức.

Theo Vương Hồng Sển: tuy "có người cho rằng cải lương đã manh nha từ năm

Vào ngày 16 tháng 11 năm 1918, tuồng Gia Long tẩu quốc đã được công diễn tại Nhà Hát Tây Sài Gòn, đánh dấu sự ra đời của một cách hát mới lạ.

Cải lương ra đời trong bối cảnh bành trướng không ngừng, mở ra một nghề mới kết hợp giữa đờn ca và ca ra bộ Sự chỉnh đốn và thêm thắt liên tục đã tạo nên sự canh tân và cải cách, nhưng thời điểm chính xác hình thành của cải lương vẫn còn là một bí ẩn.

2.2 Lịch sử hình thành với phát triển của cải lương

• 01 – Giai đoạn tiền thân: Đờn ca tài tử

Kể từ khi Nguyễn Hoàng di cư vào miền Trung và thành lập triều đại ở Thuận Hóa, những đợt Nam tiến đã đưa người dân Xứ Đàng Trong vượt đèo Cù Mông, mở rộng lãnh thổ từ Champa đến Thủy Chân Lạp Tại miền đất Lục tỉnh xa xôi, những nghệ sĩ với di sản Nhã nhạc cung đình đã phát triển dòng nhạc Đờn Ca Tài Tử Miền Nam, thể hiện nỗi nhớ quê hương Họ thành lập các ban đờn ca tài tử, hoạt động trong các lễ hội tại tư gia như hôn lễ và tang lễ, với những tác phẩm nổi bật như Bình bán chấn, Lưu thủy trường, Nam ai, Nam xuân, Tứ đại cảnh, và Xuân tình.

Trần Văn Khải là một nhân vật quan trọng trong Nghệ Thuật Sân Khấu Việt Nam, được biết đến như ông tổ của dòng nhạc này Nguyễn Quang Đại, thường được gọi là ông Ba Đợi, là người sáng lập và hiện vẫn được dân chúng thờ phượng tại đình làng Vạn Phước, huyện Cần Đước, tỉnh Long An.

• 02 – Giai đoạn phôi thai: Ca trên sân khấu

Vào năm 1910, ban đờn ca tài tử nổi tiếng nhất miền Lục Tỉnh do Nguyễn Tống Triều, người xứ Cái Thia, dẫn dắt đã từng được mời sang Pháp để trình diễn ca cổ nhạc Trong nhóm, Tư Triều đảm nhiệm đàn kìm, Chín Quán chơi độc huyền cầm, Bảy Võ chơi đàn cò, cô Hai Nhiễu chơi đàn tranh, Mười Lý thổi tiêu, còn cô Ba Đắc đảm nhận phần chính ca và cô Hai Nhiễu phụ ca.

H 1: Tài tử Nguyễn Tống Triều (“Nghệ Thuật Sân Khấu VN”, trang 82)

Nguyễn Tống Triều là người tiên phong trong việc trình diễn ban nhạc trước công chúng Vào năm 1911, Trần Chánh Chiếu, chủ nhà hàng Minh Tân ở Mỹ Tho, đã mời ban nhạc của Tư Triều biểu diễn cho thực khách và nhận được sự đón nhận nồng nhiệt Ông Hộ, chủ rạp hát bóng Casino tại Mỹ Tho, cũng đã mời ban nhạc Tư Triều phụ diễn hàng tuần vào tối thứ tư và thứ bảy trước khi chiếu phim Một trong những tác phẩm nổi bật là Tứ Đại Oán, kể về truyện tích Lục Vân Tiên, đã thu hút sự yêu thích của khán giả, mặc dù chỉ có một người diễn ca mà không có sự tương tác giữa các nhân vật.

Nguyễn Tống Triều là nhân vật tiên phong trong việc phát triển ca kịch cải lương, khi ông đưa đờn ca cổ điển lên sân khấu Ông được xem là vị tổ thứ hai của bộ môn nghệ thuật độc đáo này.

• 03 – Giai đoạn hình thành: Ca kịch cải lương a/ Bước mở đầu: Ca ra bộ:

Năm 1915, Tống Hữu Định, thường gọi là Phó Mười Hai, cùng với Trần Quang Quờn và Phạm Đăng Đàng, đã thành lập một ban ca kịch tài tử tại Vĩnh Long Họ đã trình diễn tác phẩm Tứ Đại Oán, với sự tham gia của các đào kép trong vai Bùi Ông, Bùi Kiệm và Nguyệt Nga, vừa ca vừa diễn xuất trên sân khấu.

H 2: Một nhóm Đờn Ca Tài Tử ở Nam Bộ 1911

Vào năm 1916, tại thị xã Sa Đéc, hiện nay thuộc tỉnh Đồng Tháp, có một gánh xiếc nổi tiếng do ông Lê Văn Thận (André Thận) quản lý, cùng với các tiết mục ca ra bộ do các nghệ sĩ Bảy Thông, Tám Cang và đào Hai Cúc biểu diễn.

H 3: Quảng cáo cho gánh xiếc Cirque Jeune Annam Andre Thận

Nghệ thuật ca ra bộ là hình thức trình diễn sân khấu kết hợp giữa giọng hát và điệu bộ, trong đó hát giữ vai trò chính và ra bộ đóng vai trò phụ Diễn viên cần có giọng hát sâu lắng để thể hiện cảm xúc của bài ca, trong khi bộ tịch chỉ nhằm minh họa cho nội dung lời ca Sự ảnh hưởng của đờn ca tài tử cũng là một yếu tố quan trọng trong việc định hình phong cách này.

Vào năm 1917, Pierre Châu Văn Tú, thường được gọi là Thầy Năm Tú, đã tiếp quản gánh hát của André Thận và thành lập gánh cải lương đầu tiên tại Mỹ Tho Gánh hát này nổi bật với nhà hát riêng, các diễn viên được hóa trang và mặc trang phục phù hợp với nhân vật, cùng với sân khấu được trang trí công phu, có phông màn và cảnh vật tương ứng với nội dung các vở diễn như Hạnh Nguyên Cống Hồ (dựa trên truyện Nhị Độ Mai) và Trang Tử Cổ Bồn Ca (từ Nam Hoa Kinh).

Hát cải lương là một loại hình nghệ thuật ca diễn, nơi giọng hát và điệu bộ trên sân khấu đều quan trọng Trong ca ra bộ, diễn viên cần có giọng hát xuất sắc, nhưng trong hát cải lương, nếu giọng ca chỉ ở mức trung bình nhưng diễn xuất ấn tượng, vẫn có thể được công nhận là đào kép giỏi.

• 04 – Giai đoạn phát triển, từ 1917 đến 1922

Ca kịch cải lương không những được trình diễn ở Mỹ Tho và Sài Gòn, mà nhanh chóng được phổ biến khắp miền Lục Tỉnh

Tại Sài Gòn có gánh Tân Thịnh của Trương Văn Thông, lập năm 1920, dùng tên

“cải lương” trên bản hiệu của đoàn hát và treo câu đối làm tôn chỉ cho lối diễn xuất này:

CẢI cách hát ca theo tiến bộ;

LƯƠNG truyền tuồng tích sánh văn minh

Và cũng từ đấy, từ ngữ “cải lương” trở thành tên gọi chính thức của bộ môn nghệ thuật này

H 4: Gánh Hát Đồng Nữ Ban Ở Chợ Lớn có gánh Văn Hí Ban của Huỳnh Kim Vui, và gánh Tập Ích Ban

Vào năm 1921, các gánh tuồng Tàu nổi bật tại miền Nam Việt Nam bao gồm gánh Sĩ Đồng Ban do ông Bảy Sô quản lý ở Long Xuyên, gánh Kỳ Lân Ban của bà Huyện Xây ở Vĩnh Long, và gánh Tân Phước Nam của Bác sĩ Trần Văn Minh tại Sóc Trăng.

• 05 – Giai đoạn cực thịnh, từ 1923 đến 1945

Đặc điểm chính của cải lương 19

Cải lương là một loại hình nghệ thuật kịch hát được hình thành từ nhạc Đờn ca tài tử và dân ca miền đồng bằng sông Cửu Long, mang trong mình sự tổng hợp của hát bội và ảnh hưởng từ kịch nghệ phương Tây Qua nhiều thập kỷ phát triển, cải lương đã có những biến đổi để thu hút khán giả, từ nội dung tuồng tích, điệu ca, lời hát đến cách bày trí sân khấu Dù có thay đổi, các giá trị cốt lõi của nghệ thuật cải lương Nam bộ như nét bi, sự khôi hài, tính trữ tình và chất anh hùng ca vẫn luôn hiện hữu trong từng vở diễn.

Hình 1 Nghệ thuật cải lương Việt Nam

Nghệ thuật cải lương nổi bật với tính trữ tình qua nội dung tác phẩm mang đậm tính văn học kịch Các câu chuyện trong sân khấu cải lương thường phong phú về đề tài, chủ yếu là dân gian, truyền thuyết và lịch sử, phản ánh đời sống tinh thần của con người Văn học kịch cải lương không chỉ ghi lại hiện thực xã hội từ xa xưa đến hiện đại mà còn khai thác sâu sắc những mối quan hệ như tình thân, tình yêu và tình bạn, tạo nên chất liệu chính cho các tác phẩm.

Vì vậy, chất trữ tình là đặc trưng, đặc điểm sân khấu cải lương, là nghệ thuật tình cảm

Sân khấu cải lương, dù ở đề tài nào, luôn xoay quanh số phận con người, với tình yêu là chủ đề nổi bật Nhiều vở diễn sử dụng cấu trúc kịch điển hình: tử biệt - sinh ly - chia lìa - gặp lại, từ đó khai thác xung đột tình cảm và tạo nên cái bi, giúp khán giả nhận ra giá trị nhân bản Mỗi nhân vật đều có cuộc đời bi ai, nhưng mọi oan khiên cuối cùng đều được minh bạch, thể hiện kết cục có hậu - đặc trưng của cải lương và sân khấu phương Đông, cũng như nét thẩm mỹ tích cực của văn hóa truyền thống Việt Nam Bên cạnh đó, hài là yếu tố quan trọng trong sân khấu truyền thống, nhưng cải lương mang đến một nét hài riêng, tập trung vào diễn xuất, ngoại hình và ngôn ngữ của diễn viên Cái hài trong cải lương không chỉ là điểm xuyết mà còn diễn tả tình cảm nhân vật trong bối cảnh bi lụy Đặc biệt, chất anh hùng ca trong cải lương đã được phát triển từ những vở tuồng cổ từ năm 1921 cho đến thời kỳ cách mạng, kháng chiến.

Diễn viên cải lương thể hiện vai diễn qua ca hát, khác với kịch nói ở chỗ họ không nói mà sử dụng cử chỉ, điệu bộ phù hợp với lời ca, không cường điệu như hát bội Vương Hồng Sển nhận định rằng hát bội mang tính biểu tượng quá mức và thường la lối lớn tiếng, trong khi cải lương lại mang đến cảm xúc sâu lắng hơn Đến những năm 60, cải lương đã được bổ sung thêm các cảnh múa, đu bay và diễn võ nhằm tạo thêm sự sinh động cho tiết mục.

Dàn nhạc cải lương đóng vai trò quan trọng trong các vở diễn, không chỉ hỗ trợ giọng hát mà còn làm nổi bật tâm lý nhân vật và tăng cường kịch tính cho kịch bản Sự hiện diện của dàn nhạc là điều kiện cần thiết để một tuồng diễn trở nên hoàn chỉnh, góp phần vào sự thành công chung của vở cải lương.

Nghệ thuật cải lương ngay từ những ngày đầu đã chứng kiến sự song hành của hai dàn nhạc: dàn nhạc cổ và dàn nhạc tân Mặc dù vai trò và sự tham gia của hai dàn nhạc trong các vở diễn có sự khác biệt, chúng không hề lấn át nhau mà luôn bổ sung cho nhau Sự kết hợp này tạo nên một bản sắc độc đáo, hòa quyện giữa truyền thống và hiện đại trong âm nhạc cải lương.

Dàn nhạc cổ đóng vai trò quan trọng trong tuồng cải lương, được coi là linh hồn của nghệ thuật này Nó không chỉ mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống mà còn góp phần gìn giữ di sản âm nhạc dân tộc Cấu trúc của dàn nhạc cổ thường bao gồm các nhạc cụ như đàn tranh, đàn bầu, đàn kìm, đàn cò, đàn tỳ bà, guitar phím lõm, đàn sến, song lang và sáo trúc.

Dàn nhạc tân, mặc dù chỉ đóng vai phụ, nhưng rất tích cực và đa dạng về nhạc cụ Ngay từ khi cải lương hình thành, dàn nhạc tân đã có mặt và trải qua ba giai đoạn phát triển: từ 1920–1940, 1940–1960 và 1960–1975 Trong giai đoạn đầu, dàn nhạc tân chỉ đóng vai trò quảng cáo, biểu diễn trước khi tuồng cải lương bắt đầu và chỉ có bộ hơi cùng dàn trống jazz Giai đoạn thứ hai chứng kiến dàn nhạc tân tham gia vào vở diễn, nhưng chỉ hạn chế đệm cho diễn viên hát những đoạn tân nhạc, với sự bổ sung của hai cây guitar solo và guitar bass Đến giai đoạn thứ ba, dàn nhạc tân đã có vai trò ngang hàng với dàn nhạc cổ, không chỉ đệm cho tân nhạc mà còn phụ họa cho các vai diễn, với sự xuất hiện của piano và organ.

Hiện nay, dàn nhạc tân đã tích hợp nhiều loại nhạc cụ hiện đại, đặc biệt là cây organ điện tử với chức năng đa dạng Tuy nhiên, sự lạm dụng organ điện tử trên sân khấu cải lương đang làm ảnh hưởng đến hồn và chất âm của nhạc truyền thống, dẫn đến sự sai lệch trong bản sắc của cải lương.

Trong các vở tuồng tích xưa, y phục của diễn viên và bối cảnh sân khấu thường được chọn lựa để gợi nhắc về nơi xảy ra câu chuyện, nhưng vẫn chỉ mang tính ước lệ và chưa phản ánh thực tế Ngược lại, trong các vở diễn về đề tài xã hội, diễn viên thường ăn mặc giống như nhân vật trong đời sống thực.

Ý nghĩa, giá trị của cải lương trong sinh hoạt cộng đồng 22

Cải lương là một thể loại sân khấu độc đáo của dân tộc Việt Nam, kết hợp giữa âm nhạc truyền thống (nhạc cung đình Huế) và kịch nói phương Tây, đồng thời duy trì yếu tố của sân khấu cổ truyền (hát bộ) Thể loại này mang đến vẻ đẹp của kịch bản phương Tây, hòa quyện với tiếng hát và điệu bộ diễn tả của văn hóa dân tộc Phần truyền thống đóng vai trò quyết định, thể hiện qua cách hát, ngôn từ, điệu bộ và tuồng tích, gắn liền với lịch sử dựng nước và tiếp thu các hình thức văn hóa.

Cải lương không chỉ mang tính giải trí mà còn mang tính giáo dục cao, truyền tải những bài học về hiếu, trung, tín, lễ, tiết, nghĩa, hướng con người đến những giá trị tốt đẹp Mặc dù có một bộ phận nhỏ cải lương có nội dung câu khách, nhưng đa số tác phẩm đều tích cực, khuyến khích tinh thần yêu nước và tương thân tương ái Các tuồng cải lương, dù dựa trên tích cũ của Trung Quốc, vẫn phản ánh những giá trị truyền thống của dân tộc Ví dụ, vở San hậu tôn vinh khí tiết và tinh thần vì quốc gia, trong khi Bên cầu dệt lụa ca ngợi tình yêu chân chính và giá trị con người Các bản vọng cổ như Tần Quỳnh khóc bạn hay Tiếng độc huyền cầm trên bắc Cần Thơ dễ dàng nêu bật những nội dung này, từ tình bạn thủy chung đến tinh thần nhân ái, đồng thời bảo vệ bản sắc dân tộc.

Những năm 1960, sự nô dịch quân sự và ảnh hưởng tiêu cực của văn hóa Mỹ đã tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, dẫn đến việc xuất hiện nhiều thuật ngữ như “lai căng”, “mất gốc”, “vong bản” Thời kỳ này chứng kiến sự bùng nổ của các hoạt động bảo vệ văn hóa dân tộc Trong sân khấu cải lương, nhiều vở diễn như Sân khấu về khuya, Tuyệt tình ca, Nước biển mưa nguồn, và Con cò trắng đã phản ánh tinh thần này, nhắc nhở mọi người về nguy cơ vong bản Các bản ca cổ cũng đóng góp tích cực với những tác phẩm như Rước tình về với quê hương, Lý ngựa ô, và Đám cưới đầu xuân, bên cạnh những bản như Trăng sáng vườn chè, Trầu cau, mô tả đời sống xã hội Việt Nam trước đây, kêu gọi gìn giữ nguồn cội.

Cải lương đóng vai trò quan trọng trong việc gìn giữ các giá trị truyền thống dân tộc, giúp mọi người hướng tới những điều tốt đẹp Việc nghe và xem cải lương không chỉ mang lại ý nghĩa sâu sắc mà còn giúp chúng ta hiểu rõ hơn về di sản quý báu của ông cha Điều này không chỉ duy trì giá trị của cải lương mà còn góp phần vào sự phát triển văn hóa của dân tộc Việt Nam, đồng thời giáo dục thế hệ trẻ về lịch sử đất nước.

Nghệ thuật Cải lương là một viên ngọc quý trong dòng chảy lịch sử nghệ thuật dân tộc, thể hiện sức sống và sự sáng tạo mãnh liệt Với khả năng dung nạp và chọn lọc tinh hoa nghệ thuật từ trong nước và quốc tế, Cải lương luôn giữ được sự mới mẻ và hấp dẫn kể từ khi ra đời Các nghệ nhân tiền bối đã không ngừng bồi đắp và sáng tạo, giúp nghệ thuật Cải lương phát triển đa dạng và phong phú theo thời gian, đặc biệt là nghệ thuật Cải lương Tuồng cổ.

• Giá trị truyền nghề - Giá trị nhân văn:

Tại TPHCM, nghệ thuật Tuồng cổ phát triển mạnh mẽ với hai dòng tộc chính là đại gia đình Vĩnh Xuân và dòng họ Bầu Thắng - Minh Tơ - Thanh Tòng cùng với Huỳnh Long Qua thời gian, không chỉ số lượng diễn viên, nhạc sĩ và nhạc công gia tăng, mà còn có nhiều người tham gia vào các nghề liên quan như may phục trang, làm đạo cụ, mũ mão và hài, góp phần làm phong phú thêm cho bộ môn nghệ thuật này.

NSND Thanh Tòng, được coi là "Thống soái" của nghệ thuật Cải lương Tuồng cổ, là một trong những nhân vật quan trọng của thế hệ thứ tư trong gia đình nghệ thuật Hát bội từ đầu thế kỷ XX Cùng với người chú ruột, nhạc sĩ Đức Phú, ông đã đóng góp lớn vào việc xây dựng cầu nối giữa các thế hệ, góp phần quyết định vào cuộc "lột xác" của Cải lương từ Hát bội sang Cải lương Hồ Quảng Nhờ đó, diện mạo của Cải lương Tuồng cổ Việt Nam đã dần được khẳng định và tỏa sáng trong dòng chảy của nghệ thuật Cải lương.

Sau năm 1975, nghệ sĩ Thanh Tòng không chỉ là một nghệ sĩ biểu diễn mà còn là một tác giả và nhà sư phạm, truyền đạt đam mê cho thế hệ nghệ sĩ tiếp theo Ông đã góp phần hình thành một lớp nghệ sĩ tài năng, cùng nhau xây dựng nền nghệ thuật Cải lương Tuồng cổ, với những tên tuổi nổi bật như Ngọc Đáng, Hữu Lợi, Xuân Yến, và nhiều nghệ sĩ khác như Hữu Cảnh, Trường Sơn, Thanh Loan, và Thanh Thế.

Sân khấu cải lương Tuồng cổ nổi bật với các tuồng tích mang tính giáo dục sâu sắc, thường xoay quanh những câu chuyện về hiếu, trung, tín, lễ, tiết và nghĩa Những tác phẩm này không chỉ giải trí mà còn truyền tải những bài học quý giá, giúp con người hướng thiện và phát triển nhân cách.

Cải lương, một hình thức nghệ thuật truyền thống của Việt Nam, đã được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và trải qua nhiều thay đổi theo thời gian Mặc dù ra đời sau các thể loại như hát chèo và hát bội, cải lương đã nhanh chóng chiếm lĩnh trái tim của người dân Nam Bộ và trở thành một phần không thể thiếu trong văn hóa kịch nghệ Việt Nam Sự phát triển và thử thách của cải lương cho thấy sức sống mãnh liệt và vị trí vững chắc của nó trong lòng người Việt.

Sau năm 1975, trong khi các nghệ sĩ kịch nói và cải lương nhanh chóng hòa nhập vào đời sống xã hội, đội ngũ nghệ sĩ Cải lương Hồ Quảng lại gặp khó khăn do các yếu tố văn hóa nước ngoài không còn phù hợp Nhiều nghệ sĩ trong trường phái này phải chuyển sang nghề khác để sinh sống NS Thanh Tòng đã nhận thức được vai trò quan trọng của người nghệ sĩ trong việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc và quyết tâm loại bỏ các yếu tố vay mượn trong âm nhạc và vũ đạo Ông nghiên cứu sâu về các trình thức vũ đạo hát bội, thế võ Việt và các điệu Lý, Dân ca để thử nghiệm và đưa lên sân khấu, đồng thời tận dụng giai điệu ngọt ngào của các bài Lý dân gian.

Việt Nam sở hữu nhiều bài hát dân gian độc đáo như Lý Cái Mơn, Lý Chuồn chuồn, Lý Chiều chiều, Lý Cây bông, Lý Mù sương, Lý Con sáo, và Trăng thu Dạ khúc Những bài hát này được đưa vào bài bản cải lương, hòa quyện giữa cổ điển và hiện đại, và được sử dụng một cách nhuần nhuyễn trong các lớp diễn phù hợp.

Hình 5 Cố NSND Thanh Tòng và con gái là NSƯT Quế Trân biểu diễn giao lưu cùng các nghệ sĩ sân khấu cổ truyền Nhật Bản

Đoàn Minh Tơ đã khẳng định thế mạnh của mình trong thể loại Tuồng cổ qua nhiều vở diễn lịch sử Việt Nam nổi bật Các tác phẩm như "Dựng cờ cứu nước," "Câu thơ yên ngựa," "Giai nhân và Dũng tướng," "Ngọn lửa Thăng Long," "Bảo táp Nguyên phong," và "Tô Hiến Thành xử án" đã tạo dấu ấn sâu sắc trong lòng khán giả.

Má hồng soi kiếm bạc và Bức ngôn đồ Đại Việt là những tác phẩm tiêu biểu trong nghệ thuật Tuồng cổ, kết hợp giữa âm nhạc Bolero và Dân ca Các nhân vật lịch sử như Lý Thường Kiệt, Tô Hiến Thành, Bùi Thị Xuân, Nguyễn Huệ, và Phạm Cự Chích được khắc họa với tính giáo dục cao, góp phần định hướng thẩm mỹ nghệ thuật sân khấu Sự phát triển này thể hiện qua biên kịch, âm nhạc, dàn dựng và vũ đạo, tạo nên những trình thức vũ đạo đẹp mắt và diễn xuất sâu sắc, làm nổi bật sắc thái độc đáo của nghệ thuật Cải lương Tuồng cổ.

Các tác phẩm cải lương tiêu biểu 25

Điều làm nên sự hấp dẫn và nổi tiếng của cải lương không thể không kể đến các tác phẩm đã đi cùng năm tháng như:

- Chuyện tình An Lộc Sơn (Thế Châu)

- Đời cô Lựu (Trần Hữu Trang)

- Giọt máu quân vương (Viễn Châu)

- Lan và Điệp (Trần Hữu Trang)

- Máu nhuộm sân chùa (Yên Lang)

- Đợi anh mùa lá rụng (Hà Triều-Hoa Phượng)

- Kiếp chồng chung (Điêu Huyền)

- Hỏa Sơn thần nữ (Yên Lang)

- Tô Ánh Nguyệt (Trần Hữu Trang)

- Gió giao mùa (Ngọc Điệp)

- Hoa Mộc Lan (Viễn Châu)

Các tác phẩm Cải Lương phản ánh nhiều thời kỳ lịch sử của con người, từ phong kiến với chuyện tình An Lộc Sơn đến hiện đại như Lan và Điệp Chúng bao gồm cả những tác phẩm chuyển thể nổi tiếng như Hoa Mộc Lan và các sáng tác độc đáo như Đời cô Lựu Điều này chứng tỏ rằng, mặc dù Cải Lương ra đời sau nhiều loại hình nghệ thuật khác, nhưng nó vẫn mang tính phong phú và sâu sắc, đủ sức thu hút khán giả và giữ cho họ luôn hứng thú với nội dung.

2.6 Sự ảnh của cải lương trong nước với quốc tế:

Nghệ thuật cải lương đã trải qua một thế kỷ phát triển với nhiều thăng trầm Ngay từ khi ra đời, nó đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của công chúng và phát triển mạnh mẽ ở cả ba miền, phục vụ nhu cầu tinh thần và thẩm mỹ của người dân, đặc biệt là tầng lớp lao động Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, cải lương cũng gặp phải những giai đoạn bị hiểu sai và đánh giá thấp, thậm chí bị cấm Rất may, xã hội đã kịp thời nhận ra những định kiến sai lầm để khôi phục và phát triển nghệ thuật này.

Sự ảnh hưởng của cải lương với cả nước và thế giới 26

Cải lương, được các nghệ sĩ tiền bối sử dụng như một vũ khí tinh thần, đã khơi dậy lòng yêu nước và khích lệ quần chúng tham gia vào các phong trào cách mạng, đặc biệt ở Nam Bộ Nhiều tác phẩm và vai diễn nổi bật đã trở thành di sản lịch sử, ghi dấu ấn sâu sắc trong ký ức của nhiều thế hệ công chúng.

Bộ môn Cải lương vẫn được yêu mến nhờ vào sự hiện diện của các sân khấu kịch nghệ và ca nhạc trẻ, đồng thời giữ vững vị trí quan trọng trong lòng khán giả Trong những năm gần đây, các nghệ sĩ như Thanh Tòng, Út Bạch Lan, và Bạch Tuyết đã tổ chức nhiều đêm diễn Cải lương, tái hiện các trích đoạn từ những tuồng nổi tiếng, thu hút đông đảo người hâm mộ Các chương trình truyền hình như Cánh chim không mỏi và Vầng trăng Cổ nhạc cũng nhận được sự quan tâm lớn từ khán giả, trong khi hai đài HTV7 và HTV9 thường xuyên phát sóng nhiều vở tuồng Cải lương mới và cũ.

Khi ra nước ngoài, nhiều người vẫn thưởng thức tiếng hát của các nghệ sĩ trẻ Việt kiều biểu diễn Cải lương, và khán giả hải ngoại sẵn sàng dành thời gian để mua vé xem các buổi diễn từ nghệ sĩ Việt Nam Cải lương đặc biệt thịnh hành tại Pháp và Mỹ, nơi nhiều nghệ sĩ không chỉ tái hiện các vở tuồng cổ điển mà còn sáng tạo những tác phẩm mới.

Các vở cải lương, đặc biệt là vở "Nhật thực," đã nhận được sự đón nhận nồng nhiệt từ bạn bè quốc tế, như Hàn Quốc "Nhật thực" không chỉ là một vở cải lương thể nghiệm nổi bật tại Liên hoan Sân khấu thể nghiệm quốc tế 2019 ở Hà Nội, mà còn thể hiện tuyên ngôn của nghệ sĩ trong việc bảo tồn các giá trị văn hóa đặc sắc của nghệ thuật cải lương Vở diễn thành công trong việc giới thiệu những đặc trưng của cải lương, từ âm nhạc sâu lắng đến vũ đạo đẹp mắt, dù có sự khác biệt về ngôn ngữ, tất cả đều thể hiện tâm hồn phong phú của người phương Nam.

Liên hệ cá nhân/địa phương và đề xuất giải pháp 27

Ngày đăng: 15/12/2021, 12:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Nghệ thuật diễn xướng dân gian Đồng Nai xưa - TÌM HIỂU NGHỆ THUẬT CẢI LƯƠNG ở NAM BỘ VIỆT NAM
Hình 1 Nghệ thuật diễn xướng dân gian Đồng Nai xưa (Trang 6)
Hình 3 :Liên hoan hát Chầu văn toàn quốc - TÌM HIỂU NGHỆ THUẬT CẢI LƯƠNG ở NAM BỘ VIỆT NAM
Hình 3 Liên hoan hát Chầu văn toàn quốc (Trang 7)
Hình 4: Một cảnh trong vở cải lương Thái hậu Dương Vân Nga - TÌM HIỂU NGHỆ THUẬT CẢI LƯƠNG ở NAM BỘ VIỆT NAM
Hình 4 Một cảnh trong vở cải lương Thái hậu Dương Vân Nga (Trang 8)
Hình 6: Xẩm chợ,nghệ tuật hát Xẩm tại Hà Nam - TÌM HIỂU NGHỆ THUẬT CẢI LƯƠNG ở NAM BỘ VIỆT NAM
Hình 6 Xẩm chợ,nghệ tuật hát Xẩm tại Hà Nam (Trang 9)
Hình 8: Nghệ thuật tuồng cổ - TÌM HIỂU NGHỆ THUẬT CẢI LƯƠNG ở NAM BỘ VIỆT NAM
Hình 8 Nghệ thuật tuồng cổ (Trang 10)
Hình 10: Nghệ thuật múa rối nước - TÌM HIỂU NGHỆ THUẬT CẢI LƯƠNG ở NAM BỘ VIỆT NAM
Hình 10 Nghệ thuật múa rối nước (Trang 12)
Hình 11: Hát xoan Phú Thọ - TÌM HIỂU NGHỆ THUẬT CẢI LƯƠNG ở NAM BỘ VIỆT NAM
Hình 11 Hát xoan Phú Thọ (Trang 12)
Hình 1 Nghệ thuật cải lương Việt Nam - TÌM HIỂU NGHỆ THUẬT CẢI LƯƠNG ở NAM BỘ VIỆT NAM
Hình 1 Nghệ thuật cải lương Việt Nam (Trang 19)
Hình 2 Những nhân vật trong một vở cải lương - TÌM HIỂU NGHỆ THUẬT CẢI LƯƠNG ở NAM BỘ VIỆT NAM
Hình 2 Những nhân vật trong một vở cải lương (Trang 21)
Hình 3 Dàn nhạc cổ - TÌM HIỂU NGHỆ THUẬT CẢI LƯƠNG ở NAM BỘ VIỆT NAM
Hình 3 Dàn nhạc cổ (Trang 22)
Hình 4 Trang phục và bối cảnh tuồng tích xưa  2.4 Ý nghĩa, giá trị của cải lương trong sinh hoạt cộng đồng: - TÌM HIỂU NGHỆ THUẬT CẢI LƯƠNG ở NAM BỘ VIỆT NAM
Hình 4 Trang phục và bối cảnh tuồng tích xưa 2.4 Ý nghĩa, giá trị của cải lương trong sinh hoạt cộng đồng: (Trang 23)
Hình 5 Cố NSND Thanh Tòng và con gái là NSƯT Quế Trân biểu diễn giao - TÌM HIỂU NGHỆ THUẬT CẢI LƯƠNG ở NAM BỘ VIỆT NAM
Hình 5 Cố NSND Thanh Tòng và con gái là NSƯT Quế Trân biểu diễn giao (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w