pháp luật của chúng ta phải thực sự có những quy định phù hợp để xử lý những vi phạm trên, những quy định đó được nhà nước quy định cụ thể trong Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại 2005. Nhưng từ thực tiễn cho thấy việc áp dụng các biện pháp xử lý các hành vi vi phạm hợp đồng được giải quyết còn nhiều bất cập, có những sự không thống nhất trong việc áp dụng quy định của luật 5 và những hạn chế khác sẽ được đề cập trong nghiên cứu này để từ đó đề xuất những hướng khắc phục nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật để đáp ứng nhu cầu của thực tiễn và của các chủ thể tham gia vào quan hệ hợp đồng. Chính vì sự cần thiết về cả mặt lý luận và thực tiễn nêu trên mà tác giả quyết định sẽ nghiên cứu về “Quy định về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng trong thương mại”. Bài nghiên cứu sẽ đưa ra những nhận định, những đề xuất của tác giả nhằm mục đích góp phần hoàn thiện những điểm hạn chế trong quy định của BLDS 2015 và LTM 2005, cũng như đưa ra những bài học kinh nghiệm mà Việt Nam có thể học hỏi từ một số nước bạn khác trên thế giới.
KHÁI QUÁT VỀ HỢP ĐỒNG VÀ VI PHẠM HỢP ĐỒNG
Khái quát về hợp đồng
1 Khái niệm về hợp đồng:
Theo Điều 385 Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng được định nghĩa là thỏa thuận giữa các bên nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự Điều này có nghĩa là hợp đồng chỉ có hiệu lực khi được thiết lập dựa trên sự thỏa thuận và tự nguyện của các bên Do đó, việc ký kết hợp đồng đồng nghĩa với việc cả hai bên phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự, và họ phải đảm bảo thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng.
Trong một quan hệ giao dịch, nếu một bên không thể hiện đầy đủ ý chí của mình, hợp đồng có thể không được xác lập do thiếu sự thống nhất ý chí giữa các bên Hơn nữa, thỏa thuận giữa các bên cần phải tuân thủ các quy định pháp luật; nếu không, hợp đồng sẽ bị tuyên vô hiệu Tóm lại, hợp đồng là giao dịch dân sự thể hiện ý chí của các bên nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự.
Theo Điều 402 Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng được phân loại thành nhiều nhóm, bao gồm: (i) hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ; (ii) hợp đồng chính và hợp đồng phụ; (iii) hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba; (iv) hợp đồng có điều kiện; cùng với các nhóm hợp đồng ưng thuận và hợp đồng thực tế Mỗi loại hợp đồng này đều có những đặc điểm và bản chất riêng, phản ánh sự đa dạng trong quan hệ pháp lý.
1 Bị tuyên vô hiệu vì thuộc vào một trong những quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015.
2 Lê Văn Minh (2013), Luận văn “Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng mua bán”, Khoa Luật, ĐHQG
Hà Nội, theo quy định tại trang 13 của luật, đã chỉ rõ rằng mỗi loại hợp đồng sẽ có bản chất và hệ quả pháp lý riêng biệt Bài viết này sẽ tóm tắt một số hệ quả ngắn gọn của từng loại hợp đồng.
2.1 Hợp đồng song vụ - Hợp đồng đơn vụ:
Dựa trên mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng, hợp đồng được phân thành hai loại chính: hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ.
Hợp đồng đơn vụ là thỏa thuận giữa hai bên, trong đó một bên có quyền và bên kia có nghĩa vụ Sau khi ký kết, bên có nghĩa vụ phải thực hiện đầy đủ các cam kết trong hợp đồng, có thể thực hiện nghĩa vụ trước hoặc sau thời hạn nếu được bên có quyền đồng ý.
- Hợp đồng song vụ bao gồm cả hai bên cùng có quyền và nghĩa vụ với nhau,
Khi các bên đã thống nhất về thời hạn thực hiện nghĩa vụ, mỗi bên cần phải hoàn thành nghĩa vụ của mình đúng hạn Việc hoãn thực hiện nghĩa vụ không được phép chỉ vì bên kia chưa thực hiện nghĩa vụ đối với mình, trừ khi có quy định khác của pháp luật.
Hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ khác nhau chủ yếu ở mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia Trong hợp đồng song vụ, cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ tương ứng, trong khi hợp đồng đơn vụ chỉ yêu cầu một bên thực hiện nghĩa vụ mà không có quyền tương ứng từ bên kia Sự phân biệt này là yếu tố quan trọng trong việc hiểu và áp dụng các loại hợp đồng trong giao dịch thương mại.
2.2 Hợp đồng chính – Hợp đồng phụ:
Dựa trên sự phụ thuộc lẫn nhau về hiệu lực của các loại hợp đồng theo Khoản 3 và Khoản 4 Điều 402 Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng chính và hợp đồng phụ có thể được phân biệt rõ ràng.
Hợp đồng chính là loại hợp đồng có hiệu lực độc lập, không phụ thuộc vào bất kỳ hợp đồng nào khác Khi thực hiện hợp đồng này, các bên liên quan cần tuân thủ nghiêm ngặt các nghĩa vụ đã được thỏa thuận trong nội dung hợp đồng.
3 Theo quy định tại Điều 409 Bộ luật Dân sự 2015 về việc “Thực hiện hợp đồng đơn vụ”
4 Theo quy định tại Điều 410 Bộ luật Dân sự 2015 về việc “Thực hiện hợp đồng song vụ”
5 Dựa trên khoản 3 Điều 402 Bộ luật Dân sự 2015
Hợp đồng phụ là loại hợp đồng có hiệu lực phụ thuộc vào hợp đồng chính Để hợp đồng phụ có hiệu lực, nó phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 Hơn nữa, hợp đồng chính cũng cần phải có hiệu lực thì hợp đồng phụ mới phát sinh hiệu lực.
2.3 Hợp đồng ưng thuận – hợp đồng thực tế:
Hai loại hợp đồng này được phân loại theo thời điểm phát sinh hiệu lực Mặc dù Bộ luật Dân sự 2015 không quy định cụ thể cho hai loại hợp đồng này, nhưng chúng vẫn được áp dụng tương tự như các hợp đồng khác theo Điều 402 của Bộ luật Dân sự 2015.
Hợp đồng ưng thuận là loại hợp đồng có hiệu lực ngay khi các bên hoàn tất việc thỏa thuận các điều khoản Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng này được xác định tại thời điểm giao kết, điều này áp dụng cho nhiều loại hợp đồng thông thường như hợp đồng mua bán và hợp đồng dịch vụ.
Hợp đồng thực tế là loại hợp đồng có hiệu lực ngay khi các bên thực hiện việc chuyển giao đối tượng của hợp đồng cho nhau Ví dụ điển hình của loại hợp đồng này bao gồm hợp đồng tặng cho và hợp đồng cầm cố tài sản.
2.4 Hợp đồng vì lợi ích của bên thứ ba và hợp đồng có điều kiện:
Ngoài những nhóm hợp đồng nêu trên thì trong Điều 402 Bộ luật Dân sự
2015 còn có quy định về hai loại hợp đồng nữa là hợp đồng vì lợi ích của bên thứ ba và hợp đồng có điều kiện:
Hợp đồng vì lợi ích của bên thứ ba là loại hợp đồng mà hai bên ký kết đều có nghĩa vụ thực hiện để mang lại lợi ích cho bên thứ ba Trong loại hợp đồng này, chỉ bên thứ ba mới là người được hưởng lợi từ các cam kết của hai bên.
6 Dựa trên khoản 4 Điều 402 Bộ luật Dân sự 2015
7 Theo khoản 5 Điều 402 Bộ luật Dân sự 2015 không phải thực hiện bất cứ nghĩa vụ nào trong hợp đồng Ví dụ như hợp đồng gia công, …
Vi phạm hợp đồng
1 Thế nào là vi phạm hợp đồng?
Khi hợp đồng đã được ký kết và có hiệu lực pháp luật, các bên liên quan có trách nhiệm thực hiện đầy đủ và chính xác các nghĩa vụ đã cam kết.
12 Trích theo tác giả Vũ Văn Mẫu (1963), “Việt Nam Dân Luật lược Khảo - Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước”, NXB Giáo dục, tr 250.
Hợp đồng là một khái niệm quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam, được quy định bởi các nguyên tắc cơ bản nhằm đảm bảo tính hợp pháp và hiệu lực của các giao dịch Bài viết của Trần Kiên và Nguyễn Khắc Thu (2019) trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp đã phân tích chi tiết về khái niệm hợp đồng và các nguyên tắc này, cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức áp dụng trong thực tiễn.
Bài viết của Nguyễn Anh Thư (2014) đề xuất sửa đổi và bổ sung các quy định liên quan đến nguyên tắc thiện chí trong Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 Nghiên cứu này được đăng trên Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, số 30/2014, trang 61–72 Nội dung bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của nguyên tắc thiện chí trong việc xây dựng và phát triển hệ thống pháp luật dân sự tại Việt Nam.
15 Điều này cũng đã được quy định tại Điều 420 Bộ luật Dân sự 2015 về việc “ thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản”.
Trong Bộ luật Dân sự 2005, Điều 412 quy định rõ về các nguyên tắc thực hiện hợp đồng, nhưng điều khoản này đã bị lược bỏ trong Bộ luật Dân sự 2015 Dù vậy, các bên vẫn thường dựa vào tinh thần của những nguyên tắc này khi giao kết hợp đồng Thực tế cho thấy, nhiều trường hợp một hoặc cả hai bên không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, dẫn đến hiện tượng "vi phạm hợp đồng" Hành vi vi phạm hợp đồng được hiểu là sự không tuân thủ các nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng của các bên liên quan.
Khi một hoặc cả hai bên vi phạm các điều khoản trong hợp đồng, họ phải chịu trách nhiệm dân sự liên quan đến hành vi vi phạm, cụ thể là trách nhiệm hợp đồng Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại 2005 quy định rõ các chế tài áp dụng cho bên vi phạm; tuy nhiên, thực tiễn giải quyết tranh chấp thương mại về trách nhiệm dân sự đôi khi chưa được nhận thức đúng, dẫn đến chất lượng giải quyết vụ án không đạt yêu cầu.
2 Trách nhiệm dân sự do việc vi phạm hợp đồng:
1.1 Khái niệm “trách nhiệm dân sự”:
Cụ thể, trong khoản 1 Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015 cũng có quy định:
“Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.
Vi phạm nghĩa vụ xảy ra khi bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng hạn, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện sai nội dung của nghĩa vụ.
Trách nhiệm dân sự là hệ quả tiêu cực mà một cá nhân hoặc tổ chức phải gánh chịu khi không hoàn thành nghĩa vụ hợp pháp của mình.
Trách nhiệm dân sự nhấn mạnh rằng mỗi cá nhân và tổ chức là chủ thể của quan hệ pháp luật phải tự chịu trách nhiệm về những cam kết của mình, đặc biệt là các thỏa thuận trong hợp đồng.
18 Lê Văn Minh (2013), Luận văn “Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng mua bán”, Khoa Luật, ĐHQG Hà Nội, tr 15.
Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại là một khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực pháp luật, theo Nguyễn Quốc Trưởng (2020) Bên vi phạm hợp đồng sẽ phải chịu hậu quả tương ứng với mức độ vi phạm của mình, điều này được quy định trong các chế tài dân sự Hậu quả bất lợi này nhằm bảo vệ quyền lợi của bên bị vi phạm.
1.2 Đặc điểm cơ bản của trách nhiệm pháp lý trong hợp đồng: 21 Đầu tiên, cũng là yếu tố quan trọng nhất của trách nhiệm pháp lý đó là “hậu quả bất lợi” hay nói cách khác là chế tài Điều này được thể hiện qua thái độ của Nhà nước đối với các hành vi vi phạm hợp đồng và được thể hiện qua việc áp dụng các chế tài (cụ thể được quy định trong Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại 2005).
Tính đền bù trong trách nhiệm pháp lý không chỉ nhằm trừng phạt hành vi vi phạm hợp đồng mà còn có mục đích khôi phục tình trạng ban đầu, bù đắp cho những hậu quả mà bên vi phạm đã gây ra do không thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận.
Trách nhiệm pháp lý chỉ tồn tại khi được quy định trong các văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, như Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại 2005, cùng với các văn bản hướng dẫn liên quan.
1.3 Các loại chế tài trong vi phạm hợp đồng:
Các loại chế tài về vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại được quy định cụ thể trong Điều 292 Luật Thương mại 2005, trong đó bao gồm:
“1 Buộc thực hiện đúng hợp đồng.
3 Buộc bồi thường thiệt hại.
4 Tạm ngừng thực hiện hợp đồng.
Trách nhiệm pháp lý trong trường hợp vi phạm hợp đồng thương mại là một vấn đề quan trọng trong pháp luật hiện hành Theo Nguyễn Quốc Trưởng (2020), việc xác định trách nhiệm này không chỉ đảm bảo quyền lợi cho các bên liên quan mà còn góp phần duy trì trật tự và công bằng trong các giao dịch thương mại Bài viết trên Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quy định pháp luật liên quan, giúp người đọc hiểu rõ hơn về hậu quả pháp lý khi vi phạm hợp đồng thương mại.
Trong bài viết "So sánh trách nhiệm dân sự trong hợp đồng và trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng" của tác giả Nguyễn Việt Anh, đăng trên trang web Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, tác giả phân tích sự khác biệt giữa trách nhiệm dân sự phát sinh từ hợp đồng và trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng Bài viết này cung cấp cái nhìn sâu sắc về các khía cạnh pháp lý liên quan, giúp người đọc hiểu rõ hơn về các loại trách nhiệm dân sự trong bối cảnh pháp luật Việt Nam Nội dung bài viết có thể được truy cập tại vào ngày 23/3/2021.
5 Đình chỉ thực hiện hợp đồng.
7 Các biện pháp khác do các bên thoả thuận không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế”.
1.3.1 Buộc thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng: a Khái quát về việc buộc thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng:
THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG XỬ LÝ
Những bất cập, hạn chế trong thực tiễn áp dụng các biện pháp xử lý
Trong bối cảnh ngày càng gia tăng các vụ vi phạm hợp đồng, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại, tranh chấp giữa các doanh nghiệp cũng tăng lên đáng kể Để giải quyết các tranh chấp này, việc xác định rõ các căn cứ và điều kiện quy trách nhiệm đối với bên vi phạm là vấn đề cốt yếu cần được làm sáng tỏ.
Mặc dù các quy định về biện pháp xử lý vi phạm hợp đồng đã được thiết lập, nhưng vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế trong việc áp dụng các trách nhiệm dân sự cho các bên vi phạm Bài viết này sẽ phân tích những hạn chế cụ thể của các quy định hiện hành và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện chế tài vi phạm hợp đồng trong luật Việt Nam.
1 Sự thiếu thống nhất trong quy định giữa Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại:
Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại là hai văn bản pháp lý quan trọng liên quan đến hợp đồng và vi phạm hợp đồng Tuy nhiên, sự thiếu thống nhất giữa hai đạo luật này trong một số quy định đã gây khó khăn trong việc áp dụng pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của các bên tham gia hợp đồng, đặc biệt là trong việc quy định chế tài đối với hành vi vi phạm hợp đồng.
2 Sự thiếu thống nhất trong chế tài bồi thường thiệt hại do có hành vi vi phạm hợp đồng:
Bài viết của Nguyễn Thị Hồng Điệp, đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân Điện tử vào ngày 18/5/2020, phân tích pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại và thực tiễn áp dụng Tác giả nêu rõ những quy định pháp lý liên quan cũng như các vấn đề thực tiễn mà các bên liên quan thường gặp phải trong quá trình thực hiện hợp đồng Bài viết có thể tham khảo tại .
(i) Trong căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại tại Điều 584
Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại 2005 có những khác biệt quan trọng về yếu tố lỗi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại Trong khi Bộ luật Dân sự yêu cầu chứng minh lỗi để xác định trách nhiệm bồi thường, Luật Thương mại lại không đề cập đến yếu tố này, dẫn đến câu hỏi liệu có cần thiết phải chứng minh lỗi trong các trường hợp theo Luật Thương mại hay không Thêm vào đó, Bộ luật Dân sự yêu cầu bồi thường toàn bộ thiệt hại về vật chất và tinh thần, trong khi Luật Thương mại chỉ xác định phạm vi bồi thường là giá trị tổn thất thực tế và lợi ích mà bên vi phạm đáng lẽ được hưởng Sự khác biệt này đặt ra vấn đề về tính thống nhất trong cách diễn giải các quy định pháp luật, liệu Bộ luật Dân sự có ý định quy định một cách bao quát hơn so với Luật Thương mại hay không.
3 Không thống nhất trong quy định về phạt vi phạm hợp đồng :
I.1.1 Về mức phạt vi phạm: Đối với các hợp đồng dân sự thuần tuý, khi áp dụng chế tài phạt vi phạm hợp đồng theo Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015 thì mức phạt vi phạm do các bên thoả
39 Khoản 2 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015
Bài viết của Phùng Thị Phương, “Một số vấn đề về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng”, được đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử vào ngày 8 tháng 3 năm 2019, đề cập đến các khía cạnh quan trọng liên quan đến việc bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm hợp đồng Nội dung bài viết phân tích các vấn đề pháp lý, quy định về trách nhiệm bồi thường, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến việc xác định thiệt hại Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu rõ các quy định này để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan trong hợp đồng.
Theo Điều 302 Luật Thương mại 2005, các bên có thể tự do thỏa thuận về mức phạt vi phạm hợp đồng, nhưng phải tuân thủ các quy định tại Điều 300 và 301 Mức phạt vi phạm hợp đồng không được vượt quá 8% giá trị nghĩa vụ bị vi phạm Nếu các bên đồng ý mức phạt cao hơn giới hạn này mà không xảy ra tranh chấp, thì vẫn thực hiện theo thỏa thuận đã ký.
Theo các điều luật hiện hành, nếu các bên đã thỏa thuận mức phạt vi phạm, bên vi phạm chỉ phải bồi thường tối đa trong giới hạn đã định, bất kể thiệt hại có lớn đến đâu Điều này đặt ra câu hỏi về tính hợp lý của các quy định pháp luật liên quan đến giới hạn mức phạt trong việc thực hiện trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.
Mức phạt giới hạn chỉ có giá trị thực tế khi có tranh chấp liên quan đến khoản tiền phạt vi phạm và được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền Nếu các bên có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại cơ quan có thẩm quyền, luật áp dụng sẽ là Luật Thương mại.
Bộ luật Dân sự quy định về mâu thuẫn trong quan hệ hợp đồng giữa các bên, trong khi bản chất của hợp đồng lại là sự thoả thuận tự nguyện Việc giới hạn mức phạt theo Luật Thương mại có thể ảnh hưởng đến quyền thoả thuận của các bên, làm giảm tính linh hoạt trong việc xác định các điều khoản hợp đồng.
42 Xem thêm Điều 301 Luật Thương mại 2005
Theo Điều 301 Luật Thương mại 2005, có một trường hợp ngoại lệ không phải tuân theo mức phạt vi phạm 8% như hợp đồng thông thường, mà áp dụng mức phạt do các bên thỏa thuận, có thể lên đến 10 lần thù lao dịch vụ giám định Điều này có nghĩa là mức phạt có thể gấp 10 lần giá trị hợp đồng dịch vụ giám định Để biết thêm chi tiết, xem Điều 266 Luật Thương mại 2005.
Nguyễn Việt Khoa trong bài viết “Chế tài phạt vi phạm hợp đồng theo Luật Thương mại năm 2005” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 15/2011, trang 48, đã phân tích các hình thức chế tài áp dụng đối với vi phạm hợp đồng theo quy định của Luật Thương mại Bài viết có thể truy cập tại .
Bài viết của Dương Anh Sơn và Lê Bích Thọ (2005) đề cập đến các quan điểm về việc xử phạt vi phạm hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam Tác giả phân tích các khía cạnh pháp lý liên quan đến hình thức xử phạt và ý nghĩa của nó trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên tham gia hợp đồng Nghiên cứu này được đăng tải trên Tạp chí Khoa học pháp lý số 1/2005, cung cấp cái nhìn sâu sắc về vấn đề pháp lý hiện hành.
Bài viết của Nguyễn Văn Hợi (2020) phân tích sự không thống nhất trong quy định về hợp đồng giữa Luật Thương mại và Bộ luật Dân sự Tác giả chỉ ra những điểm khác biệt và mâu thuẫn trong các quy định pháp lý, ảnh hưởng đến việc áp dụng luật trong thực tiễn Bài viết được đăng tải trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 02+03 (402+403) vào tháng 2/2020.
So sánh quy định về chế tài vi phạm hợp đồng của Việt Nam và pháp luật Cộng hòa Pháp
Dựa trên những bất cập và hạn chế đã phân tích, tác giả đề xuất một số ý kiến nhằm hoàn thiện các quy định về trách nhiệm pháp lý trong trường hợp vi phạm hợp đồng tại Việt Nam.
1 Về sự thống nhất thuật ngữ giữa Luật Thương mại 2005 và Bộ luật Dân sự 2015:
Hai đạo luật cốt lõi về hợp đồng trong pháp luật Việt Nam hiện đang tồn tại nhiều sự thiếu thống nhất và mâu thuẫn, gây khó khăn cho người áp dụng pháp luật và người dân Do đó, tác giả đề xuất các nhà làm luật cần nỗ lực thống nhất các quy định của hai đạo luật này để giảm thiểu nhầm lẫn và sai sót trong quá trình áp dụng pháp luật.
2 Về các biện pháp xử lý vi phạm hợp đồng:
Sự thiếu thống nhất giữa Luật Thương mại và Bộ luật Dân sự đã gây ra nhầm lẫn trong quy định xử lý vi phạm hợp đồng Luật Thương mại đưa ra các chế tài xử lý trong cùng một nhóm điều luật, trong khi Bộ luật Dân sự lại phân chia thành nhiều nhóm và điều luật khác nhau, dẫn đến khó khăn trong việc tra cứu và áp dụng các quy định này.
Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại cần được điều chỉnh để thống nhất các quy định, nhằm hạn chế các hậu quả pháp lý không mong muốn do sự nhầm lẫn trong thực tiễn.
3 Về mức phạt vi phạm trong Luật Thương mại 2005:
Mức phạt vi phạm trong Luật Thương mại 2005 hiện còn cứng nhắc và chưa thể bao quát hết mọi thiệt hại xảy ra.