GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI HÀ
Liên hệ chi tiết
Trụ sở chính: Công ty Cổ Phần Bánh Kẹo Hải Hà Ðịa chỉ : 25-27 Trương Định,P.Trương Định,Q Hai Bà Trưng,TP.Hà Nội Ðiện thoại : (+84) 4.3863.2956/4.38632041 Fax: (+84) 4.38638730
Mail: Info@haihaco.com.vn Website: http://haihaco.com.vn
Lĩnh vực họat động chính
Công ty bắt đầu hoạt động chính thức dưới hình thức Công ty cổ phần từ ngày 20/01/2004, theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103003614 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận này đã được thay đổi lần thứ hai vào ngày 13/08/2007.
Các hoạt động sản xuất, kinh doanh chính bao gồm:
- Sản xuất kinh doanh trong và ngoài nước bao gồm các lĩnh vực bánh kẹo và chế biến thực phầm.
Kinh doanh xuất nhập khẩu bao gồm các loại vật tư sản xuất, máy móc thiết bị, sản phẩm chuyên ngành, hàng hóa tiêu dùng và nhiều loại sản phẩm hàng hóa khác.
-Đầu tư xây dựng, cho thuê văn phòng, nhà ở, trung tâm thương mại.
-Kinh doanh các ngành nghề khác không bị cấm theo quy định của pháp luật.
Sản phẩm hàng hóa
Công ty hiện có các nhóm sản phẩm chính sau
-Bánh quy -Kẹo Chew -Bánh cracker
-Bánh kẹo hộp -Kẹo mềm -Kẹo cứng
-Bánh kem xốp -Bánh cracker -Bánh trung thu
Chiến lược phát triển
Để đảm bảo tốc độ tăng trưởng doanh thu hàng năm từ 20% đến 30%, cần đa dạng hóa sản phẩm bằng cách phát triển nhiều sản phẩm chủ lực có giá trị dinh dưỡng cao và khẩu vị mới lạ.
Công ty không chỉ tập trung vào việc phát triển ngành chế biến thực phẩm mà còn mở rộng sang các lĩnh vực khác như xây dựng và đầu tư tài chính.
Hiện đại hóa quản lý và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin là những yếu tố quan trọng giúp nâng cao hiệu quả trong việc áp dụng quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO và HACCP Đồng thời, việc thu hút nhân tài cũng góp phần không nhỏ vào việc cải thiện quy trình và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Các thành tích đạt được
Sản phẩm của Công ty Cổ phần Bánh Kẹo Hải Hà đã vinh dự nhận nhiều huy chương vàng và bạc tại các triển lãm quốc tế, như Hội chợ Quốc tế hàng công nghiệp Việt Nam và Hội chợ thành tựu kinh tế quốc dân Đặc biệt, từ năm 1997 đến 2013, sản phẩm của công ty liên tục được người tiêu dùng bình chọn là “Hàng Việt Nam chất lượng cao”, khẳng định uy tín và chất lượng của thương hiệu.
Tham gia vào thị trường chứng khoán Việt Nam
Vào ngày 19 tháng 7 năm 2007, Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội đã tiếp nhận hồ sơ đăng ký niêm yết cổ phiếu của Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà.
Cơ cấu sở hữu: Nhà nước 51%, cổ đông trong ngoài công ty 49%
Loại chứng khoán niêm yết Phổ thông
Khối lượng niêm yết ban đầu 5,475
Tổng khối lượng niêm yết 5,475
Tổng giá trị niêm yết 54,750,000,000
NỘI DUNG PHÂN TÍCH
Đánh giá khái quát khả năng thanh toán
Hệ số khả năng thanh toán chung = Khả năng thanh toán/ Nhu cầu thanh toán
Hệ số khả năng thanh toán chung = Tổng tài sản/ Tổng nợ phải trả
Bảng phân tích hệ số khả năng thanh toán chung từ năm 2011 – 2013
Chỉ tiêu Cuối năm 2013 Cuối năm 2012 Cuối năm 2011 Tổng tài sản 315,209,656,844 300,326,108,580 288,332,676,355
Hệ số khả năng thanh toán chung 2.624 2.601 2.633
C/L giữa cuối năm 2013 với cuối năm 2012
C/L giữa cuối năm 2012 với cuối năm 2011
Hệ số khả năng thanh toán chung 0.023 0.88 -0.032 -1.22
Biểu đồ phân tích hệ số khả năng thanh toán chung từ năm 2011 – 2013
Tổng tài sản Tổng nợ phải trả
Hệ số khả năng thanh toán chung
Năm 2011, hệ số khả năng thanh toán chung của công ty đạt 2.633, vượt mức 2, cho thấy công ty có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn và có đủ tài sản để trang trải nợ.
Năm 2012, hệ số khả năng thanh toán chung đạt 2.601, giảm 0.032 lần tương ứng với tốc độ giảm 1.22% so với năm 2011, cho thấy khả năng thanh toán của công ty vẫn tốt Nguyên nhân là do tổng tài sản tăng 4.16%, thấp hơn tốc độ tăng nợ phải trả 5.47%, điều này cho thấy công ty đang giảm quy mô sản xuất.
Năm 2013, công ty ghi nhận con số 2.624 >2, tăng 0.023 lần so với năm 2012, tương ứng với tốc độ tăng 0.88% Khả năng thanh toán của công ty vẫn rất tốt nhờ vào tốc độ tăng tài sản đạt 4.96%, cao hơn tốc độ tăng tổng nợ phải trả là 4.88% Mặc dù công ty đang mở rộng quy mô sản xuất, tình hình tài chính vẫn không bị phụ thuộc vào yếu tố bên ngoài.
Trong ba năm qua, hệ số khả năng thanh toán chung của công ty đã có sự biến động nhưng vẫn duy trì ở mức cao trên 2 Điều này cho thấy công ty có đủ tài sản để đảm bảo khả năng thanh toán nợ trong dài hạn, là yếu tố thu hút sự quan tâm từ các tổ chức tín dụng.
So sánh hệ số khả năng thanh toán chung của công ty cổ phần Bibica (BBC) và công ty cổ phần Kinh Đô (KDC) vào năm 2013, lần lượt là 4.856 và 4.266 Hệ số này cho thấy khả năng của doanh nghiệp trong việc trang trải các khoản nợ Cả ba công ty đều có hệ số khả năng thanh toán chung lớn hơn 2, chứng tỏ họ có đủ tài sản để đảm bảo khả năng thanh toán Trong số đó, BBC có hệ số cao nhất, trong khi HHC có hệ số thấp nhất, cho thấy khả năng thanh toán của HHC kém hơn so với BBC và KDC.
Đánh giá khả năng thanh toán ngắn hạn
2.1 Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn= Tài sản ngắn hạn/ Nợ ngắn hạn
Bảng phân tích khả năng thanh toán nợ ngắn hạn từ 2011-2013
Chỉ tiêu Cuối năm 2013 Cuối năm 2012 Cuối năm 2011
Tài sản ngắn hạn (đồng) 207,745,073,44
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn 1.734 1.711 1.581
C/L giữa cuối năm 2013 với cuối năm 2012
C/L giữa cuối năm 2012 với cuối năm 2011 Tuyệt đối
Hệ số khả năng thanh toán nợ NH 0.023 1.344 0.13 8.22
Biểu đồ phân tích khả năng thanh toán nợ ngắn hạn từ 2011-2013
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn
Vào năm 2011, hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn đạt 1.581, cho thấy mỗi 1 đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bởi 1.581 đồng tài sản ngắn hạn.
Năm 2012, hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn đạt 1,711, tăng 0,13 lần (8,22%) so với năm 2011, nhờ vào tốc độ tăng tài sản ngắn hạn đạt 14,45%, vượt qua tốc độ tăng nợ ngắn hạn Đặc biệt, khoản mục tiền và tương đương tiền tăng 78,88% so với năm trước, cho thấy doanh nghiệp đang mở rộng sản xuất và có đủ tài sản ngắn hạn để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn.
Năm 2013, hệ số nợ ngắn hạn đã tăng lên 1.734, tăng 1.344% so với năm 2012 Sự gia tăng này chủ yếu do tốc độ tăng tài sản ngắn hạn nhanh gấp hơn 2 lần so với tốc độ tăng nợ ngắn hạn.
Chi tiêu này đang có xu hướng tăng dần, điều này cho thấy nếu xu hướng này được duy trì, hoạt động tài chính của công ty sẽ trở nên ổn định Bởi vì, tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp sẽ luôn đảm bảo khả năng thanh toán nợ ngắn hạn.
- So sánh hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạncủa công ty Bánh kẹo Hải
Vào năm 2013, hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn của công ty cổ phần Hải Hà đạt 1.734, trong khi của công ty cổ phần Kinh Đô là 2.536 và công ty cổ phần Bibica là 2.126.
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn là chỉ tiêu quan trọng phản ánh khả năng của doanh nghiệp trong việc đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn Cả ba công ty Hải Hà, Bibica và Kinh Đô đều có hệ số này lớn hơn 1, cho thấy họ có đủ khả năng thanh toán nợ ngắn hạn một cách hiệu quả.
Năm 2013, tỉ trọng nợ ngắn hạn trên tổng nguồn vốn của Hải Hà, Bibica và Kinh Đô lần lượt là 61.42%, 35.63% và 25.93% Điều này cho thấy Hải Hà đã áp dụng chính sách huy động vốn mạo hiểm, sử dụng nhiều vốn vay, dẫn đến đòn bẩy tài chính cao nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro tài chính lớn nhất trong ba công ty Trong khi đó, tỉ trọng nợ ngắn hạn của Bibica và Kinh Đô ở mức vừa phải, cho thấy hai doanh nghiệp này có mức độ tự chủ tài chính cao hơn Hải Hà.
Doanh nghiệp cần có trị số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn lớn hơn 2 để đảm bảo khả năng thanh toán và tạo sự yên tâm cho các chủ nợ Cả Bibica và Kinh Đô đều đạt trị số này, trong đó Kinh Đô có trị số cao nhất, cho thấy công ty có biện pháp quản lý tài sản hiệu quả Mặc dù Hải Hà có trị số trên 1, công ty vẫn chưa hoàn toàn đảm bảo khả năng thanh toán nợ ngắn hạn, do đó cần đa dạng hóa nguồn huy động vốn để cải thiện tình hình tài chính.
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp được đánh giá tốt khi tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn tăng, trong khi nợ ngắn hạn giảm Nếu cả hai cùng tăng nhưng tốc độ tăng của tài sản lớn hơn nợ, hoặc cả hai cùng giảm nhưng tốc độ giảm tài sản nhỏ hơn nợ, thì cũng cho thấy khả năng thanh toán ổn định Tuy nhiên, chỉ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn chỉ phản ánh một phần tình hình tài chính, không thể khẳng định rằng tài chính doanh nghiệp tốt chỉ dựa vào việc khả năng thanh toán nợ ngắn hạn cao.
Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của các công ty bánh kẹo cho thấy sự khác biệt rõ rệt: Kinh Đô có tỷ trọng phải thu khách hàng chiếm 26.79% tổng tài sản, trong khi Bibica cao hơn với 42.49%, và Hải Hà chỉ đạt 16.023%.
Hệ số tài sản lưu động không phải lúc nào cũng tốt khi lớn; tính hợp lý của nó phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh Những ngành có tỷ lệ tài sản lưu động cao trong tổng tài sản sẽ có hệ số này cao hơn, trong khi những ngành khác sẽ có hệ số thấp hơn.
2.2 Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Khả năng thanh toán nhanh là khả năng của doanh nghiệp sử dụng tiền hoặc tài sản có thể chuyển đổi thành tiền để thanh toán nợ khi đến hạn hoặc quá hạn Tiền có thể bao gồm tiền gửi, tiền mặt, và tiền đang chuyển, trong khi tài sản thường là các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn như cổ phiếu và trái phiếu Doanh nghiệp cần thanh toán các khoản nợ đến hạn và quá hạn, bao gồm nợ ngắn hạn, nợ dài hạn và các khoản nợ khác trong thời hạn cam kết Công thức tính khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng để đánh giá sức khỏe tài chính của doanh nghiệp.
Hệ số khả năng thanh toán nhanh = (Tiền + Khoản đầu tư tài chính NH) / Nợ NH
Bảng phân tích hệ số khả năng thanh toán nhanh từ 2011-2013
Chỉ tiêu Cuối năm 2013 Cuối năm 2012 Cuối năm 2011
Tiền và các khoản tương đương tiền (đồng) 58,999,151,817 80,653,916,708 45,088,159,010
Các khoản đầu tư ngắn hạn (đồng) 30,000,000 _ _
Hệ số khả năng thanh toán nhanh 1.012 0.946 0.646
C/L giữa cuối năm 2013 với cuối năm 2012
C/L giữa cuối năm 2012 với cuối năm 2011
Tiền và các khoản tương đương tiền
Các khoản đầu tư ngắn hạn _ _ _ _
Hệ số khả năng thanh toán nhanh 0.066 6.988 0.300 46.476
Biểu đồ phân tích hệ số khả năng thanh toán nhanh từ 2011-2013
Tiền + Khoản đầu tư tài chính NH
Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Hệ số thanh toán nhanh của Hải Hà đã liên tục tăng trong ba năm qua, từ 0.646 lên 1.021, cho thấy khả năng trả nợ ngắn hạn của công ty đang được cải thiện Đặc biệt, vào cuối năm 2012, hệ số này đã tăng nhanh chóng so với năm 2011, với mức tăng 0.3 tương ứng 46.5%.
Vào năm 2012, tiền và các khoản tương đương ghi nhận sự gia tăng mạnh mẽ, đạt hơn 35.5 tỷ đồng, tương ứng với mức tăng 78.9% Trong khi đó, phải thu ngắn hạn cũng có xu hướng tăng, nhưng nợ ngắn hạn lại giảm hơn 9 tỷ đồng, tương ứng với mức giảm 9.063% Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là do công ty đã phát sinh các khoản tương đương tiền trị giá 46 tỷ đồng trong năm 2012, không có trong năm 2011, nhờ vào việc tăng cường đầu tư vào các khoản chứng khoán dưới 3 tháng.
Năm 2013, mặc dù tiền giảm mạnh so với năm 2012 với mức giảm hơn 21.6 tỷ đồng (tương ứng giảm 26.849%), nhưng lại có sự phát sinh các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn trị giá 30 tỷ đồng, phản ánh giá trị các hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn 1 năm tại Ngân hàng TMCP Liên Việt – Chi nhánh Hà Đông với lãi suất 9.5%/năm Đồng thời, cả phải thu ngắn hạn và nợ ngắn hạn đều tăng nhẹ, dẫn đến hệ số thanh toán nhanh cũng tăng nhẹ so với năm 2012, với mức tăng 0.066, tương ứng tăng gần 7%.