1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đồ án ra hoa in vitro trên cây có thân ngầm trong đất

34 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ra hoa in vitro trên cây có thân ngầm trong đất
Người hướng dẫn TS. Trịnh Thị Lan Anh
Trường học Trường ĐH Công nghệ Tp HCM
Chuyên ngành Công nghệ sinh học thực vật
Thể loại đồ án
Thành phố Tp HCM
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 836,03 KB

Cấu trúc

  • Danh mục chú thích

  • LỜI CẢM ƠN

  • LỜI MỞ ĐẦU

  • I/ Giới thiệu

  • II/ Nội dung

    • 1. Điều kiện in vitro

    • 2. Sự tăng trưởng thực vật và sự ra hoa in vitro

    • 3. Giai đoạn phát triển

    • 4. Tỷ lệ C / N và mức khoáng chất

    • 5. Hình thái hoa in vitro

  • III/ Ra hoa in vitro tren 1 số loài có thân ngầm dưới đất

    • 1. Tre (Bambusa spp)

    • 2. Rau diếp xoăn (Cichorium intybus)

    • 3. Diên hồ sách (Corydalis yanhusuo)

    • 4. Nghệ tây (Crocus sativus)

    • 5. Hoa diên vĩ (Iris)

    • 6. Kniphofia leucocephala

    • 7. Hoa loa kèn (Lilium x cv. Star Gazer)

    • 8. Hoa lan (Orchids)

    • 9. Cymbidium spp.

    • 10. Doritis pulcherimma x Kingiella philipinensis

    • 11. Ornithogalum arabicum

    • 12. Nhân sâm (Panax ginseng)

    • 13. Dạ lan (Hyacinthus orientalis)

    • 14. Allium

    • Ornithogalum arabicum

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nội dung

Các thành phần môi trường, nồng độ các chất điều hòa sinh trưởng thực vật (PGR), điều kiện nuôi cấy, giai đoạn sinh lý của nguồn mẫu cũng như các mô hay cơ quan dùng để nuôi cấy là các yếu tố làm ảnh hưởng đến việc ra hoa in vitro. Do đó, trong điều kiện nuôi cấy in vitro, các quy trình được kiểm soát và quản lý chặt chẽ để nghiên cứu việc ra hoa, cảm ứng hoa và phát sinh hình thái của hoa. Nó cũng có thể được áp dụng như một công cụ để đẩy nhanh quá trình nhân giống hoặc có thể được điều chỉnh để sản xuất các sản phẩm có nguồn gốc từ hoa. Các nồng độ và tỷ lệ các chất điều hòa sinh trưởng thực vật giảm trong môi trường đã được tìm thấy có mối tương quan chặt chẽ với sự sinh trưởng và phát triển các cơ quan hoa từ chồi hoặc mô sẹo. Gần đây, mức độ tăng trưởng đã được chứng minh là ảnh hưởng đến điều hòa gen và phát triển cơ quan trong nuôi cấy in vitro. Điều này bao gồm các khía cạnh khác nhau trong việc kiểm soát sự phát triển hoa và phát triển của các tế bào ngầm trong đất khi nuôi cấy in vitro. Nó nhấn mạnh tầm quan trọng của hệ thống nuôi cấy mô như dụng cụ để nghiên cứu nhiều khía cạnh khác nhau của việc ra hoa có kiểm soát tiến tới tiềm năng của cây có thân ngầm trong đất đưa vào các ngành công nghiệp trang trí, thực phẩm, dược liệu và CN ghép cành. Giai đoạn phát sinh hình thái hoặc quá trình ra hoa, là một trong những giai đoạn quan trọng trong phát triển thực vật, chu kỳ sống và sản xuất giống. Quá trình này liên quan đến sự cảm ứng và phát triển của hoa và cơ quan của chúng đã nghiên cứu và ứng dụng cho nhiều thực vật nuôi cấy in vitro. Những tiến bộ trong kỹ thuật nuôi cấy tế bào mô thực vật cung cấp một hệ thống tuyệt vời để nghiên cứu các khía cạnh sinh lý và sinh học phân tử của thực vật, bao gồm cả việc ra hoa.

Điều kiện in vitro

Kỹ thuật nuôi cấy mô mang lại nhiều ưu điểm, bao gồm khả năng điều chỉnh các điều kiện môi trường và thành phần môi trường như chất dinh dưỡng, vitamin, cũng như việc tăng cường hoặc giảm thiểu chất điều hòa sinh trưởng thực vật Các yếu tố như thành phần môi trường, điều kiện tăng trưởng và nguồn mẫu đều có ảnh hưởng lớn đến sự phát sinh hình thái của cây trồng Nghiên cứu ban đầu về Aquilegia đã chỉ ra những khía cạnh quan trọng này (Tepfer et al, 1963, tóm tắt trong Rastogi và Sawheny).

Nghiên cứu của Tepfer et al (1989) và Lu et al (1988, 2000) chỉ ra rằng các thành phần môi trường khác nhau là cần thiết để phát triển các loài hoa khác nhau Mô hình phát triển của các loài hoa phụ thuộc vào các yếu tố môi trường, và bất kỳ thay đổi nào trong các thành phần này có thể ảnh hưởng đến biểu hiện hình thái của chúng Mặc dù các thành phần cơ bản có sự khác biệt, các yếu tố như tỷ lệ chất điều hòa sinh trưởng, nhu cầu dinh dưỡng, pH, nhiệt độ và ánh sáng cần được nghiên cứu riêng lẻ cho từng loài hoặc từng loại cây trồng (Rastogi và Sawheny, 1989).

Sự tăng trưởng thực vật và sự ra hoa in vitro

Chất điều hoà sinh trưởng thực vật đóng vai trò quan trọng trong việc tái tạo và phát triển cơ quan hoa in vitro, như đã được thảo luận trong nhiều đánh giá trước đây.

Cytokinin, gibberellin và auxin là những chất điều hòa sinh trưởng thực vật phổ biến nhất được sử dụng để kích thích ra hoa trong ống nghiệm (Scorza, 1982; Dickens và Van Staden, 1988; Naor et al, 2004) Một số chất như GA3 và IAA có thể ức chế hoặc giảm sự ra hoa, trong khi các chất khác lại được xem là chất kích thích tăng trưởng (de Fossard, 1974; Rastogi và Sawheny, 1989) Nghiên cứu trước đây đã chỉ ra mối tương quan giữa nồng độ chất điều hòa sinh trưởng và sự thay đổi hình thái ra hoa (Tepfer et al, 1966; Bilderback, 1972; Sano và Himeno).

Nghiên cứu gần đây về Hyacinthus đã chỉ ra mối quan hệ giữa chất sinh trưởng thực vật và sự phát triển của cơ quan hoa, với các công cụ sinh học phân tử được sử dụng để chứng minh điều này (Li et al, 2002; Xu et al, 2004) Sự thay đổi trong tỷ lệ chất sinh trưởng thực vật là cần thiết cho sự phát triển của các bộ vỏ hoặc cơ quan hoa khác nhau Bảng 1 tóm tắt vai trò của các chất sinh trưởng thực vật trong quá trình nở hoa của cây chồi dưới trong ống nghiệm Khi mẫu cấy là chồi hoặc các cơ quan, chất sinh trưởng thực vật có thể ảnh hưởng đến hình thái và phát triển của các cơ quan hoa Ngược lại, khi mô cấy là chồi sinh dưỡng hoặc mô, chất sinh trưởng có thể tác động đến giai đoạn gây cảm ứng hoa hoặc phát triển cơ quan hoa Trong một số trường hợp, nuôi cấy hoa in vitro diễn ra mà không cần chất sinh trưởng thực vật, cho thấy sự tương tác giữa chất sinh trưởng và các yếu tố sinh lý khác trong chồi Gibberellin đã được chứng minh là kích thích phát triển hoa in vitro trong Zantedeschia, tương tự như ảnh hưởng của nó trong tế bào (Naor et al, 2004), và cả gibberellin lẫn cytokinin đều kích thích ra hoa trong ống nghiệm ở Orichophragmus violaceus, có khả năng thay thế điều trị lạnh (Luo và Lan, 2000).

Giai đoạn phát triển

Thực vật hạt kín trải qua ba giai đoạn trong vòng đời: cây non, trưởng thành và sinh sản Thời gian cho mỗi giai đoạn có thể thay đổi từ rất ngắn đến kéo dài nhiều năm Cây thân thảo hàng năm thường có giai đoạn chưa trưởng thành ngắn, trong khi cây thân thảo lâu năm có sự phân biệt rõ ràng giữa giai đoạn chưa trưởng thành và trưởng thành Đối với cây chồi có thân ngầm, giai đoạn chưa trưởng thành có thể kéo dài từ 1-3 năm, mặc dù một số loài như Urginea có thời gian dài hơn.

Sự chuyển đổi từ giai đoạn chưa trưởng thành sang giai đoạn trưởng thành của thực vật được kiểm soát bởi các hệ thống nội sinh, với sự thay đổi sinh lý từ không có năng lực thành có năng lực Mô phân sinh có khả năng đáp ứng với các tín hiệu môi trường, dẫn đến sự hình thành hoa, thể hiện qua những thay đổi trong hình thái và sinh lý phát triển của mô phân sinh chồi Sau khi hình thành cơ quan hoa, những thay đổi này thường đi kèm với việc chấm dứt các hoạt động phân sinh Trong các tế bào chồi dưới, sự chưa trưởng thành được biểu hiện như một cơ quan lưu trữ cho hoa hoặc một mô phân sinh chồi, và ở một số loài, chồi chưa trưởng thành có thể được biểu hiện bằng số lượng củ dưới ngưỡng quan trọng Kích thước củ tối thiểu cho việc ra hoa phụ thuộc vào loài và các điều kiện về giống và môi trường.

Lilium có khả năng phát triển trong ống nghiệm, với tuổi sinh lý học đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi từ cây con sang cây trưởng thành có kích thước bầu dục Nghiên cứu gần đây về Zantedeschia cho thấy sự ra hoa in vitro có thể được kích thích bằng GA3, và chồi có thể ra hoa bất kể kích thước hay vị trí, ngoại trừ các cụm chồi trên môi trường có nồng độ BA cao (Naor et al, 2005) Cây trưởng thành có thân ngầm có thể mang đặc tính của củ và hạt, hoặc phát triển vô tính từ cây trưởng thành, nhưng trong các tế bào nuôi cấy mô, giai đoạn trưởng thành có thể bị đảo ngược thành giai đoạn chưa trưởng thành, dẫn đến mất khả năng nở hoa trong điều kiện tự nhiên và nuôi cấy mô (Chang và Hsing, 1980; Nadgauda et al, 1990) Ngược lại với cây gỗ (Poethig, 1990), giai đoạn chưa trưởng thành của chồi Lilium được tái tạo trong nuôi cấy mô nhanh hơn nhiều so với trong điều kiện tự nhiên (Langens-Gerrits et al).

2003) Từ mô sinh sản hình thành đến mô sinh dưỡng được dùng loai cây có thân ngầm trong đất như là Allium ampeloprasum, Dichelostemma multiflorum,

Eucrosia radiate, Gladiolus grandiflorus, Haemanthus coccineus, Hyacinthus orientalis, Narcissus tazetta, Nerine sariniensis, Ornithogalum dubium, (Ziv và

Lillien-Kipnis 1997, 2000), cũng như Allium cepa (Keller 1990), A sativum (Xu et al 2005), và A ampeloprasum (Ziv et al 1983), Amaryllis (Bapat) và

Nghiên cứu của Narayanaswamy (1976), Bambosa (Prutpongse và Gavinlertvatana, 1992), Iris ensata (Kawase et al., 1995; Boltenkov và Zarembo, 2005), Iris setosa và Iris sanguinea (Boltenkov và Zarembo, 2005) đã chỉ ra rằng các bộ phận hoa hoặc đoạn cuống, đài hoa được sử dụng làm nguồn phát tán Điều này khác với chồi trong cây trồng, nơi việc quay trở lại giai đoạn sinh dưỡng sau khi chuyển sang giai đoạn sinh sản là rất khó khăn (Rastogi và Sawheny 1989, Poethig 1990) Tuy nhiên, ở nhiều loài, quá trình ra hoa có thể được chuyển từ cây mẹ sang cây con thông qua nuôi cấy mô thực vật (Dickens và Van Staden, 1988; Daksha et al, 1994).

Tỷ lệ C / N và mức khoáng chất

Môi trường nuôi cấy mô chứa khoáng chất, đường và các chất điều hòa sinh trưởng, ảnh hưởng đến quá trình ra hoa in vitro Nồng độ và tỷ lệ carbohydrate và khoáng chất là hai yếu tố chính quyết định sự ra hoa Cụ thể, nồng độ nitơ cao trong môi trường MS không chỉ ức chế ra hoa mà còn thúc đẩy sự phát triển của thực vật, giúp chúng cạnh tranh hiệu quả hơn cho carbohydrate (Dielen, 2001) Theo giả thuyết về chuyển hóa dinh dưỡng của hoa, tỷ lệ C/N tăng trong chồi khi kích thích hoa (Sachs, 1977) Do đó, việc sử dụng môi trường MS với nồng độ cao hoặc giảm hàm lượng nitơ có thể tăng cường khả năng nở hoa in vitro ở cây chồi như Bambusa vulgaris.

Dendrocalamus giganteus, D strictus, Cymbidium, Doritis, ginseng, Orichophragmus violaceus, and tomatoes are significant species studied in various botanical research Notable studies include those by Rout and Das (1994), Kostenyuk et al (1999), Duan and Yazawa (1994), Chang and Hsing (1980), Luo and Lan (2000), and Dielen et al (2001), highlighting their importance in the field of plant science.

Nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt về tỷ lệ nở hoa in vitro của cây con Bambusa edulis khi thay đổi nồng độ sucrose và nitơ trong môi trường (Lin et al, 2003b) Trong khi đó, photpho cao trong môi trường đã được chứng minh là kích thích quá trình ra hoa ở Cymbidium (Kostenyuk et al, 1999) và Ornithogalum dubium.

Hình thái hoa in vitro

Ra hoa in vitro thường cho ra hoa có kích thước nhỏ hơn so với hoa phát triển trong điều kiện bình thường Nghiên cứu của Rastogi và Sawheny (1989), Nadgauda et al (1990, 1997), Chang và Chang (2003), cũng như Naor et al (2004) đã chỉ ra rằng hoa có kích thước bình thường phát triển mạnh mẽ hơn trong môi trường tự nhiên.

Cymbidium, được nghiên cứu bởi Tran Thanh Van (1974) và Kostenyuk et al (1999), có thể gặp phải tình trạng phát triển hoa không hoàn chỉnh hoặc dị dạng (Tepfer et al 1966; Lin et al 2003a; Scorza, 1982) Mặc dù vậy, hạt phấn và hạt giống hữu cơ đã được ghi nhận ở loài tre và Cymbidium (Nadgauda et al 1990, 1997; Chang và Chang 2003) Mô hình phát triển hoa thường tương tự như các mô hình in vivo, nhưng mức độ phát triển phụ thuộc vào nồng độ chất sinh trưởng thực vật trong môi trường, điều này cũng đúng với sự phát triển của loài gai trúc dại Bamboosa arundinacea.

Dendrocalamus brandisii Kurz là một loài thực vật quan trọng, trong khi hoa đực của Zantedeschia phát triển tốt hơn hoa cái trên mô hình thu nhỏ (Hình 2A) Các điều kiện kiểm soát cho phép hình thành các cơ quan cụ thể và khuếch đại các cụm hoa, nhằm đáp ứng với sự thay đổi về mức độ và tỷ lệ chất sinh trưởng thực vật.

III/ RA HOA IN VITRO TREN 1 SỐ LOÀI CÓ THÂN NGẦM DƯỚI ĐẤT

Chi này thuộc nhóm cây lâu năm, có thân lớn và phát triển từ thân rễ, mang đặc điểm của loài ôn đới Thân rễ của cây chứa tinh bột, đóng vai trò như một hợp chất dự trữ, giúp chuyển hóa từ củ sang cây mới trong thời gian ngắn.

Cây thần ngầm, một loài thực vật đặc biệt, chỉ ra hoa một lần trong suốt quá trình phát triển của mình Trong tự nhiên, thời gian ra hoa của loài này có thể kéo dài từ 2 đến 120 năm.

Theo nghiên cứu của Chambers et al (1991), Kleinhenz và Midmore (2001), cũng như Lin et al (2003b), cây được xem là loài đơn và phần lớn có thói quen tăng trưởng tự nhiên Các tác giả khác như Prutpongse và Gavinlertvatana (1992) cùng John và Nedgauda (2001) cũng đã xác nhận quan điểm này.

Theo nghiên cứu của Kleinhenz và Midmore (2001), các cây cùng một quần thể địa phương hoặc cùng một loài có xu hướng chết sau một mùa ra hoa Điều này cho thấy quá trình ra hoa có thể bị kiểm soát tự nhiên hoặc chịu ảnh hưởng từ nhiều tín hiệu môi trường bên ngoài (Nadgauda et al, 1990; Nadgauda et al, 1997) Những đặc tính sinh sản này góp phần vào việc hạn chế sự sinh sản không được kiểm soát.

Mặc dù có những thách thức trong việc nhân giống cây trồng qua cấy mô, như cái chết của các chồi đã nở hoa trong ống nghiệm (Lin et al 2003b), nhưng vấn đề này có thể được khắc phục bằng việc cấy hoa trong ống nghiệm (Gieles et al 2002) Gieles và các đồng sự (2002) đã ghi nhận sự tăng trưởng thực vật khả quan từ cây con có nguồn gốc từ bông giả của ba loài tre Đáng chú ý, hiện tượng ra hoa in vitro đã được quan sát ở cây con của bảy loài, trong đó có Bambusa arundinacea.

(Nadgauda et al 1990, 1997), Dendrocalamus brandisii (Nadgauda et al 1990),

Dendrocalamus brandisii (Chambers et al 1991), Bambusa vulgaris,

Dendrocalamus giganteus, Dendrocalamus strictus, and Bambusa edulis are notable species in bamboo research According to Rout and Das (1994) and Lin et al (2003b), these species have been studied for their flowering rates Prutpongse and Gavinlertvatana (1992) reported low and sporadic in vitro flowering rates in several other bamboo species, including B arundinacea, B brandisii, B glaucescens, and B multiplex.

B nana, B spp 'Dam Khan', Cephalostachym pergracile và D membranaceus là bốn loài thực vật được nghiên cứu về khả năng ra hoa in vitro từ hạt giống nuôi cấy hoặc cây con có nguồn gốc từ cây zygotic qua quá trình callus Sau 2-3 lần cấy truyền, các loài này cho thấy sự phát triển cây con hiệu quả (Nadgauda et al, 1990, 1997; Chambers et al 1991) Ngoài ra, một trong các loài cũng có thể phát triển hoa in vitro từ phân đoạn hoa Thời gian theo dõi hoa kéo dài từ 12-15 tuần sau khi gieo hạt hoặc nuôi cấy mô, giúp rút ngắn đáng kể thời kỳ phát triển của cây con.

BA là cytokinin phổ biến nhất trong môi trường sinh trưởng, trong khi TDZ được xác định là cytokinin hiệu quả nhất (Lin et al 2003b) Nước dừa không phải là thành phần thiết yếu, nhưng sự ra hoa kết quả được ghi nhận sau 10 lần cấy ghép trên môi trường MS bổ sung TDZ 0,5-4,5 µM (Lin và cộng sự 2003a, 2004) Rout và Das (1994) đã thực hiện cấy hoa in vitro của ba loài trên môi trường MS với 1,2 µM IBA, 1,2 µM adenine sulfate và 1,4 µM GA3 Auxin được chứng minh có tính chất đối kháng với cytokinin trong sự phát triển của bào tử và hoa (Lin et al 2003b, 2004) Tuy nhiên, kích thước hạt nhỏ hơn đã được sản xuất trong năm loài hạt (Nadgauda et al 1990, Rout và Das 1994, Nadgauda et al 1997) Các nghiên cứu về ra hoa in vitro ở Bambusa đóng vai trò quan trọng trong việc tìm hiểu sinh lý của các loài thực vật ra hoa một lần.

Rau diếp xoăn (Cichorium intybus)

Cichorium intybus, một loại cây chồi thân ngầm, đã được nghiên cứu vì khả năng tăng trưởng chồi từ gốc rễ dự trữ Cây rau diếp xoăn phụ thuộc vào độ dài ngày và thời gian để ra hoa (Demeulemeester et al, 1995b) Các cây con có thể được tạo ra từ mô rễ cấy trong ống nghiệm hoặc thu thập từ tự nhiên (Demeulemeester et al, 1995a; Bais et al, 2000) Mặc dù có nỗ lực thay thế yêu cầu nông nghiệp cho sự phát triển hoa bằng cách sử dụng 5-azacytidine trong nuôi cấy mô, chỉ 15% cây ra hoa (Demeulemeester và De Proft, 1999) Một nghiên cứu khác cho thấy putrescine, một tiền chất của polyamine spermine và spermidine, có vai trò quan trọng trong phát triển hoa in vitro khi được bổ sung 40 mM cùng với 14,4 mM GA3 Vai trò của putrescine trong phát triển hoa được thể hiện qua ứng dụng ngoại sinh hoặc thông qua các chất ức chế sinh tổng hợp như di-flouro-methyl-ornithine (DFMO) và di-flouro-methyl-arginine.

Sadenosyl methionine (SAM) là tiền chất quan trọng của ethylene và putrescine, do đó AgNO3 có khả năng ức chế hoạt động của ethylene, từ đó tăng cường sự ra hoa trong ống nghiệm thông qua việc gia tăng sản xuất putrescine (Bais et al 2000) Các chất ức chế sinh tổng hợp gibberellin có tác dụng ngăn chặn sự phát triển của thân hoa, nhưng không ảnh hưởng đến sự khác biệt về hoa trong cây con rau diếp xoăn in vitro Nghiên cứu cho thấy GA1 được tổng hợp trong quá trình nuôi cấy in vitro và kiểm soát sự kéo dài của thân hoa (Demeulemeester et al 1995a) Các thí nghiệm in vitro cho thấy khả năng nở hoa ở tất cả các giai đoạn chồi, trái ngược với thực vật in vivo (Demeulemeester và De Proft, 1999), cho thấy có thể đã loại bỏ một yếu tố ức chế ra hoa chưa xác định bằng cách loại bỏ các chất bài tiết và nuôi cấy trong ống nghiệm (Demeulemeester et al 1995a).

Demeulemeester và De Proft, 1999), hoặc bằng cách phát triển các mô cấy dưới ít nhất một chu kì 16 giờ (Demeulemeester et al, 1995b)

Diên hồ sách (Corydalis yanhusuo)

Nhân giống bằng phương pháp ra hoa in vitro mang lại lợi ích cho cây thảo dược, đặc biệt là Corydalis, một loại thảo mộc quan trọng trong y học Trung Quốc với nhiều alkaloids có giá trị Nghiên cứu đã kiểm tra khả năng tái tạo in vitro từ phôi soma phân biệt với mô sẹo, cho thấy cây con phát triển tốt sau bốn tháng nuôi cấy Tuy nhiên, giai đoạn sinh lý của mô thực vật mẹ vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ Tỷ lệ ra hoa in vitro hiện tại chỉ đạt 5%, và tác động của các chất điều hòa sinh trưởng thực vật (PGR) đối với quá trình ra hoa vẫn chưa rõ ràng.

Nghệ tây (Crocus sativus)

Mục đích của việc ra hoa in vitro của Crocus sativus L là phát triển hoa nhằm sản xuất đầu nhụy thương mại, chứa các hợp chất quý giá cho ngành gia vị Các sắc tố và hợp chất thơm trong đầu nhụy làm cho nó trở thành gia vị quý giá trong ẩm thực phương Đông và Tây Nghiên cứu cho thấy các cấu trúc giống như hoa chủ yếu được sản xuất từ các cơ quan hoa, với sự kết hợp auxin (thường là NAA) và cytokinin (thường là BA) hiệu quả trong các môi trường như MS, W, LS, N6, B5, kèm theo sucrose hoặc sữa dừa Việc bổ sung auxin cùng với cytokinin hoặc nồng độ sucrose cao đã làm tăng sự hình thành các cấu trúc đặc biệt in vitro, và chất lượng, số lượng hợp chất nghệ tây phụ thuộc vào loại mô hoặc cơ quan tái sinh in vitro.

Các cấu trúc giống đầu nhụy từ các cơ quan hoa khác nhau thường chứa hàm lượng các hợp chất tự nhiên phổ biến trong thực vật Tuy nhiên, trong một số trường hợp, thành phần và số lượng của các hợp chất sắc tố và nghệ tây lại tương tự với các chất tự nhiên có trong planta.

Hoa diên vĩ (Iris)

Wedgwood iris là một cây một lá mầm, phát triển hoa từ củ trong mùa lạnh hoặc khi lưu trữ ở nhiệt độ 13°C Chồi đỉnh có thể duy trì sinh dưỡng ở 25,5°C trong hơn 10 tháng, nhưng 60% chồi sẽ ra hoa khi chuyển sang 13°C Ethylene được xác định là yếu tố tăng cường sự phân biệt hoa từ bóng đèn nhỏ Nghiên cứu của Rodrigues Pereira cho thấy các tín hiệu môi trường có thể chuyển đổi chồi đỉnh từ sinh dưỡng sang giai đoạn sinh sản, liên quan đến thay đổi nội sinh của gibberellin Wedgwood iris không phụ thuộc vào ánh sáng ban ngày để ra hoa, và các tín hiệu bên ngoài ảnh hưởng đến sự thay đổi pha trong chồi thông qua các yếu tố trong thang đo Quy trình này cho thấy rằng tín hiệu cảm ứng được chuyển từ vảy sang đỉnh chồi, trong khi các cơ quan giống như thùy màu tím được hình thành từ calli từ nụ hoa của Iris enstata không phụ thuộc vào nồng độ chất điều hòa sinh trưởng Hiện tượng này kéo dài trong hai năm liên tiếp.

Kniphofia leucocephala

Ra hoa in vitro của Kniphofia leucocephala, một loài có nguy cơ tuyệt chủng ở Nam Phi, đã được thực hiện trên môi trường MS có bổ sung PGR Nghiên cứu cho thấy mức BA cao (35.5 àM) thúc đẩy sự khác biệt hoa trong 30% số chồi Các hoa con chưa trưởng thành, dị dạng và không có sắc tố cuối cùng chuyển sang màu xanh lá cây Sự khác biệt về hoa được quan sát dưới tác động của cytokinin theo các chế độ ánh sáng khác nhau Trong ba loại cytokinin thử nghiệm, BA đạt tỷ lệ cụm hoa cao nhất (60%), nhấn mạnh sự tương tác giữa sucrose và BA trong việc thúc đẩy ra hoa ở Kniphofia.

Hoa loa kèn (Lilium x cv Star Gazer)

Ra hoa in vitro không thành công ở Lilium, nhưng đã có sự chuyển đổi từ giai đoạn chưa trưởng thành sang giai đoạn trưởng thành được ghi nhận Chu trình phát triển của cây loa kèn bao gồm ba giai đoạn: giai đoạn chưa trưởng thành với một hoặc vài lá sưng, giai đoạn trưởng thành với thân dài và nhiều lá, và giai đoạn ra hoa với cụm hoa phát triển Trong tự nhiên, giai đoạn chưa trưởng thành liên quan đến kích thước củ, và quá trình chuyển đổi này thường mất 1-2 mùa Tuy nhiên, nghiên cứu của Langens-Gerrits et al (2003) chỉ ra rằng các viên nang trồng trong điều kiện tối ưu có thể trở nên khả nạp sau thời gian ngắn hơn Sự chuyển đổi này được đặc trưng bởi sự gia tăng phân chia tế bào trong mô phân sinh đỉnh, chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như kích thước phóng xạ, nồng độ sucrose, và tình trạng sinh lý của củ Nghiên cứu này nhằm khám phá các yếu tố liên quan đến khả năng mô phân sinh, đóng góp vào hiểu biết về các thay đổi nội sinh của PGR và hệ thống di truyền trước khi ra hoa in vivo và in vitro.

Hoa lan (Orchids)

Nhiều cây lan được xem là cây có thân ngầm, với các chồi sống qua mùa đông nằm dưới mặt đất, thường liên quan đến thân hành hoặc thân củ Thân rễ hoặc thân hành giả (pseudobulb) của cây lan đóng vai trò như một cơ quan lưu trữ Một số nghiên cứu về nuôi cấy in vitro hoa lan đã được thực hiện, bao gồm bốn loài geophytic (Duan và Yazawa 1994, 1995b, Kostenyuk I, 1999, Chang và Chang).

Việc tạo ra một cây hoa từ hạt giống mất từ 3-13 năm, khiến chương trình nhân giống trở nên chậm chạp Tuy nhiên, thời kỳ chưa trưởng thành có thể được rút ngắn đáng kể nhờ vào mô cấy vi mô Các hệ thống in vitro đã được áp dụng để nghiên cứu cơ sở sinh lý và phân tử của quá trình ra hoa ở phong lan, giúp thúc đẩy ra hoa trong các cây trưởng thành chậm và cải thiện khả năng kiểm soát thời gian ra hoa Gần đây, các cơ sở phân tử liên quan đến hoa trong phong lan đã được xem xét, với 70 gen đã được nhân bản từ 7 chi, trong đó một số gen liên quan đến quá trình ra hoa Thông tin về biểu hiện gen trong quá trình chuyển đổi sang hoa đã được thiết lập ở Dendrobium spp thông qua hệ thống hoa in vitro.

Cymbidium spp

Thời kỳ chưa trưởng thành của Cymbidium niveo-marginatum và C ensifolium var misericors trong tự nhiên kéo dài từ 4 đến 7 năm Nghiên cứu cho thấy hoa có thể phát triển in vitro sau 40-100 ngày từ các cây con nuôi cấy cuối cùng (Kostenyuk et al 1999, Chang và Chang 2003) Hiện tượng này đã được chứng minh qua các thí nghiệm với C niveo-marginatum, nơi cây đã được nuôi cấy phụ trong 22 năm (Kostenyuk et al 1999) hoặc từ calli lấy từ rễ của C ensifolium var misericors (Chang và Chang).

Các hệ thống in vitro được sử dụng để nghiên cứu vai trò của PGR trong phát triển hoa, đặc biệt là ở cây lan Cymbidium, loại cây không phụ thuộc vào ánh sáng mặt trời Vai trò của PGR là rất quan trọng trong nghiên cứu kiểm soát di truyền nhằm cải thiện cây trồng C niveo-marginatum phản ứng với cytokinin và auxin khác biệt so với C ensifolium var misericors Trong quá trình cấy hoa in vitro, sự hiện diện của NAA và các cytokinin khác đã được ghi nhận ở những loài này, với C niveo-marginatum cho thấy phản ứng tích cực với nồng độ 44,4 µM.

Nghiên cứu cho thấy BA mang lại kết quả tốt nhất trong việc phát triển cụm hoa của C ensifolium var misericors khi có mặt 10 àM 2iP, trong khi NAA không tạo ra cụm hoa nào (Chang và Chang 2003; Kostenyuk et al 1999) TDZ hiệu quả trong việc khởi đầu hoa ở cả hai loài nhưng lại gây ra sự kém phát triển và héo nụ hoa ở C niveo-marginatum (Kostenyuk et al 1999) Sự khác biệt trong phản ứng có thể do các loài, nguồn gốc mô cấy, hoặc giai đoạn sinh lý của cây mẹ Phản ứng tích cực với cytokinin phù hợp với các báo cáo trước đó về ra hoa sớm ở hoa lan khi sử dụng cytokinin cao (Duan và Yazawa, 1995a), nhưng chưa rõ cytokinin có cần thiết cho sự phát triển hoa hay không (Kostenyuk et al 1999) Ngoài ra, GA3 có thể tương tác với các PGR khác trong việc kích thích hoa và phát triển của C niveo-marginatum Việc giảm lượng nitơ trong môi trường có BA thúc đẩy sự phát triển hoa in vitro của C niveo-marginatum, trong khi nguồn P cung cấp điều kiện thuận lợi cho việc trồng hoa trong ống nghiệm của Cymbidium (Kostenyuk et al 1999; Chang và Chang 2003).

Doritis pulcherimma x Kingiella philipinensis

Nghiên cứu về ảnh hưởng của các thành phần môi trường đến sự phát triển của hoa đã được thực hiện trên cây con Doritis pulcherrima x Kingiella philippiensis (xDoriella Tiny) từ cuống hoa Kết quả cho thấy, những bông hoa in vitro có màu sắc, kích cỡ và hình dạng bình thường, tương tự như hoa phát triển trong điều kiện tự nhiên (Duan và Yazawa).

1994, 1995b) Trong hoa in vitro xảy ra ở các cây con sau 6-7 (Duan và Yazawa,

1994) hoặc 10-12 (Duan và Yazawa, 1995b) tháng trong phòng nuôi trái ngược với

Nghiên cứu cho thấy rằng trong điều kiện tự nhiên, các nụ hoa có thể héo khi chuyển sang môi trường không có BA Tuy nhiên, chồi hoa đã được hình thành trên môi trường nitơ thấp với bổ sung 14,4 µM BA sau 80 ngày Nồng độ nitơ tối ưu cho sự phát triển nụ hoa là 6-9 mM, đặc biệt khi tỷ lệ ion NH4+/NO3- cao Hơn nữa, việc loại bỏ rễ cũng kích thích sự hình thành nụ hoa in vitro Các tác giả kết luận rằng BA là yếu tố cần thiết cho sự hình thành nụ hoa, nhưng lại ức chế sự phát triển hoa hoàn chỉnh.

Ornithogalum arabicum

Các tín hiệu môi trường liên quan đến cảm ứng hoa và GA3 đã được nghiên cứu như một phương pháp thay thế cho các tín hiệu bên ngoài trong quá trình ra hoa in vitro (Halaban et al, 1965).

Sự chuyển đổi từ giai đoạn sinh dưỡng sang giai đoạn sinh sản trong nụ

Ornithogalum phát triển bên trong củ trước khi ra hoa, với sự thay đổi và phát triển quang hợp theo điều kiện nhiệt độ cụ thể Nghiên cứu cho thấy 16 tuần ở 30ºC làm thay đổi giai đoạn này, trong khi nụ cắt bỏ trong ống nghiệm phát triển nếu giữ ở 20ºC trong 6 tuần và sau đó là 4 tuần ở 13ºC Tốc độ phát triển hoa trong ống nghiệm tăng lên với kích thước đầu chồi, và mô vảy đóng góp nhiều hơn so với lá nguyên thủy Cụm hoa phát triển trên môi trường chứa yếu tố vĩ mô của Knop và vi mô của Heller, với 2% sucrose và 0,8% agar Tuy nhiên, ra hoa in vitro chỉ xảy ra ở chồi, và GA3 (0,29 mM) không kích thích ra hoa mà gây tắc nghẽn mô phân sinh và ức chế kéo dài lá, không có sự khác biệt về hoa quan sát thấy trong các đỉnh này.

Nhân sâm (Panax ginseng)

Rút ngắn thời gian chưa trưởng thành của nhân sâm bằng phương pháp điều chỉnh không khí (CA) có thể đạt được thông qua các chương trình nhân giống hiệu quả, với thời gian thuận lợi khoảng 3 năm (Chang và Hsing, 1980) Hoa nhân sâm in vitro được phát triển từ cây con có nguồn giống chưa trưởng thành (Lee et al, 2003a, 2005) Việc nuôi cấy hoa in vitro trong giai đoạn chưa trưởng thành có thể thực hiện trực tiếp từ phôi zygotic (Lee và cộng sự 1991) hoặc gián tiếp từ phôi soma (Lee và cộng sự 1990, Tang 2000) Ngoài ra, nuôi cấy in vitro từ nguồn thực vật trưởng thành có thể thu được từ phôi soma có nguồn gốc từ mô sẹo gốc của cây trưởng thành (Chang và Hsing 1980, Lin).

Hoa xuất hiện sau 1-1.5 tháng nuôi cấy trong môi trường có nồng độ MS giảm một nửa hoặc B5 đầy đủ, với BA (4.4-5 µM) là yếu tố quan trọng cho sự phát triển hoa, nhưng hiệu quả bị ức chế bởi 5 µM ABA (Lin et al 2003a; Lee et al, 1991) BA có thể được thay thế bằng 0,5-4,5 µM TDZ kết hợp với 0,3-2,9 µM GA3 (Lin et al 2005) GA3 (5 µM) là cần thiết khi có sự hiện diện của ABA, nhưng Tang (2000) cho thấy tỷ lệ hoa in vitro chỉ đạt dưới 6% khi có 5.8 hoặc 11,6 µM GA3 trong cây con từ chồi hoặc phôi soma, cho thấy vai trò không rõ ràng của gibberellin trong phát triển hoa Sự hình thành hoa in vitro bị ức chế bởi nồng độ NAA cao (27 µM), trong khi liều thấp hơn (5.4 µM) không có hiệu quả (Lin et al 2005) Hoa hình thành trên các nhánh nách, nhỏ hơn hoa in vivo nhưng phát triển tốt với phấn hoa màu mỡ (Lee et al, 1990; Chang và Hsing, 1980) Trái non phát triển từ hoa (Lee et al, 1990, 1991) thường thoái hóa trước khi trưởng thành, và phấn hoa vô trùng đã được quan sát trong cụm hoa được khuếch đại từ cụm hoa khác (Lin et al, 2003a).

Sự tái sinh của các cơ quan hoa và hoa hoàn chỉnh của Hyacinthus có thể xảy ra từ các phân đoạn của bao hoa, như đã được nghiên cứu bởi Lu et al (1988) Sự phát sinh cơ quan trực tiếp đã được quan sát trong khoảng thời gian từ 50 đến 200 ngày nuôi cấy, tạo ra một hệ thống nghiên cứu các yếu tố kiểm soát sự phát triển của hoa Hoa lục bình phát triển qua bốn vòng liên tiếp, với sự chuyển đổi giữa các vòng này được điều chỉnh bởi yếu tố di truyền và sự thay đổi nồng độ hormone thực vật (PGR).

Nghiên cứu cho thấy việc sử dụng BA (8,9 àM) và auxin (2,4-D, 0,5 àM) đã dẫn đến sự phát triển của cánh hoa trong ống nghiệm Mức độ cao của BA kết hợp với mức độ thấp của auxin thúc đẩy sự phát triển của nhị hoa và lá noãn Các tác giả chỉ ra rằng sự kiểm soát phytohormone đối với sự phát triển của cơ quan hoa hoàn toàn phụ thuộc vào nồng độ hormone Khi nồng độ hormone không thay đổi, cơ quan hoa cụ thể sẽ sản xuất không xác định trên 100 cánh hoa.

20 nhụy hoa, hoặc 40 noãn hoa (Lu et al, 1988, 2000)

Allium sativum (Tizio, 1979) và Allium ampeloprasum ( Ziv et al, 1983; Ziv và

Lillien – Kipnis (2000) đã báo cáo về việc ra hoa in vitro của Allium satium, trong đó sự hình thành hoa cạnh tranh với sự phát triển của thân ngầm khi bổ sung 10-5 M GA3 và adenine hoặc biotin vào môi trường Adenine có tác dụng đối kháng với GA3 và thúc đẩy hình thành củ (Tizio, 1979) Nụ hoa của A ampeloprasum được hình thành từ các mô phân tử hoa ở giai đoạn đầu của cơ quan sinh sản nhờ vào việc bổ sung 5,4 àM NAA và 25,0 àM BA vào môi trường Tuy nhiên, trong những điều kiện này, sự đảo ngược hình thành nụ sinh dưỡng không thành công (Ziv và Lillien-Kipnis).

2000) Các chồi thực vật phát triển từ các đoạn của thân hoa (A ampeloprasum, Ziv et al 1983), và từ các mô nằm giữa các mảng hoa (A ampeloprasum, Ziv và

Lillien-Kipnis, 2000, A sativum, Xu et al 2005).

Phản ứng phát triển trên môi trường có PGR

Hoa con cạnh tranh với củ

Cuống hoa 1 GA 3 + KN- Tizio 1979

Allium ampeloprasum Nụ hoa Cơ quan sinh sản BA+ NAA+ Ziv and

Hoa con với hoa và hạt

Hạt giống 2 GA 3 + IBA+ Rout and Das

Hoa con với hoa Hạt giống 3 BA+,CM+ Nadgauda et al.

Hoa con với hoa; Độ lớn của hoa con

Gốc rề từ cây trưởng thành

NAA+, NAA tương tác với TDZ

Cichorium intybus Hoa Hạt giống GA 3 + Bais et al.

Mô phân sinh hoa, các bộ phận của hoa

Sano and Himeno1987, Plessner and Ziv

Thân rễ nuôi cấy 22 năm, củ ngầm dưới đất

Không phản ứng với IAA

Hoa và các bộ phận của hoa

Panax ginseng Hoa Hạt giống GA3+

BA/TDZ + tương tác với GA3 Liều cao -

Chang and Hsing1980, Lee et al.

Bộ phận mô phân sinh

Hoa chưa phân hóa giới tính

BA tương tác với GA3)

Phản ứng phát triển trên môi trường không có PGR (sử dụng môi trường cảm ứng)

Cichorium intybus Hoa Mô rễ

Demeulemee ster et al. 1995b, Demeulemee ster and De Proft, 1999

hamiltonii Hoa con Hạt giống

Nuôi cấy 4 tuần trong môi trường không có PGR sau 8 tuần có BA

Vảy của củ trưởng thành

1 Bais H P., Sudha G S., Ravishankar G A (2000).Putrescine and silver nitrate influences shoot multiplication, in vitro flowering and endogenous titers of polyamines in Cichorium intybus L cv Lucknow Local Journal of Plant Growth Regulation, 19:238-248.

2 Bapat V A., Narayanaswamy S (1976) Growth and organogenesis in explanted tissues of Amaryllis in culture Bulletin of the Torret Botanical Club, 103:53-56.

3 Bilderback D E (1972) The effects of hormones upon the development of excised floral buds of Aquilegia American Journal of Botany, 59: 525-529.

4 Boltenkov E V., Zarembo E V (2005) In vitro regeneration and callogenesis in tissue culture of floral organs of the genus Iris (Iridaceae) Biology Bulletin, 32: 138-142.

5 Chambers S M., Heuch J H R., Pirrie A (1991) Micropropagation and in vitro flowering of the bamboo Dendrocalamus hamiltonii Munro Plant Cell, Tissue and Organ Culture, 27: 45-48.

6 Chang C., Chang W C (2003) Cytokinin promotion of flowering in Cymbidium ensifoium var misiricors in vitro Plant Growth Regulation, 39: 217-221.

7 Chang W C., Hsing Y I (1980) In vitro flowering of embryoids derived from mature root callus of ginseng (Panax ginseng) Nature, 284: 341-342.

8 Corr, B E., Widmer, R E (1987) Gibberellic acid increases flower number in

Zantedeschia elliottiana and Z rehmannii HortScience, 22: 605-607.

9 Dafni A., Cohen D., Noy-Meir I (1981) Life-cycle variation in geophytes. Annals of the Missouri Botanical Gardens, 68: 652-660.

10 Daksha S., Davis T D., Sankhla N., Upadhyaya A.(1994) In vitro production of flowering shoots in ‘German Red’ carnation: effect of uniconazole and gibberellic acid Plant Cell Reports, 13: 514-518.

11 De Fossard R A (1974) Flower initiation in tissue and organ cultures In:Street H D (Ed.) Tissue culture and plant science Academic Press, New York:

12 De Hertogh A A., Le Nard M (1993) Botanical as-pects of flower bulbs In:

De Hertogh A., Le Nard M (Eds.) The Physiology of Flowering Bulbs.Elsevier, Amsterdam, The Netherlands: 7-20.

13 De Munk W J., Schipper J (1993) Iris - bulbous and rhizomatous In: De

Hertogh A., Le Nard M (Eds) The Physiology of Flowering Bulbs Elsevier, Am- sterdam, The Netherlands: 349-379.

14 Demeulemeester M A C., De Proft M P (1999) In vivo and in vitro flowering response of chicory (Chicorium intybus L.): influence of plant age and vernalization Plant Cell Reports, 18: 781-785.

In a study by Demeulemeester et al (1995), the effects of gibberellin biosynthesis inhibitors on stem elongation and floral initiation were investigated using in vitro chicory root explants The research was conducted under both dark and light conditions, highlighting the significant role of gibberellins in plant growth regulation The findings, published in Plant Growth Regulation, volume 17, pages 47-52, provide valuable insights into the hormonal control of plant development.

16 Demeulemeester M A C., Voet A., Van De Mierop A., De Proft M P (1995b). Stem elongation and floral initiation on in vitro chicory root explants: influence of photoperiod Plant Growth Regulation, 16: 233-238.

17 Dickens C W S., Van Staden J (1988) The induction and evocation of flowering in vitro South African Journal of Botany, 54: 325-344.

In a study published in the Journal of Experimental Botany, Dielen et al (2001) explored the in vitro regulation of floral transition in tomato plants (Lycopersicon esculentum Mill.), utilizing the late-flowering uniflora mutant as a model for autonomously flowering species Their research provides insights into the mechanisms governing flowering in tomatoes, contributing to our understanding of plant development and adaptation.

19 Dole J M., Wilkins H F (2004) Floriculture – Princi-ples and Species. Prentice Hall Upper Saddle River New Jersey 2nd edition, 1040 pp.

20 Duan J Z., Yazawa S (1994) In vitro floral develop-ment in X Doriella Tiny(Doritis pulcherima X Kingella philippinensis) Scientia Horticulturae, 59: 253-264.

Phalaenopsis in vitro Plant Cell,Tissue and Organ Culture, 43: 71-74.

22 Duan J Z., Yazawa S (1995b) Induction of precocious flowering and seed formation of x Doriella Tiny (Doritis pulcherrima x Kingiella philippin-ensis) in vitro and in vivo Acta Horticulturae, 397:103-110.

23 Fortanier E J (1973) Reviewing the length of the generation period and its shortening, particularly in tulips Scientia Horticulturae, 1: 107-116.

24 Funnell K A (1993) Zantedeschia In: De Hertogh A., Le Nard M (Eds.) The physiology of flower-ing bulbs Elsevier, Amsterdam, The Netherlands: 683-704.

25 Gambourg O L., Miller R A., Ojima G (1968) Nutrient requirements of suspension culture of soybean root cells Experimental Cell Research, 50: 148-151.

26 Gielis J., Peeters H., Gillis J K., Debergh P C (2002) Tissue culture strategies for genetic improvement of bamboo Acta Horticulturae, 552: 195-203.

27 Halaban R., Gallun E., Halevy A H (1965) Experi-mental morphogenesis of stem tips of Ornithogalum arabicum L cultured in vitro Phytomorphology, 15: 379-387.

28 Halevy A H (1990) Recent advances in control of flowering and growth habit of geophytes Acta Horticulturae, 266: 35-42.

29 Hartsema A M (1961) Influence of temperature on flower formation and flowering of bulbous and tuberous plants In: Ruhland W (Ed.) Handbuch der Pflanzenphysiologie, Springer-Verlag, Berlin, 16:123-167.

30 Heller R (1953) Recherches sur la nutrition minerales des tissues végétaux cultives in vitro Annales de Sciences Naturelles Botanique et Biologie Vegetale, 14: 1-22.

31 Henny R J., Hamilton R L (1992) Flowering of An-thurium following treatment with gibberellic acid HortScience, 27: 12.

32 Henny R J., Norman D J., Mellich T A (1999) Spathiphyllum cultivars vary in flowering response after treatment with gibberellic acid Hortechnol-ogy, 9: 177-

33 Imanishi H., Halevy A H., Kofranek A M., Han S., Reid M S (1994). Respiratory and carbohydrate changes during ethylene-mediated flower induction in Dutch iris Scientia Horticulturae, 59: 275-284.

34 John C K., Nedgauda R S (2001) Nature watch-En-igmatic bamboos. Resonance January: 54-65.

35 Kawase K., Mizutani H., Yoshioka M., Fukuda S (1995) Shoot formation on floral organs of Japa-nese iris in vitro Journal of Japanese Society for Horticultural Science, 64: 143-148.

36 Keller J (1990) Culture of unpollinated ovules, ova-ries, and flower buds in some species of the genus Allium and haploid induction via gynogenesis in onion (Allium cepa) Euphytica, 47: 241-247.

37 Kleinhenz V., Midmore D J (2001) Aspects of bamboo agronomy Advances in Agronomy, 74: 99-145.

38 Knop W (1865) Qantitative Untersuchung ĩber die Ernọhrungsprozesse der Pflanzen Die Landwirt-schaftlichen Versuchs-Station, Berlin Verlag Paul Prey, 30: 292-294.

39 Kostenyuk I., Oh B J., So I S (1999) Induction of early flowering in

Cymbidium niveo -marginatum Mak Plant Cell Report, 19: 1-5.

40 Kuehny J S (2000) Calla history and culture Hort-echnology, 10: 267-274.

41 Kuo C., Sagare A P., Lo S F., Lee C Y., Chen C C., Tsay H S (2002). Abscisic acid promotes development of somatic embryos on converted somatic em- bryos of Corydalis yanhuso (Fumariaceae) Journal of Plant Physiology, 159: 423- 427.

42 Langens-Gerrits M., De Klerk G.-J., Croes A (2003).Phase change in lily bulblets regenerated in vitro Physiologia Plantarum, 119: 590-597.

43 Le Nard M., De Hertogh A A (1993) Bulb growth and development and flowering In: De Hertogh A., Le Nard M (Eds.) The Physiology of Flower-ing Bulbs Elsevier, Amsterdam, The Netherlands: 29-44.

44 Lee H S., Lee K.-W., Yang S G., Liu J R (1991) In vitro flowering of ginseng (Panax ginseng C A Meyr) zygotic embryos induced by growth regula- tors Plant Cell Physiology, 32: 1111-1113.

45 Lee H S., Liu J R., Yang S G., Lee Y H., Lee K W (1990) In vitro flowering of plantlets regenerated from zygotic embryo-derived somatic embryos of Ginseng HortScience, 25: 1652-1654.

46 Li Q Z., Li X G., Bai S N., Lu W L., Zhang X S (2002) Isolation of HAG1 and its regulation by plant hormones during in vitro floral organognesis in

47 Lin C.-S., Chen C.-T., Chang W.-C (2003a) A method for inflorescence proliferation Plant Cell Report, 21: 838-843.

48 Lin C.-S., Lin C.-C., Chang W.-C (2003b) In vitro flowering of Bambusa edulis and subsequent plant-let survival Plant Cell, Tissue and Organ Culture, 72:

49 Lin C.-S., Vidmar J., Chang W.-C (2004) Effects of growth regulators on inflorescence proliferation of Bambusa edulis Plant Growth Regulation, 43:221- 225.

50 Lin C.-S., Chen C.-T., Hasiao H.-W., Chang W.-C (2005) Effects of growth regulators on direct flow-ering of isolated ginseng buds in vitro Plant Cell, Tissue and Organ Culture, 83: 241-244.

51 Linsmaier E., Skoog F (1965) Organic growth factors requirements of tobacco tissue cultures Physiologia Plantarum, 18: 100-127.

52 Lu W., Enomoto K., Fukunaga Y., Kuo C (1988).Regeneration of tepals, stamens and ovules in explants from perianth of Hyacinthus orientalis L.importance of explant age and exogenous hormones.Planta, 175: 478-484.

53 Luo P Y E Q., Lan Z.-Q (2000) A study on floral biology in vitro in

Allium

Allium sativum (Tizio, 1979) và Allium ampeloprasum ( Ziv et al, 1983; Ziv và

Lillien – Kipnis (2000) đã báo cáo về quá trình ra hoa in vitro Trong quá trình hình thành hoa, Allium satium cạnh tranh với sự phát triển của thân ngầm khi được bổ sung 10-5 M GA3 và adenine hoặc biotin vào môi trường, trong khi adenine lại đối kháng với GA3 và thúc đẩy hình thành củ (Tizio, 1979) Nụ hoa của A ampeloprasum được hình thành từ các mô phân tử hoa ở giai đoạn đầu của cơ quan sinh sản nhờ vào việc thêm 5,4 àM NAA và 25,0 àM BA vào môi trường Tuy nhiên, trong những điều kiện này, sự đảo ngược hình thành nụ sinh dưỡng không thành công (Ziv và Lillien-Kipnis).

2000) Các chồi thực vật phát triển từ các đoạn của thân hoa (A ampeloprasum, Ziv et al 1983), và từ các mô nằm giữa các mảng hoa (A ampeloprasum, Ziv và

Lillien-Kipnis, 2000, A sativum, Xu et al 2005).

Phản ứng phát triển trên môi trường có PGR

Hoa con cạnh tranh với củ

Cuống hoa 1 GA 3 + KN- Tizio 1979

Allium ampeloprasum Nụ hoa Cơ quan sinh sản BA+ NAA+ Ziv and

Hoa con với hoa và hạt

Hạt giống 2 GA 3 + IBA+ Rout and Das

Hoa con với hoa Hạt giống 3 BA+,CM+ Nadgauda et al.

Hoa con với hoa; Độ lớn của hoa con

Gốc rề từ cây trưởng thành

NAA+, NAA tương tác với TDZ

Cichorium intybus Hoa Hạt giống GA 3 + Bais et al.

Mô phân sinh hoa, các bộ phận của hoa

Sano and Himeno1987, Plessner and Ziv

Thân rễ nuôi cấy 22 năm, củ ngầm dưới đất

Không phản ứng với IAA

Hoa và các bộ phận của hoa

Panax ginseng Hoa Hạt giống GA3+

BA/TDZ + tương tác với GA3 Liều cao -

Chang and Hsing1980, Lee et al.

Bộ phận mô phân sinh

Hoa chưa phân hóa giới tính

BA tương tác với GA3)

Phản ứng phát triển trên môi trường không có PGR (sử dụng môi trường cảm ứng)

Cichorium intybus Hoa Mô rễ

Demeulemee ster et al. 1995b, Demeulemee ster and De Proft, 1999

hamiltonii Hoa con Hạt giống

Nuôi cấy 4 tuần trong môi trường không có PGR sau 8 tuần có BA

Vảy của củ trưởng thành

Ngày đăng: 14/12/2021, 15:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bais H. P., Sudha G. S., Ravishankar G. A. (2000).Putrescine and silver nitrate influences shoot multiplication, in vitro flowering and endogenous titers of polyamines in Cichorium intybus L. cv. Lucknow Local. Journal of Plant Growth Regulation, 19:238-248 Sách, tạp chí
Tiêu đề: in vitro" flowering and endogenous titers ofpolyamines in "Cichorium intybus" L. cv. "Lucknow Local
Tác giả: Bais H. P., Sudha G. S., Ravishankar G. A
Năm: 2000
2. Bapat V. A., Narayanaswamy S. (1976). Growth and organogenesis in explanted tissues of Amaryllis in culture. Bulletin of the Torret Botanical Club, 103:53-56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Amaryllis
Tác giả: Bapat V. A., Narayanaswamy S
Năm: 1976
3. Bilderback D. E. (1972). The effects of hormones upon the development of excised floral buds of Aquilegia. American Journal of Botany, 59: 525-529 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aquilegia
Tác giả: Bilderback D. E
Năm: 1972
4. Boltenkov E. V., Zarembo E. V. (2005). In vitro regeneration and callogenesis in tissue culture of floral organs of the genus Iris (Iridaceae). Biology Bulletin, 32:138-142 Sách, tạp chí
Tiêu đề: In vitro "regeneration and callogenesis intissue culture of floral organs of the genus "Iris
Tác giả: Boltenkov E. V., Zarembo E. V
Năm: 2005
5. Chambers S. M., Heuch J. H. R., Pirrie A. (1991). Micropropagation and in vitro flowering of the bamboo Dendrocalamus hamiltonii Munro. Plant Cell, Tissue and Organ Culture, 27: 45-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: in vitro"flowering of the bamboo "Dendrocalamus hamiltonii
Tác giả: Chambers S. M., Heuch J. H. R., Pirrie A
Năm: 1991
6. Chang C., Chang W. C. (2003). Cytokinin promotion of flowering in Cymbidium ensifoium var. misiricors in vitro. Plant Growth Regulation, 39: 217-221 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cymbidiumensifoium" var. "misiricors in vitro
Tác giả: Chang C., Chang W. C
Năm: 2003
7. Chang W. C., Hsing Y. I. (1980). In vitro flowering of embryoids derived from mature root callus of ginseng (Panax ginseng). Nature, 284: 341-342 Sách, tạp chí
Tiêu đề: In vitro" flowering of embryoids derived frommature root callus of ginseng ("Panax ginseng
Tác giả: Chang W. C., Hsing Y. I
Năm: 1980
8. Corr, B. E., Widmer, R. E. (1987). Gibberellic acid increases flower number in Zantedeschia elliottiana and Z. rehmannii. HortScience, 22: 605-607 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Zantedeschia elliottiana" and "Z. rehmannii
Tác giả: Corr, B. E., Widmer, R. E
Năm: 1987
10. Daksha S., Davis T. D., Sankhla N., Upadhyaya A.(1994). In vitro production of flowering shoots in ‘German Red’ carnation: effect of uniconazole and gibberellic acid. Plant Cell Reports, 13: 514-518 Sách, tạp chí
Tiêu đề: In vitro
Tác giả: Daksha S., Davis T. D., Sankhla N., Upadhyaya A
Năm: 1994
11. De Fossard R. A. (1974). Flower initiation in tissue and organ cultures. In:Street H. D. (Ed.). Tissue culture and plant science. Academic Press, New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: In
Tác giả: De Fossard R. A
Năm: 1974
12. De Hertogh A. A., Le Nard M. (1993). Botanical as-pects of flower bulbs. In:De Hertogh A., Le Nard M. (Eds.). The Physiology of Flowering Bulbs.Elsevier, Amsterdam, The Netherlands: 7-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: In
Tác giả: De Hertogh A. A., Le Nard M
Năm: 1993
13. De Munk W. J., Schipper J. (1993). Iris - bulbous and rhizomatous. In: De Hertogh A., Le Nard M. (Eds). The Physiology of Flowering Bulbs. Elsevier, Am- sterdam, The Netherlands: 349-379 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Iris" - bulbous and rhizomatous. "In
Tác giả: De Munk W. J., Schipper J
Năm: 1993
14. Demeulemeester M. A. C., De Proft M. P. (1999). In vivo and in vitro flowering response of chicory (Chicorium intybus L.): influence of plant age and vernalization. Plant Cell Reports, 18: 781-785 Sách, tạp chí
Tiêu đề: In vivo "and" in vitro "floweringresponse of chicory " (Chicorium intybus
Tác giả: Demeulemeester M. A. C., De Proft M. P
Năm: 1999
15. Demeulemeester M. A. C., Rademacher W., Van De Mierop A., De Prfot M. P.(1995a). Influence of gibberellin biosynthesis inhibitors on stem elonga-tion and floral initiation on in vitro chicory root explants under dark and light conditions.Plant Growth Regulation, 17: 47-52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: in vitro
16. Demeulemeester M. A. C., Voet A., Van De Mierop A., De Proft M. P. (1995b).Stem elongation and floral initiation on in vitro chicory root explants: influence of photoperiod. Plant Growth Regulation, 16: 233-238 Sách, tạp chí
Tiêu đề: in vitro
17. Dickens C. W. S., Van Staden J. (1988). The induction and evocation of flowering in vitro. South African Journal of Botany, 54: 325-344 Sách, tạp chí
Tiêu đề: in vitro
Tác giả: Dickens C. W. S., Van Staden J
Năm: 1988
18. Dielen V., Lecouvet V., Dupont S., Kinet J. M. (2001). In vitro control of floral transition in tomato (Lyco-persicon esculentum Mill.), the model for autonomously flowering plants, using the late flowering uniflora mutant. Journal of Experimental Botany, 52: 715-723 Sách, tạp chí
Tiêu đề: In vitro "control of floraltransition in tomato ("Lyco-persicon esculentum "Mill.), the model for autonomouslyflowering plants, using the late flowering "uniflora
Tác giả: Dielen V., Lecouvet V., Dupont S., Kinet J. M
Năm: 2001
20. Duan J. Z., Yazawa S. (1994). In vitro floral develop-ment in X Doriella Tiny (Doritis pulcherima X Kingella philippinensis). Scientia Horticulturae, 59: 253-264 Sách, tạp chí
Tiêu đề: In vitro" floral develop-ment in X Doriella Tiny("Doritis pulcherima" X "Kingella philippinensis
Tác giả: Duan J. Z., Yazawa S
Năm: 1994
22. Duan J. Z., Yazawa S. (1995b). Induction of precocious flowering and seed formation of x Doriella Tiny (Doritis pulcherrima x Kingiella philippin-ensis) in vitro and in vivo. Acta Horticulturae, 397:103-110 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doritis pulcherrima" x "Kingiella philippin-ensis) invitro "and" in vivo
24. Funnell K. A. (1993). Zantedeschia. In: De Hertogh A., Le Nard M. (Eds.). The physiology of flower-ing bulbs. Elsevier, Amsterdam, The Netherlands: 683-704 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Zantedeschia. In
Tác giả: Funnell K. A
Năm: 1993

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w