B ố i c ả nh nghiên c ứu đề tài
Sự phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa hiện nay dẫn đến nhu cầu thông tin của người dân ngày càng tăng Tuy nhiên, ở những vùng sâu, vùng xa, hải đảo hay biên cương, việc tiếp cận chính sách của Đảng và Nhà nước vẫn gặp nhiều khó khăn do hạn chế về kinh tế và công nghệ thông tin Hệ thống đài truyền thanh cơ sở đã trở thành phương tiện tuyên truyền hiệu quả, đóng vai trò cầu nối giữa chính quyền và người dân, đồng thời là công cụ hỗ trợ đắc lực cho chính quyền địa phương trong công tác quản lý và phát triển kinh tế, xã hội.
Ở một số địa phương có địa hình đồi núi dốc và khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, các đài truyền thanh thường xuyên gặp khó khăn do thời tiết mưa nắng thất thường và sự xâm nhập mặn, dẫn đến tình trạng thiết bị bị sét, gỉ và hỏng hóc Đặc biệt, các xã vùng sâu, xa thuộc miền núi và trung du thường bị chắn sóng, gây khó khăn trong việc tiếp nhận tín hiệu phát thanh và truyền hình Ngoài ra, những cụm dân cư sống phân tán cũng gặp trở ngại trong việc thu sóng, trong khi các khu vực gần biên giới bị chèn sóng từ hệ thống FM, gây ảnh hưởng tiêu cực đến cộng đồng.
Để giải quyết những vấn đề hiện tại, cần nghiên cứu và triển khai các giải pháp truyền thông thế hệ mới, nhằm cải thiện hệ thống truyền thanh cũ, đồng thời vẫn đảm bảo hiệu quả trong công tác tuyên truyền của Đảng và Nhà nước.
Vì vậy tôi quyết định chọn đề tài: “Truyền thông đến từng hộ gia đình dựa trên hệ thống thông tin di đông”.
M ụ c tiêu c ủ a lu ận văn
Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu và đề xuất giải pháp triển khai hệ thống truyền thông thế hệ mới thay thế cho hệ thống truyền thanh cơ sở hiện tại, nhằm khắc phục nhược điểm của hệ thống cũ Điều này sẽ giúp việc tuyên truyền chính sách của chính quyền tới người dân trở nên dễ dàng hơn Luận văn cũng đưa ra những phương hướng tiếp cận mới cho việc phát triển hệ thống truyền thanh và tích hợp các giải pháp IoT vào đời sống người dân.
Đối tượ ng nghiên c ứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu bao gồm:
- Các phương pháp truyền thanh cơ sở hiện nay đã và đang sử dụng
Giải pháp truyền thông thế hệ mới cần đáp ứng nhu cầu hiện tại và khắc phục những nhược điểm của hệ thống cũ, đồng thời định hướng cho tương lai.
Phương pháp nghiên cứ u
Nghiên cứu và đánh giá các giải pháp truyền thông thế hệ mới từ các nhà cung cấp trên thị trường là rất quan trọng So sánh hiệu quả của hệ thống truyền thông thế hệ mới với các hệ thống cũ sẽ giúp hiểu rõ hơn về khả năng áp dụng của chúng tại các địa bàn khác nhau trên cả nước.
B ố c ụ c c ủ a lu ận văn
Với những mục tiêu, đối tượng nghiên cứu trình bày ở trên, tôi trình bày luận văn theo ba chương với nội dung tóm tắt như sau:
Chương 1: Tổng quan về hệ thống truyền thanh cơ sở
Chương 2: Giải pháp truyền thông thế hệ mới
Chương 3: Phương án triển khai và thực tiễn
TỔ NG QUAN V Ề H Ệ TH Ố NG TRUY ỀN THANH CƠ SỞ
Phát thanh và h ệ th ống đài truyền thanh cơ sở
1.1.1 Định nghĩa về phát thanh
Phát thanh là một thể loại báo chí cung cấp thông tin về sự kiện, tuyên bố và tình hình mới liên quan đến con người và hiện tượng xã hội Thông qua các phương tiện như loa, đài và radio, phát thanh truyền đạt thông điệp một cách trực tiếp và dễ hiểu đến thính giả Phát thanh tác động đến người nghe thông qua âm thanh, lời nói, tiếng động và âm nhạc, tạo nên sự kết nối và thu hút sự chú ý của đối tượng.
Chiến lược phát triển thông tin đến năm 2010, được ban hành theo Quyết định số 219/2005/QĐ-TTg ngày 09/09/2005 của Thủ tướng Chính phủ, đã định nghĩa phát thanh là một loại hình thông tin đại chúng, trong đó nội dung được truyền tải qua âm thanh và tiếng nói thông qua sóng vô tuyến điện cũng như hệ thống dây dẫn.
Có 2 loại phát thanh phổ biến hiện nay là AM và FM:
AM (Điều chế biên độ) là một kỹ thuật quan trọng trong điện tử viễn thông, chủ yếu được sử dụng để truyền tải thông tin qua sóng mang vô tuyến Kỹ thuật này hoạt động bằng cách điều chỉnh biên độ của sóng mang theo biên độ của tín hiệu thông tin cần gửi, tức là điều chế sóng mang dựa trên tín hiệu mang tin.
Kỹ thuật điều tần FM (Frequency Modulation) được sử dụng trong phát thanh sóng cực ngắn và trong lĩnh vực vô tuyến điện cũng như xử lý tín hiệu Phương pháp này truyền thông tin qua sóng mang cao tần bằng cách thay đổi tần số của sóng mang mà không làm thay đổi biên độ Bên cạnh FM, còn có nhiều phương pháp điều chế khác như điều chế biên độ, điều chế pha, điều chế mạch xung, điều chế biên mã và điều chế đơn biên.
1.1.2 Đặc điểm của phát thanh
Phát thanh thông tin nhanh hơn so với truyền hình và báo in, vì khi có sự kiện mới, phát thanh có thể ngay lập tức truyền tải thông tin đến công chúng Báo in bị giới hạn về diện tích và số lượng chữ, trong khi truyền hình cần thời gian để quay, dựng và chỉnh sửa Ngược lại, phát thanh có thể tổng hợp và đưa tin ngay sau khi sự kiện xảy ra hoặc thậm chí phát sóng trực tiếp khi sự kiện đang diễn ra Điều này phù hợp với chức năng của các loại hình báo chí: phát thanh đưa tin tức, truyền hình chứng thực và phản ánh, trong khi báo in thực hiện nhiệm vụ phân tích, bình luận và đánh giá vấn đề một cách chính xác nhất.
Phương thức tác động của phát thanh:
Phát thanh là phương tiện truyền thông nhanh chóng, dễ tiếp nhận và kích thích trí tưởng tượng, mặc dù hiện nay đang phải cạnh tranh với truyền hình, nơi người xem có thể vừa nghe vừa nhìn Tuy nhiên, việc phát sóng truyền hình phức tạp hơn và chi phí cho máy thu hình cao hơn so với máy thu thanh Nhiều vùng sâu xa tại Việt Nam vẫn chưa tiếp cận được sóng truyền hình, trong khi nhiều người vẫn ưa thích nghe nhạc qua phát thanh vì nó giúp tập trung hơn Phát thanh đã cải tiến kỹ thuật và nội dung, với việc tăng cường chất lượng sóng và cải thiện các chương trình phát thanh để trở nên hấp dẫn hơn Đến nay, chưa có quốc gia nào, kể cả Mỹ, Anh hay Pháp, từ bỏ phát thanh, cho thấy cả hai lĩnh vực này vẫn phát triển song song, mặc dù truyền hình có tốc độ phát triển nhanh hơn.
Có đối tượng thính giả nghe rộng rãi:
Không chỉ ở thành phố, mà ngay cả ở nông thôn, người dân vẫn gắn bó với chiếc đài radio như một người bạn thân thiết Dù trình độ dân trí chưa cao, họ thường xuyên nghe các thông tin đơn giản như dự báo thời tiết, câu chuyện đêm khuya, và những nội dung gần gũi với đời sống hàng ngày của mình.
Truyền thanh là phương thức truyền tải âm thanh từ máy phát đến loa qua tín hiệu Hệ thống này bao gồm các thiết bị như máy thu âm, bộ thu sóng radio, thiết bị khuếch đại âm thanh, dây dẫn và loa, tạo thành một chuỗi liên kết để phát thông tin hiệu quả.
Đài truyền thanh là thiết bị chuyển tiếp tín hiệu âm thanh, bao gồm các thiết bị thu sóng radio, tách sóng và khuếch đại tín hiệu để phát sóng chương trình truyền thanh địa phương Với sự phát triển của công nghệ, hệ thống truyền thanh đã chuyển từ sử dụng dây dẫn kim loại sang phát sóng FM ngắn, mang lại chất lượng tín hiệu tốt và ít nhiễu Tuy nhiên, thuật ngữ truyền thanh vẫn được sử dụng để chỉ hoạt động thu, tiếp, và phát tín hiệu radio ở cấp huyện, thị, xã, phường và thị trấn.
1.1.4 Khái quát sự phát triển của hệ thống đài truyền thanh cơ sở Việt Nam Đài Tiếng nói Việt Nam được ra đời từ ngày 7/9/1945 Tuy nhiên, phải đến năm 1956, với sựgiúp đỡ của Liên Xô thời kỳđó, chúng ta mới bắt đầu xây dựng đựơc các đài phát thanh tỉnh Đến những năm 60 của thế kỷ XX, hệ thống đài truyền thanh ở nước ta đã từng bước được tăng cường số lượng và nâng cao dần chất lượng Nhiệm vụ chính của các đài huyện trong giai đoạn này là tiếp phát sóng đài Trung ương, đài tỉnh và tự xây dựng các bản tin, các chương trình phát thanh để phản ánh về công việc của các hợp tác xã; cổ vũ những phong trào thi đua lao động sản xuất, các điển hình; phê phán thói xa hoa, lãng phí, quan liêu trong quản lý tài sản tập thể… Do số lượng đầu báo ở ta khi đó còn rất ít nên vị trí, vai trò của các đài huyện là rất lớn
Từ năm 1976, Nhà nước Việt Nam đã chính thức đưa các đài truyền thanh xã, phường vào hệ thống truyền thanh 4 cấp, bao gồm: cấp Trung ương, cấp tỉnh, thành phố trực thuộc, cấp huyện, thị xã, và cấp xã, phường, thị trấn Hai cấp cuối cùng được gọi chung là "đài cơ sở".
Cuối thế kỷ XX, sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin đã giúp các đài huyện được trang bị máy phát sóng cực ngắn, dẫn đến sự ra đời của nhiều trạm truyền thanh tại cấp xã, phường và thị trấn.
Hệ thống đài truyền thanh cơ sở đã trở thành một phần thiết yếu trong hệ thống báo chí chính trị của Việt Nam từ khi ra đời Đặc biệt tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, miền núi và hải đảo, nơi có đến 80% dân số, vai trò của hệ thống này càng trở nên quan trọng Đài truyền thanh cơ sở không chỉ là phương tiện tuyên truyền hiệu quả mà còn là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân Nó là công cụ thiết yếu cho Đảng và chính quyền địa phương trong việc chỉ đạo, quản lý và phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời giúp người dân nắm bắt các chủ trương, chính sách từ cấp trên và chính quyền địa phương.
Trong bối cảnh báo chí hiện đại phát triển mạnh mẽ, hệ thống đài truyền thanh cơ sở vẫn giữ vị trí quan trọng nhờ vào hiệu quả truyền thông của nó.
1.1.5 Vai trò của hệ thống truyền thanh cơ sở
Theo tài liệu bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ Thông tin và Truyền thông năm 2012, chức năng của đài truyền thanh huyện, xã được thể hiện qua bốn mặt chính.
Mô hình và các h ệ th ố ng truy ền thanh cơ sở
Hệ thống truyền thanh cơ sở được phân thành hai loại chính: hệ thống truyền thanh hữu tuyến (có dây) và hệ thống truyền thanh vô tuyến (không dây) Mỗi loại hệ thống có các thành phần khác nhau tùy thuộc vào mục đích, vị trí và quy mô sử dụng.
1.2.1 Hệ thống truyền thanh hữu tuyến
Hình 1.2: Hệ thống truyền thanh có dây
Hình 1.3: Các thành phần chính của hệ thống truyền thanh có dây
Các thành phần của hệ thống truyền thanh có dây:
Mic là thiết bị thu âm tiếng người đọc chương trình truyền thanh, thường sử dụng loại mic điện động với trở kháng vào từ 300-600 Ω và độ nhạy 20μv Mic có thể là loại có dây hoặc có giắc cắm, và thường được sử dụng 2 chiếc: một chiếc hoạt động và một chiếc dự phòng.
Radio Cattsete là một thiết bị phát thanh có thể là đài phát thanh trung ương hoặc địa phương, thường sử dụng công nghệ hai băng tần AM/FM Ngoài ra, phần cattsete của thiết bị này có khả năng đọc và phát các đĩa CD/DVD, mang đến trải nghiệm nghe nhạc đa dạng cho người dùng.
Bàn khống chế là một loại chuyển mạch nhân công, có thể được thiết kế dưới dạng nút nhấn hoặc khóa 2 chiều Nhiệm vụ chính của bàn khống chế là lựa chọn tín hiệu cần truyền, bao gồm mic hoặc radio cassette.
Máy tăng âm là thiết bị khuếch đại âm thanh, thường sử dụng công nghệ bán dẫn Chức năng chính của máy là khuếch đại âm tần với công suất từ vài chục đến vài trăm watt Đầu ra của máy được kết nối với biến áp đường dây, với điện áp ra vào khoảng 120-240V AC.
Hệ thống đường dây và loa bao gồm đường dây trần song hành, giúp truyền tải tín hiệu âm thanh đến các loa được bố trí dọc theo đường dây Các loa được phân bố theo tổ, xóm và được sắp xếp theo dạng cụm để đảm bảo hiệu quả truyền tải âm thanh.
1.2.2 Hệ thống truyền thanh vô tuyến
Hình 1.4: Hệ thống truyền thanh không dây
Hình 1.5: Các thành phần chính của hệ thống truyền thanh không dây
Các thành phần của hệ thống truyền thanh không dây
- Radio cattsete, Mic, bàn khống chế: giống như hệ thống truyền thanh có dây
Máy phát FM là thiết bị phát thanh có công suất nhỏ, thường khoảng 50W, chủ yếu sử dụng công nghệ bán dẫn Tần số phát của máy nằm trong dải FM từ 87 đến 108 MHz và cần được sự cho phép của Cục quản lý tần số.
Antena là loại antena cần thiết, được treo ở độ cao trên 15m và có cột đỡ hình tam giác với dây néo chắc chắn Antena còn được trang bị cột thu lôi để bảo vệ chống sét Nhiệm vụ chính của antena là bức xạ tín hiệu tiếng cao tần tới các máy thu FM.
Hệ thống máy thu và loa vô tuyến khác biệt với hệ thống truyền thanh hữu tuyến ở chỗ mỗi loa đi kèm với một máy thu thanh có công suất âm tần vài chục W Các máy thu FM được thiết kế nhỏ gọn, chắc chắn và có khả năng chịu mưa gió Anten máy thu thường là loại antena cần, sử dụng nguồn AC điện lưới Đặc biệt, các máy thu tự động mở khi có tín hiệu phát, trong khi loa sử dụng là loa phóng thanh (loa nén) mà không cần biến áp ghép.
- Ngoài ra còn có 1 số thiết bị khác như bộ phát mã tín hiệu RDS, bộ lọc chống nhiễu, hộp điện cắt sét, chống sét
1.2.3 Ưu nhược điểm của các hệ thống truyền thanh cơ sở
Truyền thanh hữu tuyến (có dây) Truyền thanh vô tuyến(không dây) Ưu điểm
- Dễ vận hành phù hợp với trình độ cán bộđịa phương.
- Kinh phí sửa chữa vận hành nhỏ
- Giá trịđầu tư ban đầu thấp
- Âm thanh truyền tải có bằng dây đảm bảo tính trung thực không tạp âm
- Khi xảy ra sự cố người vận hành có thể tự xửlý đảm báo tính kịp thời
- Có thể thực hiện phát thanh riêng cho từng thôn, xóm
- Tổng hệ thống loa không phụ thuộc vào công suất máy tổng
Không cần hệ thống đường dây phức tạp, bạn có thể lắp đặt cụm thu ở bất kỳ vị trí nào trong phạm vi phủ sóng, miễn là có điện áp lưới để lắp hộp thu.
- Phát triển hệ thống loa không cần phải tăng công suất máy phát trong phạm vi phủ sóng của máy hiện tại
Mô hình xương cá yêu cầu đường dây trục chính có tiết diện lớn và máy tổng công suất cao, điều này dẫn đến chi phí mua dây dẫn trục chính tăng cao và tốn kém kinh phí cho hệ thống.
Khi vận hành, hiện tượng vặt có thể xảy ra do các điểm chích nối tiếp xúc kém, chậm chạm hoặc va chạm dây trần Để đảm bảo loa cuối nguồn phát ra âm thanh lớn, việc vặn máy tổng đầu nguồn lên cao có thể dẫn đến tình trạng các loa và biến áp đầu nguồn bị cháy.
- Với mô hình xương cá các loa được treo trên đầu cột điện khi sửa chữa phải cắt điện
- Hệ thống loa treo trên đầu cột điện tạo ra âm thanh lớn làm cho người dân ở cạnh loa còn ở xa thì không nghe rõ
Hệ thống đường dây được lắp đặt từ nhiều năm trước, khi khu vực chưa phát triển, dẫn đến việc các đường điện và dây điện thoại chưa được phân định rõ ràng Đến nay, tình trạng này vẫn tồn tại, gây ra nguy cơ chập chạm và nhầm lẫn giữa dây điện thoại và dây điện dân sinh, đặc biệt là với các dây trần.
- Hệ thống đường dây thường là
- Hệ thống không dây (FM) chịu ảnh hưởng rất lớn vào vấn đề thời tiết chịu tác động trực tiếp thời tiết đặc biệt là sét
Việc lựa chọn tần số kênh phát là một thách thức lớn, đặc biệt tại các tỉnh đồng bằng, nơi có mật độ sóng dày đặc và công suất máy không đồng đều, dẫn đến hiện tượng can thiệp lẫn nhau.
- Đòi hỏi kinh phí ban đầu tư ban đầu lớn
Mỗi tháng, các đơn vị quản lý tần số cần thu lệ phí sử dụng kênh tần và thanh toán chi phí điện năng tiêu thụ cho các hộp thu đặt tại vị trí cột điện.
Quan điể m ch ỉ đạ o c ủa Đả ng và nhà nướ c
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và khu vực hóa, Nghị quyết các Đại hội Đảng khẳng định vai trò quan trọng của thông tin trong đời sống xã hội Thông tin được xem là yếu tố thúc đẩy con người tự hoàn thiện nhân cách, kế thừa truyền thống cách mạng của dân tộc, đồng thời phát huy tinh thần yêu nước và ý chí tự lực tự cường trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước.
Tổ quốc được thể hiện qua nhiều văn kiện và nghị quyết quan trọng, bao gồm Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992), Luật Báo chí (1989) và các sửa đổi, bổ sung của Luật Báo chí (1999) Các nghị quyết của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng, như nghị quyết lần thứ năm (Khóa VIII) về phát triển văn hóa Việt Nam, nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001) và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001-2010, đều nhấn mạnh tầm quan trọng của tư tưởng, lý luận trong bối cảnh mới Chỉ thị số 22/CT-TW (1997) của Bộ Chính trị cũng góp phần vào việc đổi mới và tăng cường lãnh đạo công tác báo chí, cùng với các nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (2006) và XI (2011), cũng như chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020.
Quan điểm chỉ đạo về phát triển thông tin của Đảng và Nhà nước ta thể hiện qua những điểm quan trọng sau đây:
Hoạt động thông tin tại Việt Nam được thực hiện dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành.
Thông tin phải làm tốt nhiệm vụ phổ biến, giáo dục và bảo vệ chủ nghĩa
Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đường lối, chủ trương và chính sách của Đảng, cũng như pháp luật của Nhà nước Những tư tưởng này góp phần mở rộng và phát huy dân chủ xã hội, với mục tiêu trọng tâm là độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Phát triển hệ thống thông tin ở Việt Nam cần nhanh chóng, mạnh mẽ và bền vững, nhằm đảm bảo thông tin không chỉ phục vụ hiệu quả cho nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mà còn trở thành một lĩnh vực có tiềm năng tạo ra nguồn thu quan trọng, góp phần vào ngân sách Nhà nước.
Thông tin cần đảm bảo tính chân thật, giáo dục và phù hợp với lợi ích của đất nước và nhân dân, góp phần nâng cao dân trí và định hướng dư luận xã hội lành mạnh Nó cũng phải tăng cường sự đoàn kết và nhất trí về tư tưởng chính trị trong nhân dân, biểu dương các nhân tố mới và phê phán các quan điểm sai trái, tham nhũng Những người làm công tác thông tin cần tuân thủ định hướng của Đảng, pháp luật Nhà nước, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng và năng lực chuyên môn cao.
Phát triển cần gắn liền với quản lý thông tin hiệu quả, nâng cao vai trò và năng lực quản lý để tránh phát triển tràn lan Việc phát triển thông tin phải kết hợp hài hòa giữa công nghệ thông tin, truyền thông và các phương tiện khác, chú trọng đến chất lượng chính trị, văn hóa, khoa học và nghiệp vụ Thông tin cần đến tay mọi đối tượng và vùng miền, phù hợp với từng tầng lớp và lứa tuổi, đảm bảo sản phẩm thông tin hấp dẫn và hiệu quả Đặc biệt, cần chú trọng công tác thông tin đối ngoại để cung cấp thông tin kịp thời, chính xác về tình hình Việt Nam, nhằm thu hút sự đồng tình của cộng đồng quốc tế và người Việt Nam ở nước ngoài.
Thông tin cần phải đi trước trong việc dự báo và định hướng phát triển xã hội, đồng thời đóng vai trò là nguồn lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển này Nó không chỉ phục vụ cho sự nghiệp phát triển lý luận mà còn mở rộng và phát huy dân chủ trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, nâng cao ý thức làm chủ đất nước của nhân dân.
Phát triển thông tin cần phải đảm bảo an ninh thông tin, giữ vững độc lập chủ quyền và định hướng xã hội chủ nghĩa của đất nước Điều này bao gồm việc kiên quyết đấu tranh để ngăn chặn mọi âm mưu chống phá sự nghiệp cách mạng và công cuộc đổi mới của chúng ta.
Phát thanh, truyền thanh cơ sở đóng vai trò quan trọng trong công tác tư tưởng và thông tin tuyên truyền Nghị quyết Trung ương 5 Khóa X khẳng định rằng công tác tư tưởng, lý luận và báo chí là một phần thiết yếu trong hoạt động của Đảng Do đó, việc tăng cường quản lý và phát triển báo chí, phát thanh, truyền hình là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới với những nhiệm vụ cách mạng mới.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển gắn liền với quản lý hiệu quả hệ thống thông tin đại chúng Các cơ quan báo chí và xuất bản cần thực hiện tốt chức năng tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; đồng thời phát hiện và giới thiệu những nhân tố mới, những tấm gương tốt, phê phán các hiện tượng tiêu cực và điều chỉnh nhận thức sai lệch Đặc biệt, cần chú trọng nâng cao tính chân thật, giáo dục và sức chiến đấu của thông tin.
Sử dụng Internet để tăng cường thông tin đối ngoại và ngăn chặn các hoạt động tiêu cực trên mạng Cần khắc phục tình trạng "thương mại hoá" trong báo chí và xuất bản Đồng thời, nâng cao bản lĩnh chính trị, tư tưởng, ý thức trách nhiệm, trình độ văn hoá và nghề nghiệp, cũng như phẩm chất đạo đức của đội ngũ làm báo và xuất bản.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 cũng yêu cầu:
Nâng cao chất lượng hệ thống thông tin, báo chí, Internet và xuất bản là cần thiết để bảo đảm quyền và cơ hội tiếp cận thông tin cho mọi người, đặc biệt là tại các vùng sâu, vùng xa và khu vực đồng bào dân tộc Đồng thời, cần tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý và nâng cao hiệu quả, đẩy mạnh xã hội hóa trong các lĩnh vực văn hóa và thông tin, nhằm hình thành một thị trường văn hóa lành mạnh.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) nhấn mạnh vai trò quan trọng của hệ thống thông tin đại chúng, đồng thời yêu cầu phát triển các phương tiện thông tin đại chúng một cách đồng bộ và hiện đại Các thông tin cần phải chân thực, đa dạng, kịp thời và phục vụ hiệu quả cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hi ệ n tr ạng và xu hướ ng phát tri ể n c ủ a truy ề n thông hi ệ n nay
1.4.1 Những vấn đềđặt ra trong bối cảnh hiện nay
Cuộc cách mạng công nghệ kỹ thuật số và sự bùng nổ của Internet đã đặt ra nhiều câu hỏi về tương lai của các loại hình báo chí truyền thống, bao gồm báo in, phát thanh và truyền hình Đặc biệt, phát thanh ở Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong bối cảnh này, khiến vấn đề trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Phát thanh Việt Nam, ra đời ngay sau báo in và gắn liền với lịch sử độc lập của đất nước từ năm 1945, đã trải qua nhiều thăng trầm Tuy nhiên, vào những thập niên cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, phát thanh dần mất vị thế do sự phát triển mạnh mẽ của truyền hình và sự bùng nổ của Internet, khiến các loại hình báo chí truyền thống, đặc biệt là báo in và phát thanh, phải đối mặt với thách thức tồn tại Trong bối cảnh này, phát thanh buộc phải lựa chọn giữa việc bị đào thải hoặc nỗ lực đổi mới để thích ứng và tiếp tục tồn tại.
Hình 1.6: Loa phường Hà Nội
Mặc dù có nhiều dự đoán bi quan về tương lai của phát thanh trong thời đại bùng nổ phương tiện truyền thông thế kỷ XXI, một số nhà nghiên cứu vẫn lạc quan về sự phát triển của nó Họ nhấn mạnh những ưu điểm nổi bật của phát thanh, bao gồm tính tiện lợi, kỹ thuật đơn giản và thiết bị gọn nhẹ Đặc biệt, khả năng tiếp nhận thông tin linh hoạt, cho phép người nghe nghe phát thanh ở bất kỳ đâu, như trong ô tô, khi ngủ, làm việc hoặc trong các tình huống khẩn cấp như lũ lụt hay bão, là yếu tố quan trọng góp phần vào sự bền vững của phát thanh trong tương lai.
Thiết bị thu nhận thông tin phát thanh nổi bật với sự đơn giản và gọn nhẹ, tạo lợi thế so với báo mạng và truyền hình, vốn yêu cầu thiết bị kỹ thuật cồng kềnh và phức tạp hơn Trong bối cảnh cuộc sống hiện đại ngày càng phát triển và áp lực nhịp sống tăng cao, những ưu điểm này của phát thanh càng trở nên quan trọng và hữu ích hơn bao giờ hết.
Khác với phương thức sản xuất chương trình phát thanh truyền thống, các chương trình phát thanh hiện đại đã ứng dụng công nghệ mới như kỹ thuật số, Internet và mạng điện thoại di động Điều này giúp nâng cao khả năng tác động của phát thanh, phục vụ tốt hơn nhu cầu của công chúng.
Hệ thống phát thanh tại Việt Nam hiện nay được ví như có hai màu sáng và tối, với nhiều khu vực, đặc biệt là ở cấp huyện và xã, bị báo hình và báo mạng lấn át Tuy nhiên, ở những vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là các tỉnh miền núi còn nghèo khó, phát thanh vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối chính quyền với người dân Tại các tỉnh biên giới phía Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên và những huyện gần biên giới, phát thanh vẫn duy trì hiệu quả và thu hút một lượng công chúng đông đảo.
Trên nền tảng công nghệ kỹ thuật số, phát thanh đã có những bước phát triển vượt bậc, chuyển mình sang thời kỳ hiện đại Kỹ thuật số đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng âm thanh của phát thanh, tương đương với đĩa CD, đồng thời loại bỏ hiện tượng nhiễu tín hiệu và ảnh hưởng từ các yếu tố tự nhiên.
Trong bối cảnh hiện đại, phát thanh, báo in và truyền hình đều đang ứng dụng công nghệ mới như kỹ thuật số và Internet để nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh Đặc biệt, phát thanh đã trải qua một cuộc cách mạng với các hình thức sản xuất chương trình hiện đại như phát thanh có hình, phát thanh trực tuyến, và phát thanh tương tác Những đổi mới này không chỉ giúp phát thanh thích ứng với xu hướng mới mà còn khắc phục những hạn chế của phương thức truyền thống, từ đó mở ra cơ hội phát triển bền vững trong ngành.
Phát thanh hiện đại là sự kế thừa và phát triển từ phát thanh truyền thống, với sự thay đổi trong phương thức sản xuất chương trình để đáp ứng nhu cầu công chúng Sự chuyển mình này không chỉ dựa vào công nghệ mới mà còn yêu cầu kỹ năng mới nhằm nâng cao chất lượng nội dung Những ưu điểm của phát thanh truyền thống, như tính tức thời, khả năng tiếp cận rộng rãi và sự kết nối cá nhân, vẫn được phát huy mạnh mẽ, kết hợp với công nghệ mới, giúp phát thanh trở nên hấp dẫn và hiệu quả hơn Với những lợi thế riêng, phát thanh sẽ củng cố vị trí của mình trong hệ thống báo chí, truyền thông Dự đoán trong thế kỷ XXI, phát thanh tại Việt Nam sẽ dần lấy lại vị thế trong hệ thống truyền thông đại chúng và phát triển mạnh mẽ cả về bề rộng lẫn chiều sâu trong xu thế truyền thông đa phương tiện Để phù hợp với xu thế này, hệ thống phát thanh cần được thiết kế lại và xây dựng để đảm bảo các tiêu chí và mục tiêu đã đề ra.
Hệ thống thông tin cần đảm bảo tính sẵn sàng, không chỉ phục vụ nhu cầu hiện tại mà còn đáp ứng các nhu cầu mới và ngày càng tăng trong vòng 5 đến 10 năm tới.
Thiết kế và xây dựng hệ thống dựa trên nguyên tắc mở, cho phép đáp ứng linh hoạt các nhu cầu sử dụng dịch vụ giá trị gia tăng trong tương lai Việc nâng cấp và mở rộng cần được thực hiện một cách dễ dàng và đồng bộ, đảm bảo không ảnh hưởng đến các ứng dụng và dịch vụ hiện tại đang được phục vụ và khai thác.
Tính cơ động của hệ thống xây dựng cho phép người quản lý dễ dàng sử dụng, chuyển đổi và điều chỉnh các chức năng theo nhu cầu Người dùng có thể linh hoạt lựa chọn các tính năng phù hợp với từng đối tượng phục vụ, đảm bảo sự tiện lợi và hiệu quả trong quá trình sử dụng.
• Tính ổn đinh: Đảm bảo khảnăng hoạt động liên tục, luôn luôn có backup phương án dự phòng về server hệ thống, khôi phục nhanh khi gặp sự cố
Để đảm bảo độ tin cậy của hệ thống, cấu trúc cần tối ưu hóa hiệu suất khai thác dịch vụ và ứng dụng, đồng thời giảm thiểu các điểm lỗi tiềm ẩn Quản lý hệ thống sẽ được hỗ trợ bởi các công cụ phần cứng và phần mềm, giúp theo dõi hiệu suất hoạt động liên tục Hệ thống cũng cần có chức năng cảnh báo và thông báo, cho phép người quản trị có phản ứng kịp thời và phù hợp.
Công nghệ tiên tiến được áp dụng trong thiết kế nhằm đáp ứng nhu cầu truyền thông hiện đại, đồng thời phù hợp với sự phát triển và môi trường phát thanh tại Việt Nam.
Đầu tư vào công nghệ, thiết bị và phần mềm cần được thực hiện một cách chiến lược, xác định các giai đoạn phù hợp trong quá trình triển khai dự án Điều này giúp tối ưu hóa nguồn lực, tránh lãng phí tài nguyên, đồng thời đảm bảo hiệu quả và tính cập nhật của hệ thống.
K ết luân chương
Trước những hạn chế của hệ thống truyền thanh cũ, việc cải thiện và phát triển hệ thống truyền thanh cơ sở trở nên cấp bách Để đáp ứng nhu cầu thông tin hiện nay, cần xây dựng lại hệ thống dựa trên các tiêu chí phù hợp với xu hướng phát triển mới.
Dựa vào những tiêu chí đã đặt ra, tôi xin trình bày về giải pháp truyền thanh không dây theo công nghệ IP ởchương 2.
GIẢ I PHÁP TRUY Ề N THÔNG TH Ế H Ệ M Ớ I
Truy ề n thanh không dây theo công nghê IP
Sự bùng nổ của công nghệ thông tin và internet đã thúc đẩy phát thanh truyền thống cần phải đổi mới về công nghệ, nâng cao chất lượng nội dung và áp dụng các phương thức tiếp cận hiện đại Sở TT&TT đang nghiên cứu phương án số hóa phát thanh thông qua công nghệ truyền dẫn IP, cho phép truyền và nhận bản tin phát thanh qua mạng internet, sóng di động 3G/4G và sóng wifi, thay thế cho hình thức phát sóng FM truyền thống.
Hiện nay, nhiều nhà mạng như Viettel, Mobifone, Vinaphone và Newtatco đã phát triển sản phẩm truyền thanh không dây dựa trên công nghệ IP qua internet, 3G/4G và wifi Giải pháp này rất phù hợp với sự phát triển thông tin tại các xã, huyện, đặc biệt là ở những vùng địa hình hiểm trở mà sóng FM không thể phủ sóng Ưu điểm lớn nhất của các hệ thống này là khả năng lắp đặt và triển khai dễ dàng chỉ cần có sóng viễn thông, nhờ vào công nghệ MQTT (Message Queuing Telemetry Transport) trong việc truyền phát bản tin.
Hình 2.1: Truyền thanh theo công nghê IP
Công nghệ IP cho phép truyền dẫn thông tin số qua chuyển mạch gói, sử dụng môi trường như internet, 3G/4G và sóng wifi Mỗi thiết bị gửi và nhận thông tin thông qua địa chỉ IP riêng, giúp khắc phục nhiều hạn chế của phát sóng FM Công nghệ này cho phép phủ sóng ở mọi địa hình, giữ nguyên chất lượng âm thanh mà không bị nhiễu, đồng thời toàn bộ quy trình từ sản xuất đến lưu trữ đều được số hóa, dễ dàng quản lý và giám sát Tín hiệu âm thanh được chuyển đổi thành tệp tin mp3, sau đó được chia thành nhiều gói IP để truyền đến thiết bị thu cuối.
Hình 2.2: Một mô hình tuyền thanh kiểu mới
2.1.1 Đặc điểm truyền thanh theo IP dựa trên công nghệ MQTT
Kỹ thuật truyền thanh theo IP sử dụng công nghệ MQTT cho phép truyền tải thông tin số qua mạng chuyển mạch gói Mỗi thiết bị đầu cuối, như máy tính, laptop hay điện thoại, đều cần có một địa chỉ IP để kết nối với internet Thiết bị gửi thông tin sẽ truyền dữ liệu đến thiết bị đầu cuối (thiết bị thu) thông qua địa chỉ IP của nó.
Hiện nay có 3 cách truyền thông dụng nhất khi truyền thanh IP sử dụng công nghệ MQTT:
Truyền thanh IP sử dụng công nghệ MQTT qua mạng di động 3G/4G cho phép truyền tải âm thanh hiệu quả Âm thanh được đóng gói thành các gói IP và chuyển đến các điểm thu thông qua sóng di động Trong hệ thống này, sóng 3G/4G đóng vai trò là môi trường truyền dẫn, và mỗi cụm loa truyền thanh cần sử dụng SIM điện thoại để thu phát sóng giống như điện thoại di động thông thường.
Hình 2.3: Mô hình truyền thanh qua sóng di đông 3G/4G
Truyền thanh IP sử dụng công nghệ MQTT qua mạng Internet, trong đó thông tin âm thanh được đóng gói thành các gói IP và truyền đến các điểm thu qua cáp mạng Cáp mạng Internet đóng vai trò là môi trường truyền dẫn, và mỗi cụm loa truyền thanh cần thiết bị có khả năng kết nối với mạng Internet.
Truyền thanh IP sử dụng công nghệ MQTT qua wifi cho phép thông tin âm thanh được đóng gói thành các gói IP Những gói này được chuyển đến các điểm thu qua môi trường vật lý là sóng wifi.
Kỹ thuật truyền thanh IP sử dụng công nghệ MQTT mang lại nhiều tính năng vượt trội so với các phương pháp truyền thanh hiện tại Những ưu điểm của nó bao gồm khả năng truyền tải nhanh chóng, độ tin cậy cao và khả năng mở rộng linh hoạt Tuy nhiên, cũng cần lưu ý một số nhược điểm như yêu cầu về hạ tầng mạng và sự phụ thuộc vào kết nối Internet.
- Chất lượng âm thanh tốt hơn nhiều so với công nghệ FM: âm thanh trong, không lẫn tạp âm,
- Thiết bị cụm sử dụng đường truyền 3G/4G hoặc Internet phảo có chi phí thanh IP không có tình trạng rồ âm
- Có độ bảo mật và an toàn thông tin cao
- Cho phép giám sát và điều khiển cụm thu truyền thanh từ xa, tập trung
- Cho phép phân quyền, phân lớp để nhiều đơn vị có thể chia sẻ hạ tầng sử dụng
- Không có khảnăng chèn sóng.
- Không có dây truyền thanh, ít thành phần rườm rà gây mất mỹ quan
- Cụm thu sóng phát thanh gọn, nhẹ dễ lắp đặt
- An toàn, dễ bảo dưỡng, dễ kiểm tra sửa chữa khi cần
- Không cần xây dựng cột ăngten, giảm thiểu tình trạng mất an toàn do cột ăng ten xuống cấp
- Sốlượng cụm loa không giới hạn khoảng cách, không phụ thuộc vào công suất máy phát trung tâm
- Quản lý vận hành tập trung, phát bản tin mọi lúc mọi nơi;
- Dễ sử dụng, tiết kiệm thời gian và nhân lực duy trì hàng tháng
- Chi phí đầu tư lớn nếu thay thế các cụm loa không dây Còn nếu để truyền âm thanh tiếp âm thì chi phí chấp nhận được
Trước khi phát sóng, cần đảm bảo đủ thời gian để tải file audio lên server Mặc dù hệ thống hỗ trợ đặt lịch trước giúp cán bộ vận hành chủ động, nhưng vẫn còn nhược điểm cần khắc phục.
Bảng 2.1: Ưu nhược điểm của kỹ thuật truyền thanh IP
Phát thanh vô tuyến theo IP sử dụng công nghệ MQTT đã tạo ra một cuộc cách mạng trong lĩnh vực truyền thông cơ sở, mang lại sự thay đổi toàn diện so với các phương thức truyền thông cũ Giải pháp này không chỉ đáp ứng tốt hơn với sự phát triển của xã hội và công nghệ mà còn sở hữu nhiều tính năng nổi trội hơn so với phát thanh truyền thống.
• Giải pháp âm thanh IP truyền qua internet không giới hạn khoảng cách truyền, tín hiệu âm thanh giữ nguyên được chất lượng khi truyền qua internet
• Khắc phục được các lỗi thường xảy ra với các hệ thống tiếp âm bằng sóng
FM như nhiễu, sóng không ổn định, chập chờn do thời tiết
Người dùng có thể dễ dàng điều khiển việc phát, tắt mở và phát thanh mọi lúc, mọi nơi Hệ thống cho phép lập lịch cho các đài tự động phát, giúp tiết kiệm thời gian và công sức cho người vận hành.
• Có thể phân cấp quản lý đài theo nhiều cấp tỉnh, huyện, xã đều có thể phát vào hệ thống nếu được giao quyền
Sử dụng một hệ thống tập trung duy nhất giúp các cơ quan quản lý nội dung phát thanh và thông tin một cách hiệu quả trên toàn địa bàn các cấp.
Giải pháp mới này không chỉ mang lại nhiều ưu điểm, mà còn cung cấp một loạt các kịch bản phát thanh đa dạng mà các công nghệ truyền thống không thể thực hiện được.
• Phát thanh mọi lúc, mọi nơi tới từng cụm, từng hô gia đình nếu có phủ sóng
• Phát thanh qua ghi âm trực tiếp hoặc sử dụng những file audio có sẵn
• Phát các tin khẩn cấp, tin ưu tiên trước mà không cần lo trùng nhau
• Phát theo lịch đặt trước hàng ngày, hàng tuần
• Có thể hủy bản tin đang phát….
2.1.2 Vấn đề về bảo mật
Vấn đề bảo mật và ATTT cho hệ thống phát thanh vô tuyến theo công nghệ
Sử dụng công nghệ MQTT cho IP là yếu tố quan trọng cần được chú trọng nhằm đảm bảo an toàn và bảo mật thông tin trong quá trình truyền thanh tại cơ sở.
Để đảm bảo an toàn bảo mật thông tin cho hệ thống, cần tuân thủ đầy đủ các tiêu chuẩn quy định Việc vận hành trên nền tảng internet tiềm ẩn nguy cơ tấn công mạng, do đó hệ thống cần được trang bị các thiết bị bảo vệ như tường lửa (firewall) để kiểm soát luồng thông tin hiệu quả.
Nghiên c ứ u và áp d ụ ng công ngh ệ MQTT
MQTT (Message Queuing Telemetry Transport) là giao thức truyền thông điệp theo mô hình publish/subscribe, cho phép truyền tải dữ liệu hiệu quả với băng thông thấp và độ tin cậy cao Giao thức này rất phù hợp cho các điều kiện mạng không ổn định, mang lại khả năng hoạt động liên tục và ổn định.
MQTT, được phát triển vào năm 1999 bởi hai kỹ sư Andy Stanford-Clark từ IBM và Arlen Nipper từ Eurotech, đã ra đời nhằm tạo ra một giao thức mới cho việc kết nối các đường ống dẫn dầu trên các mạng vệ tinh không đáng tin cậy.
Vào năm 2011, IBM và Eurotech đã trao tặng giao thức MQTT cho dự án Eclipse mang tên Paho Đến năm 2013, MQTT đã được đệ trình lên OASIS để tiến hành chuẩn hóa Hiện nay, phiên bản mới nhất của đặc tả giao thức 3.11 đã được công nhận là một tiêu chuẩn OASIS.
MQTT là một giao thức truyền thông theo mô hình publish/subscribe, nổi bật với khả năng sử dụng băng thông thấp và độ tin cậy cao, thích hợp cho điều kiện đường truyền không ổn định Được thiết kế cho việc liên lạc nhẹ giữa các thiết bị và hệ thống máy tính, MQTT ban đầu phục vụ cho các mạng SCADA và các kịch bản sản xuất Giao thức này rất phù hợp cho các ứng dụng M2M, WSN và IoT, khiến nó trở thành lựa chọn lý tưởng cho các môi trường hạn chế tài nguyên.
• Những nơi mà giá mạng quá đắt hoặc băng thông thấp, hoặc độ tin cậy thấp
• Khi chạy trên một thiết bị nhúng bị giới hạn về tài nguyên tốc độ và bộ nhớ
Các đặc trưng chính của giao thức bao gồm:
• Dạng truyền message cung cấp/thuê bao (publish/subcribe) cung cấp việc truyền tin phân tán 1-nhiều
• Việc truyền message là luôn không quan tâm đến nội dung truyền
• Dựa trên nền TCP/IP để cung cấp đường truyền
Hình 2.9: Mô hình kiến trúc MQTT a Kiến trúc MQTT
Kiến trúc mức cao của MQTT bao gồm hai thành phần chính: Broker và Client Broker hoạt động như trung tâm, tiếp nhận kết nối từ các Client, nhận message từ publisher, sắp xếp chúng theo hàng đợi và chuyển tới địa chỉ cụ thể Ngoài ra, Broker còn đảm nhiệm các tính năng như bảo mật message, lưu trữ và ghi lại logs Client được chia thành hai nhóm: publisher và subscriber, là các thành phần phần mềm hoạt động trên thiết bị edge, thiết kế linh hoạt để thực hiện ít nhất một trong hai nhiệm vụ: xuất bản message lên một topic cụ thể hoặc đăng ký nhận message từ một topic nào đó.
MQTT Clients tương thích với hầu hết các nền tảng hệ điều hành hiện có: MAC OS, Windows, Linux, Androids, iOS
Broker có thể được ví như một sạp báo, trong khi các publisher tương tự như các tòa soạn báo, nơi in ấn và cung cấp nội dung Người đọc, hay còn gọi là subscriber, đến sạp báo để chọn lựa tờ báo mà họ muốn đọc MQTT mang lại nhiều ưu điểm, giúp tối ưu hóa quá trình truyền tải dữ liệu giữa các thiết bị và cải thiện khả năng kết nối trong các ứng dụng IoT.
Giao thức MQTT sở hữu những tính năng độc đáo, mang lại lợi ích vượt trội cho việc truyền thông, điều này khiến nó trở thành lựa chọn lý tưởng so với các giao thức khác.
• Đây là một giao thức gọn nhẹ Vì vậy, thật dễ dàng để thực hiện trong phần mềm và nhanh chóng trong truyền dữ liệu
• Các gói dữ liệu được thu nhỏ Do đó, được sử dụng trong mạng lưới không ổn định
Giao thức MQTT hoạt động tương tự như WhatsApp, dựa trên kỹ thuật nhoắn tin, cho phép gửi tin nhắn nhanh chóng và hiệu quả.
• Sử dụng điện năng thấp Do đó, nó sẽ tiết kiệm pin của thiết bị được kết nối
• Có khả năng thời gian thực! Đây là một trong những tính năng đặc biệt làm cho giao thức này hoàn hảo cho các ứng dụng IoT c QoS
Hình 2.10: Mô hình QoS Ở đây có 3 tuỳ chọn QoS (Qualities of service) khi "publish" và"subscribe":
• QoS0 Broker/client sẽ gởi dữ liệu đúng 1 lần, quá trình gởi được xác nhận bởi chỉ giao thức TCP/IP
Broker/client QoS1 sẽ gửi dữ liệu và yêu cầu ít nhất một lần xác nhận từ bên nhận, điều này có nghĩa là có thể nhận được nhiều hơn một lần xác nhận cho cùng một dữ liệu.
• QoS2 Broker/client đảm bảm khi gởi dữ liệu thì phía nhận chỉ nhận được đúng 1 lần, quá trình này phải trải qua 4 bước bắt tay.
Trong giao thức MQTT, một gói tin có thể được gửi với bất kỳ mức độ Chất lượng Dịch vụ (QoS) nào, và các client cũng có thể đăng ký với yêu cầu QoS khác nhau Điều này có nghĩa là client sẽ chọn mức QoS tối đa mà nó có thể nhận Ví dụ, nếu một gói dữ liệu được phát hành với QoS 2 nhưng client chỉ đăng ký với QoS 0, thì gói dữ liệu sẽ được broker gửi đến client đó với QoS 0 Ngược lại, nếu một client khác đăng ký cùng kênh với QoS 2, thì nó sẽ nhận gói dữ liệu từ broker với QoS 2.
Khi giá trị RETAIN được thiết lập là 1, các Broker sẽ lưu trữ gói tin với QoS khi nó được publish từ Client Gói tin này sẽ được gửi đến bất kỳ Client nào đăng ký cùng kênh Khi một Client kết nối với Broker và thực hiện subscribe, nó sẽ nhận được gói tin cuối cùng có RETAIN = 1 từ bất kỳ kênh nào mà nó đã đăng ký Tuy nhiên, nếu Broker nhận được gói tin với QoS = 0 và RETAIN, tình huống sẽ khác.
= 1, nó sẽhuỷ tấtcả các gói tin có RETAIN = 1 trướcđó Và phải lưu gói tin này lại,nhưng hoàn toàn có thểhuỷbấtkỳ lúc nào
Khi một gói dữ liệu được gửi đến Client, Broker cần chia sẻ RETAIN = 1 nếu gói đó là kết quả của việc Client mới đăng ký (tương tự như tin nhắn ACK xác nhận đăng ký thành công) Ngược lại, RETAIN phải được đặt bằng 0 nếu không quan tâm đến kết quả của việc đăng ký.
MQTT Bridge là tính năng của MQTT Broker cho phép kết nối và trao đổi dữ liệu giữa các Broker Để sử dụng tính năng này, cần ít nhất hai Broker, trong đó một Broker sẽ được cấu hình thành Bridge Khi cấu hình MQTT Bridge, cần chú ý đến các thông số quan trọng.
• address: địa chỉ của broker cần kết nối
• bridge_protocol_version: phiên bản của giao thức MQTT đang sử dụng chung cho 2 broker
• topic: phần này định nghĩa 3 thông số: tên topic được trao đổi giữa 2 broker, chiều trao đổi (1 chiều hay 2 chiều) và topic mapping giữa 2 broker
MQTT được thiết kế nhẹ và linh hoạt, với một lớp bảo mật duy nhất ở tầng ứng dụng thông qua xác thực client Mặc dù vậy, MQTT có thể được kết hợp với các giải pháp bảo mật đa tầng khác như VPN ở tầng mạng hoặc SSL/TLS ở tầng transport để tăng cường bảo mật.
MQTT, ban đầu được thiết kế cho truyền thông machine-to-machine, đã chứng minh tính linh hoạt vượt trội, cho phép áp dụng trong nhiều kịch bản như machine-to-cloud, cloud-to-machine và app-to-app Với một broker phù hợp và MQTT client được cài đặt đúng cách, các thiết bị trên nhiều nền tảng có thể giao tiếp dễ dàng Ra đời vào năm 1999, đến nay, MQTT phiên bản 3.1.1 đã được công nhận là chuẩn OASIS.
K ế t lu ận chương
Chương 2 này đã trình bày về giải pháp truyền thanh không dây qua công nghệIP Đây là công nghệ truyền dẫn thông tin số chuyển mạch gói qua các môi trường như Internet, 3G/4G, wifi Giải pháp mới kết hợp với công nghệ MQTT đã giải quyết được, khắc phục được hầu hết những nhược điểm của công nghệcũ và có nhiều tính năng nổi trội hơn:
• Giải pháp âm thanh IP truyền qua internet không giới hạn khoảng cách truyền, tín hiệu âm thanh giữ nguyên được chất lượng khi truyền qua internet
• Khắc phục được các lỗi thường xảy ra với các hệ thống tiếp âm bằng sóng
FM như nhiễu, sóng không ổn định, chập chờn do thời tiết
Người dùng có thể dễ dàng điều khiển việc phát, tắt mở và phát thanh mọi lúc mọi nơi, đồng thời thiết lập lịch cho các đài phát tự động, giúp tiết kiệm thời gian và công sức cho người vận hành.
• Có thể phân cấp quản lý đài theo nhiều cấp tỉnh, huyện, xã đều có thể phát vào hệ thống nếu được giao quyền
Sử dụng một hệ thống tập trung duy nhất giúp các cơ quan quản lý trên toàn địa bàn quản trị hiệu quả nội dung phát thanh và thông tin ở mọi cấp độ.