1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

DƯỢC CHẤT THIÊN NHIÊN đề TÀI FLAVONOID VÀ CHIẾT XUẤT FLAVONOID

56 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 1,96 MB

Cấu trúc

  • Chương 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ FAVOLONID

  • Chương 2: CẤU TRÚC HÓA HỌC

    • 2.1 Khung của Flavonoid

    • 2.2 Phân loại flavonoid

      • 2.2.1 Euflavonoid

      • 2.2.2 Isoflavonoid

      • 2.2.3 Neoflavonoid

      • 2.2.4 Biflavonoid và triflvovonoid

  • Chương 3: TÍNH CHẤT- ĐỊNH TÍNH- ĐỊNH LƯỢNG-CHIẾT TÁCH

    • 3.1 Tính chất

    • 3.2 Định tính

      • 3.2.1 Định tính hóa học

      • 3.2.2 Sắc ký

      • 3.2.3 Hơi Amoniac

      • 3.2.4 Quang phổ

    • 3.3 Định lượng

      • 3.3.3 Phương pháp cân

      • 3.3.4 Phương pháp đo phổ tử ngoại

      • 3.3.5 Phương pháp đo màu

  • Chương 4: CHIẾT XUẤT

    • 4.1 Quy trình chiết xuất hợp chất flavonoid

    • 4.2 Tách và tinh chế flavonoid

      • 4.2.1 Tinh chế bằng dung môi

      • 4.2.2 Tinh chế bằng than hoạt (theo Mabry)

      • 4.2.3 Tủa flavonoid với chì acetat

      • 4.2.4 Tách bằng phương pháp tủa với ete

      • 4.2.5 Tách các phân đoạn bằng các dung dịch có độ kiềm khác nhau

      • 4.2.6 Tách bằng phương pháp sắc ký giấy

      • 4.2.7 Tách và tinh chế bằng sắc ký cột.

      • 4.2.8 Tách bằng sắc ký chế hóa.

      • 4.2.9 Tách bằng nhựa trao đổi ion

      • 4.2.10 Tách bằng phương pháp kết tinh lại

    • 4.3 Tách riêng flavonoid

      • 4.3.1 Phương pháp vi thăng hoa

      • 4.3.2 Tách bằng phương pháp sắc ký cột

  • Chương 5: PHÂN BỐ FLAVONOID TRONG TỰ NHIÊN

  • Chương 6: TÁC DỤNG SINH HỌC CỦA FLAVONOID

  • Chương 7: DƯỢC LIỆU CHỨA FLAVONOID

    • 7.1 Dược liệu chứa Euflavonoid

      • 7.1.1 Hoa hòe

    • 7.2 Những nguồn dược liệu khác để chiết Rutin

      • 7.2.1 Đặc điểm thực vật

      • 7.2.2 Thành phần hóa học

      • 7.2.3 Tác dụng và công dụng

    • 7.3 Các dược liệu thuộc chi CITRUS – RUTACEAE

      • 7.3.1 Hoa hồng

    • 7.4 Dược liệu chứa ISOFLAVONOID

      • 7.4.1 Hạt củ đậu( semen pachyrrhizi )

    • 7.5 Dược liệu chứa NEOFLAVONOID

      • 7.5.1 Tô mộc (Lignum caesalpiniae)

    • 7.6 Cây cúc gai(Silybum marianum)

      • 7.6.1 Đặc điểm thực vật

      • 7.6.2 Thành phần hóa học

      • 7.6.3 Tác dụng và công dụng

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nội dung

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ FAVOLONID

Flavonoid là một nhóm lớn các hợp chất phenol thực vật với cấu trúc diphenylpropan (C6-C3-C6), thường gặp trong thực vật Nhiều loại rau quả và dược liệu phổ biến chứa flavonoid, và đến nay đã có khoảng 9.000 chất được xác định cấu trúc.

Theo lý thuyết, chỉ riêng hai nhóm flavon và flavonol với các nhóm thế -OH và/hoặc -OCH3 có thể tạo ra tới 38.627 chất khác nhau Phần lớn flavonoid có màu vàng, nhưng cũng tồn tại một số phân nhóm và chất flavonoid không màu hoặc có màu cam, đỏ, tím, xanh Ngoài ra, cần lưu ý rằng một số hợp chất khác trong thực vật như carotenoid, anthranoids, xanthon và betain cũng có màu sắc nhưng không thuộc nhóm flavonoid.

Năm 1936, dược sĩ người Hungary Szent Gyorgy đã tách ra từ ớt và quả chanh một chất kết hợp với vitamin C, có khả năng chữa chứng chảy máu mao mạch và củng cố thành mạch, mà ông gọi là vitamin C2 hoặc vitamin P (P là chữ đầu của từ tiếng Pháp "perméabilité", nghĩa là tính thấm) Sau này, các nhà nghiên cứu phát hiện nhiều hợp chất thực vật có đặc tính tương tự vitamin P và đã đặt tên chung cho chúng là Flavonoid.

CẤU TRÚC HÓA HỌC

Khung của Flavonoid

Các flavonoid là hợp chất có cấu trúc cơ bản C6-C3-C6, bao gồm hai vòng benzene A và B liên kết qua một mạch ba carbon Về mặt sinh nguyên, cấu trúc này được chia thành hai phần, được nghiên cứu thông qua các chất đồng vị.

 Phần phenylpropan (C6-C3 với vòng B3+3C): Phần này được sinh tổng hợp từ acid shikimic.

- Phần C6(vòng A) hay là C2+C2+C2: phần này xuất phát từ 3 đơn vị acetat dẫn đến sự tạo thành acid triacetic

Sau đó 2 phần được ghép lại

Trong đa số trường hợp, mạch 3 carbon đóng vòng với vòng A tạo nên dị vòng 6 cạnh có oxy Dị vòng C có thể là:

Nếu ghép vòng C với vòng A thì có các nhân:

Flavonoid chủ yếu được xem là các dẫn chất có gốc phenyl Trong một số phân nhóm, dị vòng c có thể có hình dạng 5 cạnh hoặc mạch 3 carbon ở dạng mở.

Việc đánh số trên khung bắt đầu từ dị vòng, với số 1 được gán cho dị tố oxy, tiếp theo là vòng A và vòng B được đánh số phụ Trong trường hợp không có vòng C (mạch 3C hở), như trong chalcon, quá trình đánh số bắt đầu từ vòng B, trong khi vòng A sẽ được đánh số phụ.

Phân loại flavonoid

Các Flavonoid được phân loại dựa vào vị trí của gốc aryl (vòng B) và các mức độ oxy hoá của mạch 3C.

Flavonoid được chia thành ba nhóm chính dựa trên vị trí của vòng B trên mạch ba carbon: euflavonoid với gốc aryl ở vị trí C-2, isoflavonoid ở vị trí C-3 và neoflavonoid ở vị trí C-4 Các nhóm phụ được phân loại theo mức độ oxy hóa của mạch ba carbon Ngoài ra, dựa trên mức độ ngưng tụ, có biflavonoid là flavonoid dimer, triflavonoid với ba đơn vị monomer, và flavolignan là flavonoid có cấu trúc lignan.

Euflavonoid bao gồm các phân nhóm: flavan, flavan 3-ol, flavan 4-ol, flavan 3,4- diol anthocyanidin, dihydrochalcon, chalcon, auron, flavanon, 3- hydroxy flavanon,flavon và flavanon.

Nhóm flavan 3-ol còn được gọi là nhóm catechin Tùy theo các nhóm thế đính vào

Các vòng A và B chứa những dẫn chất flavan 3-ol khác nhau, trong đó catechin và các đồng phân của nó, cùng với gallocatechin và các đồng phân tương ứng, là những dẫn chất flavan 3-ol phổ biến trong thực vật, đặc biệt là trong lá chè Công thức của catechin và gallocatechin như sau:

Các dẫn chất flavan 3-ol có carbon bất đối tại vị trí C-2 và C-3, với mỗi dẫn chất có 4 đồng phân Đồng phân 2R và 3R được chỉ định bằng cách thêm tiền tố epi, trong khi đồng phân 2S được thêm tiền tố enantio, viết tắt là ent.

Một số dẫn chất của flavan3-ol

Tên chất Vị trí nhóm thuế

Robinetinidol H OH H OH OH OH

Orịtin H OH OH H OH H mesquitol H OH OH OH OH H

Flavan-3-ol derivatives can exist in various forms such as gallate, benzoate, and cinnamate esters Notable examples include catechin 3’-O-gallate, catechin 4'-O-gallate, catechin 4',7-di-O-gallate, catechin 3',7-di-O-gallate, epiafzelechin 3-O-gallate, epicatechin 3-O-p-hydroxybenzoate, and epicatechin-3-O-cinnamate.

Trong nghiên cứu về flavan 3-ol, người ta đã phát hiện ra một số dẫn chất glycosid, bao gồm catechin 3-O-β-D-glcp, catechin 3'-O-β-D-glcp, catechin 4'-O-β-D-glcp, catechin 3',7-di-O-β-D-glcp, và catechin 3’,4’-di-O-β-D-glcp Những chất này được phân lập từ rễ đại hoàng, cho thấy sự đa dạng trong cấu trúc và tiềm năng ứng dụng của chúng trong lĩnh vực y học và dinh dưỡng.

In plants, flavan-3-ol derivatives are found in dimer, trimer, tetramer, and pentamer forms, collectively known as proanthocyanidins or condensed tannins For instance, the compounds theasinensin A, B, C, D, E, F, and G are present in the tea variety Camellia sinensis cv viridis, formed by the combination of the monomers epicatechin and epigallocatechin linked by 2'-2' bonds.

Quả và lá cây Ô môi (Cassia fistula) chứa nhiều dẫn chất flavan 3-ol dimer, được liên kết qua các dây nối (4β->8) hoặc (4α->8) giữa các đơn phân epiafzelechin và ent-epiafzelechin, hoặc sự kết hợp của chúng với epicatechin hay ent-epicatechin Trong một loại Đại hoàng (Rheum sp.), đã phát hiện nhiều dẫn chất trimer, bao gồm epicatechin (4β->8) [3-O-GA-epicatechin-(4β->8)] epicatechin-3-O-GA, [3-O-GA-epicatechin (4β->8)]2 epicatechin-3-O-GA, và 3-O-GA-epicatechin (4β->6)-[3-O-GA-epicatechin (4β->8)] epicatechin-3-O.

GA [3-O-GA-epicatechin (4β->6) ]2 epicatechin-3-O-GA. o 3-O-GA-epicatechin (4β-> 6) -[3-O-GA-epicatechin (4β->8)] catechin. o [3-O-GA-epicatechin (4β->8)]2 catechin. o 3-O-GA-epicatechin (4β->8)-(3-O-GA-epicatechin (4β->6) ] catechin.

Các dẫn chất flavan 3,4-diol, hay còn gọi là leucoanthocyanidin, là những hợp chất không màu có tính quang hoạt, dễ dàng chuyển đổi thành anthocyanidin màu đỏ khi đun với acid Vì tính dễ bị oxy hóa và trùng hợp, việc phân lập chất tinh khiết gặp nhiều khó khăn Hầu hết các flavan 3,4-diol tồn tại trong tự nhiên dưới dạng dimer, được gọi là protoanthocyanidin Các đơn phân được xác định thông qua quá trình chuyển đổi thành các dẫn chất anthocyanidin tương ứng, với tên gọi được thêm tiền tố leuco~ l trước tên dẫn chất anthocyanidin, chẳng hạn như leucocyanidin chuyển thành cyanidin và leucopelargonidin chuyển thành pelargonidin.

Sau đây là 2 chất leucofisetinidin (công thức I và II) ở dạng dimer có trong lõi gỗ của loài Acacia mearnsii.

Chưa gặp các flavan 3,4 diol ở dạng glycoside.

Anthocyanidin (hay còn gọi là 2 phenylbenzopyrilium) là những sắc tố rất phổ biến trong thực vật Từ

"anthocyanin" 1 được Marquart đưa ra năm

1895 để chỉ sắc tố màu xanh của hoa

Centaurea cyanus chứa anthocyanin, một loại sắc tố thuộc nhóm flavonoid với màu sắc xanh, đỏ hoặc tím Trong cây, anthocyanidin thường tồn tại dưới dạng glycosid trong dịch tế bào Khi đun nóng với dung dịch acid hydrochloric 20%, phần đường trong anthocyanin bị cắt, tạo thành aglycon gọi là anthocyanidin Anthocyanidin là dẫn chất của 2-phenyl benzopyrilium, tồn tại dưới dạng cation Trong môi trường acid (pH 1-4), chúng tạo ra muối oxonium màu đỏ, trong khi ở môi trường kiềm (pH > 6), các anion quinoid màu xanh xuất hiện nếu có nhóm hydroxyl tại vị trí 4' hoặc 2'.

Dung dịch anthocyanidin mất màu bởi bisulfit kiềm và dễ bi oxy hóa nên ít được dùng làm phẩm màu.

Ba đại diện tiêu biểu của nhóm anthocyanidin là pelargonidin, cyanidin và delphinidin Các dẫn chất khác nhau của chúng được xác định bởi mức độ methyl hóa các nhóm OH trên vòng B, ví dụ như malvidin, petunidin và peonidin Màu sắc của anthocyanidin thường tăng lên khi số lượng nhóm OH trong vòng B tăng, với delphinidin có màu đậm hơn cyanidin, và cyanidin lại đậm hơn pelargonidin Đặc biệt, cyanidin và delphinidin tạo ra màu xanh đậm khi kết hợp với muối sắt ba Sự thay đổi màu sắc của anthocyanin trong cây không chỉ phụ thuộc vào cấu trúc phân tử và pH của dịch tế bào, mà còn bị ảnh hưởng bởi dạng muối hoặc phức với cation kim loại và sự kết hợp với các sắc tố khác.

Khi tạo thành glycosid, mạch đường thường gắn vào vị trí 3, đôi khi là vị trí 5 hoặc 7 Nếu có hai mạch đường, chúng thường nằm ở vị trí 3,5 hoặc 3,7 Một số trường hợp có thể có đến ba mạch đường, như ternatin Al có trong cây Clitoria ternata Các loại đường thường gặp trong anthocyanin bao gồm glucose, galactose, rhamnose, và đôi khi là arabinose hoặc xylose Mặc dù số đơn vị đường trong một mạch có thể lên đến 5, nhưng điều này rất hiếm Một số glycosid có mạch đường phân nhánh, chẳng hạn như pelargonidin-3 (2G-glucosylrutinosid) có trong quả cây.

Trong nhiều trường hợp, mạch đường có thể chứa các đơn vị đường được acyl hóa với các axit như hydroxycinnamic, hydroxybenzoic và acetic, cũng như một số axit aliphatic dicarboxylic như malonic, malic, oxalic và succinic Chất petanin có trong lá và hoa cây khoai tây là một ví dụ điển hình về acyl anthocyanin Chất ternatin AI, với phần aglycon là delphinidin, bao gồm 3 mạch đường có tổng cộng 7 đơn vị glucose, 4 đơn vị axit 4-coumaric và một đơn vị axit malonic được acyl hóa vào các mạch đường này.

Các anthocyanin có thể kết hợp với một số ion kim loại như Fe +++ , Mg ++ dưới dạng phức càng cua (chelat) được gọi là các chất metalloanthocyanin.

Hiện nay, đã có khoảng 300 loại anthocyanin được biết đến, chủ yếu xuất hiện trong thực vật hạt kín, đặc biệt là ở hoa, nơi chúng thu hút côn trùng để hỗ trợ quá trình thụ phấn Ngược lại, anthocyanidin rất hiếm gặp trong thực vật hạt trần.

Chalcon là hợp chất có hai vòng A và B kết nối bằng một mạch hở 3 carbon, không có dị vòng C như các flavonoid khác, với khung bắt đầu từ vòng B Chalcon có màu vàng đến vàng cam và chủ yếu xuất hiện trong hoa của một số loài thuộc họ Cúc - Asteraceae Để nhận biết chalcon, có thể sử dụng hơi amoniac hoặc khói kiềm từ thuốc lá, khiến màu sắc chuyển sang đỏ cam hoặc đỏ Ngoài hoa, chalcon còn có mặt trong các bộ phận khác của cây như vỏ, lá, quả và rễ, điển hình là isoliquiritigenin trong rễ Cam thảo Dưới tác động của acid, chalcon có khả năng chuyển thành flavanon, và khi tạo glycosid, phần đường thường gắn vào vị trí 4' và một ít ở vị trí 2'.

Dihydrochalcon thu được khi khử hoá chalcon Cách đánh số thứ tự của khung tương tự như chalcon

Dihydrochalcon là những dẫn chất hiếm gặp trong tự nhiên, trong đó có Phloridzin, một hợp chất có mặt trong loài Malus Chất này có độc tính, có khả năng ngăn cản sự hấp thu glucose ở ruột non và sự tái hấp thu glucose ở tiểu quản thận Ngoài ra, một số dihydrochalcon, như neohesperidosid, có vị ngọt gấp 2000 lần so với đường mía.

TÍNH CHẤT- ĐỊNH TÍNH- ĐỊNH LƯỢNG-CHIẾT TÁCH

Tính chất

Các dẫn chất Aavon có màu vàng rất nhạt có khi không màu (trường hợp các nhóm

OH đã methyl hoá, dẫn đến sự hình thành các flavonol màu vàng nhạt đến vàng, chalcon và auron có màu vàng đậm đến đỏ cam Các hợp chất thuộc nhóm isoAavon, flavanon, isoflavanon, flavanonol, leucoanthocyanidin và flavan-3-ol không có màu sắc do không có nối đôi liên hiệp giữa vòng B và nhóm carbonyl.

Các dẫn chất anthocyanidin có màu sắc thay đổi theo pH của môi trường, và màu sắc của flavonoid trong các bộ phận của cây còn phụ thuộc vào sự kết hợp với các sắc tố khác Độ tan của flavonoid không giống nhau: glycosid và flavonoid sulfat là các hợp chất phân cực, thường ít tan trong dung môi hữu cơ nhưng tan tốt trong nước, đặc biệt là trong cồn nước Ngược lại, các aglycon flavonoid lại tan trong dung môi hữu cơ và không tan trong nước Các dẫn chất flavon, flavonol có nhóm 7-hydroxy thường dễ tan trong dung dịch kiềm loãng nhờ tính acid của chúng, điều này có thể được tận dụng để chiết xuất.

Định tính

Dưới đây là một số phản ứng dùng để định tính chủ yếu với nhóm euflavonoid và các isoflavonoid đơn giản.

Tùy theo nhóm flavonoid và tùy theo số lượng vị trí nhóm OH trong phân tử mà cho màu lục, xanh, nâu.

Khi nhỏ dịch chiết từ tổ chức thực vật như cánh hoa, nhát cắt gỗ hoặc giấy thấm lên miệng lọ ammoniac, màu sắc sẽ thay đổi tùy thuộc vào nồng độ flavonoid và nhóm flavonoid Cụ thể, flavon và flavonol tạo màu vàng sáng, anthocyanidin cho màu xanh dương, trong khi chalcon và auron mang lại màu đỏ da cam Một số nhóm flavonoid như flavan-3-ol, flavanon và isoflavon không thay đổi màu sắc, nhưng trong ống nghiệm với dung dịch kiềm, flavan-3-ol có thể cho màu do quá trình oxi hóa, và flavanone dễ dàng isomer hóa thành chalcon, dẫn đến màu vàng đậm đến đỏ khi để một thời gian.

 Tác dụng của NaOH đậm đặc và đun nóng (phân hủy kiềm)

Flavonoid khi đun với dung dịch KOH 30% sẽ bị mở vòng C rồi tiếp đến tạo thành dẫn chất acid thơm và dẫn chất phenol.

Các dẫn chất acid thơm và phenol khác nhau được xác định dựa vào nhóm thế và vị trí thế trong vòng A và B Phương pháp sắc ký đối chiếu với chất mẫu cho phép xác định các dẫn chất này, từ đó góp phần biện luận cấu trúc Chẳng hạn, khi phân hủy chất chrysin, ta thu được phloroglucin và acid benzoic.

 Tác dụng của H 2 SO 4 đậm đặc

Khi nhỏ axit H2SO4 lên các chất flavon và flavonol, sẽ xuất hiện màu vàng đậm Đối với chalcon và auron, màu sắc chuyển sang đỏ, đỏ thắm, hoặc đỏ tươi Flavanon sẽ cho màu đỏ cam, sau đó chuyển sang đỏ thắm.

 Tác dụng của antimoin pentachlorid (phản ứng Martini Bettolo)

SnCl5 trong CCl4 cho màu từ đỏ đến tím với chalcon, vàng đến vàng cam với flavon.

Phản ứng cyaniding, còn gọi là phản ứng Shinoda hay Willstater, là phương pháp khử phổ biến để phát hiện sự hiện diện của các dẫn chất flavonoid Trong quá trình này, dung dịch flavonoid trong ethanol được thêm bột Mg và sau đó nhỏ từ từ HCl đậm đặc Chỉ sau 1 đến 2 phút, màu sắc sẽ chuyển sang đỏ cam, đỏ thẫm hoặc đỏ tươi, cho thấy sự có mặt của các dẫn chất flavon, flavonol, flavonoid và flavanon.

Màu sắc của các dẫn chất flavonoid có thể thay đổi tùy thuộc vào loại, số lượng và vị trí nhóm thế; ví dụ, các dẫn chất methoxy flavon như tangeretin và nobiletin thường có phản ứng âm tính Để phân biệt giữa flavonoid glycoside và aglycon, phương pháp của Bryant sử dụng dung dịch màu sau khi phản ứng với cyanidin và octanol: nếu màu xuất hiện ở lớp dưới, chất thử là aglycon, còn nếu lớp octanol không màu, chất thử là glycoside Ngoài ra, các dẫn chất xanthan như mangiferin trong lá xoài cũng cho phản ứng dương tính với thuốc thử cyanidin.

 Tác dụng của chì acetat trung tính hoặc kiềm

Phản ứng flavonoid trên giấy thấm cho thấy nhiều dẫn chất tạo thành muối hoặc phức có màu khi thêm dung dịch acetat trung tính hoặc kiềm Màu sắc của sản phẩm phụ thuộc vào loại flavonoid Trong ống nghiệm, chì acetat kiềm tạo tủa với hầu hết flavonoid có nhóm phenol, trong khi chì acetat trung tính chỉ tạo tủa với các dẫn chất có nhóm o dihydroxyphenol.

 Phản ứng ghép đôi với muối diazoni

Các dẫn chất flavonoid có nhóm OH ở vị trí 7 có thể phản ứng với muối diazoni để tạo thành chất có màu azoic vàng cam đến đỏ.

Có thể sử dụng sắc ký lớp mỏng hoặc sắc ký giấy để phân tích Dưới đây là bảng liệt kê một số hệ dung môi cùng với chất hấp phụ hoặc chất mang được áp dụng trong sắc ký cho các nhóm flavonoid.

Sau khi khai triển, hầu hết các flavonoid có thể được nhận diện trên sắc ký đồ thông qua màu sắc của chúng dưới ánh sáng thường hoặc ánh sáng huỳnh quang trong điều kiện tử ngoại.

Trước và sau khi tác dụng với kiềm (hơi amoniac) ở bước sóng 365nm, có thể sử dụng các thuốc thử thuộc nhóm phenol như bạc nitrat trong môi trường ammoniac, sắt (III) chlorid, hoặc một số muối kim loại như dung dịch AlCl3 và chì acetat trung tính hoặc kiềm.

Theo dược điển Trung Quốc, bản mỏng silicagel G được sử dụng với hệ dung môi gồm ethyl acetat, acid formic và nước theo tỷ lệ 8:1:1 Sau khi triển khai, dung dịch 1% nhôm chlorid trong ethanol được phun lên bề mặt, sau đó để bốc hơi dung môi và soi dưới đèn tử ngoại 363nm Kết quả thu được phải có vết huỳnh quang tương ứng với chất chuẩn.

Dược điển Việt Nam IV sử dụng bản mỏng silicagel G với hệ dung môi khai triển gồm n-butanol, acid acetic và nước theo tỷ lệ 4:1:5 Phương pháp phát hiện sử dụng đèn tử ngoại 365nm và hơi ammoniac, yêu cầu có vết tương ứng màu nâu dưới ánh sáng UV 365nm hoặc màu vàng khi tiếp xúc với ammoniac, với giá trị Rf nằm trong khoảng 0,5 – 0,54.

 Sắc kí giấy Đối với flavonoid thường dùng các loại giấy sắc ký Whatman số 1, 3 hoặc #MM. Một số hệ dung môi thông dụng:

Một số flavonoid như anthocyanin, auron và chalcon có thể nhận biết dưới ánh sáng thường, trong khi phần lớn các flavonoid được phát hiện dưới ánh sáng UV Các thuốc thử như dung dịch NaOH trong MeOH 1%, Na2CO3 trong nước và acid sulfuric đậm đặc cũng được sử dụng để phát hiện flavonoid.

Sử dụng sắc ký lớp mỏng, sau khi giải ly, hãy đặt bản mỏng vào bình kín bão hòa hơi amoniac NH3 Tiếp theo, phun xịt bản mỏng bằng dung dịch 1% KOH/ethanol để hoàn thiện quá trình phân tích.

Không có dung dịch kiềm Phun xịt với dung dịch kiềm Ánh sáng thường UV 365 Ánh sáng thường UV 365

Flavanone Không màu Không màu Không màu Vàng

Catechin Không màu Không màu Không màu Vệt tối

Anthocyanidin Đỏ Nâu tối Xanh dương Vệt tối

Chalcone Vàng đậm Vàng nâu đậm Vàng cam-Đỏ Cam-Đỏ tía

B ng:ả Màu của flavonoid dưới ánh đèn tử ngoại khi có và không có xử lý với kiềm

Trên phổ UV của flavonoid người ta chia ra 2 băng hấp thu: băng I nằm trong vùng 290nm trở lên và băng II nằm trong vùng 290nm trở xuống.

Trong băng I, flavon có đỉnh hấp thu cực đại trong vùng 310-350nm, flavonol có 3-

OH đã thế trong vùng 330-360nm, flavonol có 3-OH tự do thì 350-385nm.

Trong băng II, flavon và flavonol đều có đỉnh hấp thu trong khoảng 250-280nm Isoflavon, với gốc phenyl tại C-3, không còn hiệu ứng liên hiệp với nhóm carbonyl, dẫn đến băng hấp thu chính chỉ nằm trong khoảng 250-270nm Trong khi đó, băng I chỉ có một đỉnh hấp thu với cường độ ở 300-350nm.

Flavanon cũng mất hiệu ứng liên hợp nên băng II là băng hấp thu chính ở vùng 270- 290nm Chalvon hấp thu mạnh ở vùng 300-400nm Auron ở vùng 380-430nm

Anthocyanin có khả năng hấp thu mạnh trong vùng ánh sáng khả kiến từ 500-550nm khi hòa tan trong MeOH hoặc EtOH có HCl Để xác định cấu trúc của flavonoid, người ta sử dụng các thuốc thử như AlCl3, natriacetat, và zirconyl chlorid, dựa vào sự chuyển dịch batochrom hoặc hypsochrom của phổ hấp thụ.

Pha tĩnh và hệ dung môi sắc ký flavonoid

Chất hấp phụ Chất mang

Benzen-Dioxan-CH3COOH (90:25:4) Polyamid MeOH-H2O (8:1, 4:1)

Giấy EtOAc bão hòa nước

10:2:3) Methoxy flavon Giấy BuOH bão hòa nước Benzen-Nitromethan-

H2O (3:2:5) Flavonol Silicagel Benzen-Pyridin-HCOOH (36:9:5)

EtOAc-MeOH (8:2)EtOAc-HCOOH-H2O (70:15:15)EtOAc-Toluen-MeOH (8:6:1)Flavon và flavonol- Silicagel MeOH-CH3COOH-H2O (18:1:1)

O-glycosid BuOH-EtOAc-dimethyl formamid-H2O

EtOAc-MeOH-H2O (10:2:1, 100:16:14) Giấy EtOH-CH3COOH-H2O (40:13:30)

EtOAc bão hòa nước EtOAc-HCOOH-H2O (25:1:25, 3:3:1,

10:2:3) Flavon-C-glycosid Silicagel EtOAc-MeOH (4:1)

EtOAc-CH3COOH-H2O (20:2:1) Flavanon Silicagel Benzene-pyridin-HCOOH (36:9:5)

CHCl3-MeOH-CH3COOH (7:1:1) Giấy CHCl3-MeOH-H2O (8:2:1)

EtOAc bão hòa nước BuOH-CH3COOH-H2O (4:1:5)

Flavanonol Giấy EtOAc bão hòa nước

CHCl3-MeOH-H2O (8:2:1) Leucoanthocyanidin Silicagel EtOAc-CHCl3-HCOOH (3:3:1)

Giấy CH3COOH 30%-H2O-pentanol (4:5:1) Anthocyanin Silicagel nBuOH-CH3COOH-H2O (85:5:10)

EtOAc-HCOOH-H2O (70:15:15, 85:6:9) Giấy CH3COOH-HCl-H2O (5:1:5)

10:2:3) Chalcon, auron Giấy Phenol bão hòa nước

3% dung dịch acid aceticBuOH-dung dịch ammoniac 2N (1:1)BuOH-27% dung dịch acid acetic (1:1)Isoflavon Silicagel CHCl3-EtOH (3:1)

EtOAc-MeOH-H2O (100:16:13) Giấy Propanol-CH3COOH-H2O (1:1:7)

EtOAc bão hòa nước Biflavonoid Silicagel CHCl3-CH3COOH-Aceton (15:5:2)

Benzen-EtOAc-CH3COOH (8:5:2) Giấy CH3COOH-H2O (3:2, 1:5)

Isobutanol-H2O (3:2, 1:1, 3:8) EtOAc bão hòa nước

Định lượng

Chỉ ứng dụng khi nguyên liệu giàu flavonoid và dịch chiết ít tạp chất ví dụ định lượng rutin trong hoa hòe Các bước định lượng gồm:

 Loại tạp chất bằng HCl 0,5%

 Thủy phân bằng H2SO4: Đem

Thủy phân rutin bằng acid thì nhận được quercetin và các phần đường glucose và rhamnose

 Lọc lấy quercetin, sấy cân rồi suy ra hàm lượng rutin.

3.3.4 Phương pháp đo phổ tử ngoại

Để định lượng flavonoid, sử dụng phổ tử ngoại dựa vào độ hấp thu phân tử (ε) hoặc độ hấp thu E 1% 1cm tại λmax và dung môi quy định cho từng loại flavonoid Có thể kết hợp phương pháp sắc ký để loại bỏ tạp chất hoặc tách riêng thành phần cần định lượng trước khi tiến hành đo mật quang.

Bằng phản ứng cyanidin, phản ứng kết hợp với muối diazoni, tạo phức màu với AlCl, muối titan chrom,…

Các flavonoid có độ hòa tan khác nhau tùy thuộc vào số lượng nhóm hydroxyl và các nhóm thế trong cấu trúc hóa học, điều này làm cho việc trích ly flavonoid từ cây trở nên khó khăn Flavonoid với nhiều nhóm methoxy -OCH3 và ít nhóm hydroxyl -OH có tính phân cực yếu, dễ tan trong dung môi ít phân cực như benzene, chloroform và ethyl acetate Ngược lại, flavonoid chứa nhiều nhóm hydroxyl có tính phân cực mạnh sẽ hòa tan tốt trong các dung môi có tính phân cực như acetone, ethanol và methanol Các flavonoid glycosid và anthocyanidin không tan trong diethyl ether nhưng lại hòa tan trong nước nóng và ethanol nóng, trong khi anthocyanidin có thể được chiết tách dưới dạng chloride bằng dung dịch 0.01N HCl/methanol.

Quy trình chiết flavonoid bằng dung dịch chì acetate

Sau khi thu được cao flavonoid thô, tiến hành sắc ký cột để tách riêng các flavonoid.

CHIẾT XUẤT

Quy trình chiết xuất hợp chất flavonoid

Qui trình chiết xuất hợp chất flavonoid được thể hiện khái quát qua các bước như sau :

Hợp chất flavonoid tồn tại chủ yếu ở các bộ phận của cây như rễ, gỗ, lá, hoa, hạt và sáp Việc quyết định có cần loại mỡ hay không phụ thuộc vào bộ phận cây được sử dụng Tuy nhiên, để có được một hỗn hợp tinh khiết, thường cần phải tiến hành loại bỏ mỡ.

Dung môi dùng để loại mỡ là các dung môi kém phân cực (ete dầu hỏa, CH2CI2 ).

Việc chọn lựa phương pháp và dung môi chiết xuất flavonoid phải dựa vào cấu trúc hóa học riêng biệt của từng loại flavonoid, cũng như loại nguyên liệu chiết và các tạp chất đi kèm.

Các glycosid, flavon, flavonol, bifiavon, auron và chalcon đều là những hợp chất phân cực mạnh, dễ dàng chiết xuất bằng nước, cồn hoặc metanol Trong khi đó, các aglycon như isoflavon, flavonon, dihydroflavonol, flavon và flavonol có nhiều nhóm metoxy thường là chất phân cực yếu, do đó có thể chiết xuất bằng dung môi kém phân cực như ete dầu, benzen và cloroform.

Các polyglycosid, anthocyanidin được chiết bằng nước nóng.

Các flavonoid chứa nhiều nhóm –OH phenolic có thể được chiết xuất bằng dung dịch kiềm loãng Để chiết anthocyan, cần sử dụng dung dịch acid hóa nhẹ (HCl 0,4%) vì các hợp chất này không bền trong môi trường trung tính hoặc kiềm.

Để loại bỏ tạp chất trong dịch chiết flavonoid, có thể áp dụng nhiều phương pháp khác nhau, tùy thuộc vào tính chất của flavonoid và các tạp chất có trong dung dịch Dưới đây là một số phương pháp hiệu quả để loại bỏ tạp chất trong dịch chiết flavonoid.

- Cô dịch chiết đến cắn, sau đó hòa vào nước nóng, lọc Qua đây có thể loại tạp cơ học, clorophyl.

- Để dịch chiết ở nhiệt 3 - 4 o C qua đêm sau đó lọc, sẽ loại bỏ được tạp chất nhày, nhựa.

- Điều chỉnh pH thích hợp để thu được flavonoid thô

- Lắc dịch lọc với dung dịch môi thích hợp, flavonoid sẽ hòa tan trong dung môi, tạp chất ở lại trong dung dịch nước.

- Lọc dịch chiết qua chất hấp phụ (silica gel, polyamide, cellulose…)

Sau khi loại bỏ tạp chất, dịch lọc sẽ được cô đặc dưới áp suất thấp để thu được flavonoid Quá trình này kết thúc bằng việc hòa tan lại trong dung môi thích hợp, giúp tạo ra các tinh thể hoặc tủa flavonoid.

Tách và tinh chế flavonoid

Để tinh chế hỗn hợp flavonoid và tăng độ tinh khiết, có thể áp dụng một số phương pháp hiệu quả Những phương pháp này không chỉ giúp tinh chế mà còn cho phép tách các đơn chất từ hỗn hợp một cách đồng thời.

4.2.1 Tinh chế bằng dung môi

Sử dụng dung môi với độ phân cực khác nhau để tách các phân đoạn flavonoid, lắc dịch nước chứa flavonoid lần lượt với các dung môi có độ phân cực tăng dần như benzen và clorofom.

Hình Sơ đồ chiết flavonoid

Cô giảm ápcắn Kết tinh lại

Loại mỡ Bột dược liệu

Hỗn hợp flavonoid gồm các hợp chất như ete, etylacetat, metanol và n-butanoi Sự hòa tan của các flavonoid phụ thuộc vào độ phân cực của từng hợp chất, dẫn đến việc chúng sẽ được hòa tan trong các phân đoạn dung môi khác nhau.

4.2.2 Tinh chế bằng than hoạt (theo Mabry)

Cho than hoạt tính vào dịch chiết để hấp phụ flavonoid, sau đó sử dụng dung môi có độ phân cực từ yếu đến mạnh để tách flavonoid ra khỏi than hoạt Các dung môi được sử dụng theo thứ tự là ete, metanol, nước nóng và phenol 7%.

4.2.3 Tủa flavonoid với chì acetat

Hòa tan hỗn hợp flavonoid trong cồn loãng, sau đó thêm dung dịch chì acetat để tủa flavonoid Tiến hành lọc để thu được tủa, sau đó hòa tan tủa này trong cồn loãng và loại bỏ chì thừa bằng dung dịch natri sulfat hoặc natri phosphat.

4.2.4 Tách bằng phương pháp tủa với ete

Cắn chứa hỗn hợp flavonoid được hòa tan trong metanol và sau đó tủa bằng ete etylic, sau khi lọc, một số flavonoid sẽ tủa trong khi một số khác vẫn ở lại trong dung dịch lọc Phân tủa và dung dịch lọc sẽ được xử lý bằng các phương pháp khác.

4.2.5 Tách các phân đoạn bằng các dung dịch có độ kiềm khác nhau

Hòa tan hỗn hợp flavonoid trong dung môi hữu cơ như CHCl3 hoặc EtOAc, sau đó lắc với các dung dịch kiềm như natri borat, natri bicarbonat và natri carbonat Cuối cùng, acid hóa các phân đoạn kiềm để tủa flavonoid.

4.2.6 Tách bằng phương pháp sắc ký giấy Đối với flavonoid thường dùng các loại giây sắc ký Whatman số 1, 3 hoặc 3MM. Một số hệ dung môi thông dụng: o n-butanol-acid acetic băng-H2O (3:1:1), (4:1:5) o Acid acetic 15% trong H2O (v/v). o Acid acetic-HCl-H2O (30:3:10). o Benzen-acid acetic-H2O (175:72:3). o CHCl3-acid acetic-H2O (13:6:1). o Phenol-H2O (3:1)

Một số flavonoid như anthocyan, auron và chalcon có thể nhận biết dưới ánh sáng thường, trong khi phần lớn các flavonoid khác chỉ được phát hiện dưới đèn UV và qua một số thử nghiệm phát hiện.

Bảng : Một số thuốc thử phát hiện vết flavonoid.

Dung dịch NaOH trong MeOH 1% Hầu hết Flavonoid

Na2CO3 5% trong nước, UV Hầu hết Flavonoid (trừ isoflavon và flavonon)

FeCl3 trong MeOH Hầu hết Flavonoid

FeCl3 trong fericyanua kali (1:1) Hầu hết Flavonoid

Antimon clorua 10% trong CHCl3, UV Hầu hết Flavonoid

Nhôm clorua 2% trong MeOH, UV Hầu hết Flavonoid

Ceric Sulfat trong H2SO4 đđ Biflavonoid

Acid Oxalic trong aceton/H2O (1:1) Anthocyanin, Anthocyanidin

4.2.7 Tách và tinh chế bằng sắc ký cột.

Các chất hấp phụ thường dùng để tách flavonoid là: polyamid, silica gel, cellulose, Sephadex.,,

Column washing solvents vary in polarity, ranging from low to high, including options such as kerosene ether, benzene, CHCl3, diethyl ether, ethyl acetate, acetone, n-propanol, methanol, ethanol, and water Alternatively, columns can be washed using suitable solvent mixtures.

4.2.8 Tách bằng sắc ký chế hóa.

Chất hấp phụ thường dung trong sắc ký lớp mỏng các flavonoid là polyamid, silica gel, cellulose.

Several solvent systems suitable for polyamide include: benzene-ethyl acetate (3:1), chloroform-methanol (15:1), benzene-acetone (9:1), toluene-acetone (19:1), chloroform-acetic acid (9:1), benzene-ethyl acetate-acetic acid (5:4:1), and ethyl acetate-n-butanol-acetic acid-water (5:3:1:1).

4.2.9 Tách bằng nhựa trao đổi ion

Thường dung Amberlit IRC-50 (H + ), Amberlit 45 và Amberlit IR-4B hoặc Duolit cation selector CS-100, Dower I-XI.

Các hợp chất flavonoid sẽ được hấp phụ bởi nhựa, ngoài trừ aglycon của chalcon, muối khoáng, đường khử, acid hữu cơ… được loại đi do rữa nước.

Hợp chất glycosid sẽ được rửa giải sau đó với dung dich cồn isopropyl 20% và cuối cùng là aglycon với dung dịch cồn metylic 95%.

Tách riêng flavonoid

4.3.1 Phương pháp vi thăng hoa

Trên miếng kính (1) đặt một miếng bông gòn thấm nước

Trên miếng kính (2) đặt bột flavonoid thô

Giữa hai miếng kính được đẻ hở bởi một que nhỏ

Sử dụng ngọn lửa từ đèn cồn để làm nóng từ từ miếng kính, một phần bột sẽ bốc hơi và tạo thành các tinh thể hình kim màu vàng tươi bám trên thành kính.

Hòa tan trong tinh thể trong EtOAc và chấm sắc ký lớp mỏng với hệ dung môi CHCl3:MeOH (9:1) cho kết quả tách được X5 và X3

4.3.2 Tách bằng phương pháp sắc ký cột

Dung môi triển khai EtOAc

Hứng các phân đoạn có màu vàng (A) thu hồi

EtOAc và kết tinh trong cồn loãng, được tinh thể mịn, hình kim, màu vàng chanh, có nhiệt nóng chảy 232 o C, công thức nguyên C16H22O5 Định danh là oroxylin.

Phân đoạn màu đỏ (B) được tiếp tục khai triển với dung môi MeOH (acid hóa acid oxalic đến pH=4)

Dịch hứng được tủa với flavonoid, tạo ra tinh thể hình kim X3 có nhiệt độ nóng chảy từ 265-257 °C Phổ UV đạt λmax (EtOH) trong khoảng 275-325 nm Baicalein được xác định với pH điều chỉnh từ 5-6.

Hòa cồn70 oThan hoạt tínhLọc nóng Cồn 70 oHồi lưu 70-80 oC

Thu hồi dung môi Bột dược liệu

Chiết citroflavonoid từ vỏ Cam Quít CồnThan hoạt tính, hồi lưu 1h30, lọc nóng Sữa vôi pHNgâmlạnhAcid hóa (pH=4-5Để kết tinh lạiLọc Bột dược liệu

PHÂN BỐ FLAVONOID TRONG TỰ NHIÊN

Flavonoid xuất hiện ít trong thực vật bậc thấp, đặc biệt là trong ngành rêu, nơi chỉ phát hiện được một lượng rất nhỏ Trong dương xỉ, mặc dù số lượng flavonoid cũng hạn chế, nhưng vẫn có sự hiện diện của các nhóm như anthocyanin, flavanon, flavon, flavonol, chalcon và dihydrochalcon.

Ngành hạt trần bao gồm khoảng 700 loài và 20 họ, với số lượng flavonoid tuy không nhiều nhưng vẫn đủ các nhóm như anthocyanidin, leucoanthocyanidin, flavanon, flavon, flavonol và isoflavon Điểm nổi bật của ngành hạt trần so với thực vật bậc thấp và ngành hạt kín là sự hiện diện của dẫn chất biflavanoid.

Flavonoid chủ yếu tập trung ở ngành hạt kín thuộc lớp 2 lá mầm, với nhiều họ thực vật chứa đa dạng các loại flavonoid Họ Asteraceae, một trong những họ lớn với khoảng 15.000 loài và 1.000 chi, nổi bật với nhiều dẫn chất thuộc các nhóm khác nhau Một số chi như Carthamus, Coreopsis, Cosmos và Dahlia đặc trưng với các dẫn chất chalcon và auron, trong khi chi Gymnosperma và Ageratum chứa flavon và flavonol với nhiều nhóm thế oxy, có thể lên đến 8 nhóm.

The Fabaceae family is rich in isoflavonoids, while the Rutaceae family contains flavones and flavonols with numerous methoxy groups The Theaceae family is characterized by the presence of flavan-3-ols Both the Ranunculaceae and Paeoniaceae families feature flavonol derivatives with 3,7-diglycosides Additionally, the Rubus and Prunus genera within the Rosaceae family are known for their branched-chain anthocyanins found in their fruits, and the Hydropiper genus is also noteworthy.

Polygonaceae có các flavon và flavonol sulfat.

TÁC DỤNG SINH HỌC CỦA FLAVONOID

Các dẫn xuất flavonoid có khả năng tiêu diệt các gốc tự do như HO- và ROO-, được sinh ra trong tế bào do nhiều nguyên nhân khác nhau Những gốc tự do này có thể gây hại cho tế bào, dẫn đến biến dị, hủy hoại tế bào, tăng nguy cơ ung thư và thúc đẩy quá trình lão hóa nhanh chóng.

Thí nghiệm cho thấy khả năng làm mất các gốc tự do của một số Flavonid theo thứ tự:

Myricetin>quercetin>rphammetin > diosmetin > naringenin>apigenin> catechin

>5,7 dihydroxy – 3’,4’,5’ trimethoxy flavon> robinin > kaempferol > flavon.

Flavonid tạo được phức hợp với các ion kim loại mà các ion kim loại này chính là xúc tác của nhiều phản ứng oxy hóa.

Các flavonoid có 3,5,3’,4’ – hydroxy có khả năng liên kết tốt với các ion kiam loại đó theo phức oxychromon,oxycarbonyl hoặc 3’,4’ orthodioxyphenol.

Thành phần lipid trong màng tế bào rất dễ bị peroxyd hóa, dẫn đến rối loạn trao đổi chất và huỷ hoại tế bào Các chất chống oxy hóa có khả năng ngăn chặn quá trình oxy hóa này, từ đó giúp phòng ngừa các bệnh liên quan đến tuổi già như vữa xơ động mạch, tai biến mạch, lão hóa, tổn thương do bức xạ và thoái hóa.

Flavonoid và acid ascorbic đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của enzym oxy hoá - khử, đồng thời flavonoid còn có khả năng ức chế hialuronidase, một enzym làm tăng tính thấm của mao mạch Sự dư thừa của enzym này có thể dẫn đến hiện tượng xuất huyết dưới da, được y học gọi là bệnh thiếu Vitamin P (P avitaminose).

Các chế phẩm chứa flavonoid chiết từ các loài Citrus như ‘ Cemaflavone’,

Circularine, một flavonoid từ lá bạc hà (diosmin) giống như Daflon và Diosmil, cùng với rutin từ hoa hoè, đã được chứng minh có tác dụng làm bền thành mạch, giảm tính 'dòn' và tính thấm của mao mạch Tác dụng này được tăng cường nhờ sự kết hợp với acid ascorbic.

Flavonoid được sử dụng để điều trị các rối loạn chức năng tĩnh mạch, bao gồm suy yếu tĩnh mạch, giãn tĩnh mạch, và trĩ Ngoài ra, flavonoid còn hỗ trợ trong việc giảm chảy máu do đặt vòng trong phụ khoa và điều trị các bệnh nhãn khoa như sung huyết kết mạc và rối loạn tuần hoàn võng mạc.

Flavonoid có khả năng giảm tổn thương gan và bảo vệ chức năng gan khi tiếp xúc với các chất độc hại như CC1, benzen, ethanol, CHCI3, miinin và novarsenol Dưới tác động của flavonoid, ngưỡng acid ascorbic được ổn định, đồng thời lượng glycogen trong gan tăng lên Sự tích lũy glycogen này đóng vai trò quan trọng trong quá trình giải độc của gan.

Việc sử dụng các dược liệu như hạt cúc gai (Silibum marianum Gaertn - biệt dược Legalon #), flavonoid từ actisô và đài hoa cây bụt dấm (Hibiscus sabdariffa L.) trong điều trị viêm gan và xơ gan mang lại hiệu quả cao, giúp bảo vệ tế bào gan và hỗ trợ điều trị các bệnh về viêm gan mật.

Các chất thuộc nhóm flavanon, flavon, flavonol và flavan-3-ol có tác dụng kích thích tiết mật.

Flavonoid có tác dụng chống co thắt ở các tổ chức cơ nhẵn như túi mật, ống dẫn mật và phế quản Chẳng hạn, apigenin giúp giảm co thắt phế quản do histamin, acetylcholin và serotonin gây ra.

Trên hệ tiết niệu, nhiều flavonoid thuộc nhóm flavon, flavanon, flavonol có tác dụng thông tiểu rõ rệt Scoparosid trong Sarothamnus scoparius, lespecapitosid trong

Lespedeza capitata, quercitrin tirong lá Diếp cá, flavonoid của cây Râu mèo đều có tác dụng thông tiểu.

Flavanon và chalcon glycosid có trong rễ Cam thảo đã được chứng minh có tác dụng chống loét, giúp điều trị đau dạ dày hiệu quả Ngoài ra, một số dẫn chất khác như catechin, 3-O-methyl catechin và naringenin cũng cho thấy khả năng chống loét đáng kể.

Numerous flavonoids, including flavon, flavanon, dihydroflavonol, anthocyanin, flavan-3-ol, chalcone, isoflavone, biflavonoid, 4-aryl coumarin, and 4-aryl chroman, have been experimentally proven to possess anti-inflammatory effects by inhibiting the synthesis pathway of prostaglandins.

Người ta đã sử dụng rutin, citrin, leucodelphinidin, quercetin, catechin để điều trị ban đỏ viêm da, tổn thương da và màng nhầy trong trường hợp xạ trị.

Nhiều flavonoid như quercetin, rutin, myricetin, pẹlargonin và catechin trong trà có tác dụng tích cực lên hệ tim mạch, giúp tăng biên độ co bóp và thể tích phút của tim Chúng cũng có khả năng hồi phục tim khi bị ngộ độc do CHCI3, quinin, methanol trên súc vật thí nghiệm, đồng thời làm bình thường hóa sự rối loạn nhịp tim.

Cao chiết từ lá cây Bạch quả (Ginkgo biloba) chứa các dẫn chất 3-rutinosid của kaempferol, quercetin và isorhamnetin, cùng với ginkgetin và isoginkgetin trong lá già Một số hãng dược phẩm tại Pháp đã phát triển các sản phẩm như 'Ginkgo fort' và 'Tanakan' với tác dụng tăng cường tuần hoàn máu trong động mạch, tĩnh mạch và mao mạch Sản phẩm này được khuyên dùng cho những người có biểu hiện lão suy, như rối loạn trí nhớ, giảm khả năng làm việc trí óc, mất tập trung và hay cáu gắt.

C-flavon glycosides, such as spinosin and swertisin, along with their acyl derivatives found in the seeds of Ziziphus vulgaris var spinosus, exhibit significant sedative effects on the nervous system.

Quercetin được chứng minh có khả năng giảm sự nhân bản của virus viêm gan siêu vi, theo nghiên cứu của Gonzales và cộng sự (2009) Ngoài ra, flavonoid từ cây Kola (Cola nitida Schott, họ Sterculiaceae) cũng đã được phát hiện có tác dụng kìm hãm sự phát triển của virus gây bệnh Herbola.

Recent studies highlight the cancer-fighting properties of compounds such as leucocyanidin, leucopelargonidin, and leucodelphinidin Additionally, certain flavonoid derivatives, including chrysin and acacetin, demonstrate potential anti-HIV effects.

Các dẫn chất anthocyanosid có tác dụng tái tạo tế bào võng mạc và đã được chứng minh có tác dụng tăng thị lực vào ban đêm.

DƯỢC LIỆU CHỨA FLAVONOID

Dược liệu chứa Euflavonoid

Cây gỗ lớn, cao đến 15m với thân thẳng và chóp lá tròn Cành cây có hình dạng cong queo, trong khi lá kép lông chim lẻ gồm 9-13 lá chét hình trứng, có đỉnh nhọn và nguyên dài.

3cm rộng 1,5-2,5cm Cụm hoa hình chuỳ ở đầu cành Tràng hoa hình bướm màu trắng ngà Quả loại đậu không mở, dày và thắt nhỏ lại ở giữa các hạt.

Phân bố và trồng trọt Ở nước ta, Hòe được trồng nhiều ở Thái Bình.

Chúng ta đã xuất khẩu hoa hòe và rutin, trong khi ở các quốc gia như Trung Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản cũng có trồng loại cây này Tại một số nước châu Âu, hoa hòe chủ yếu được trồng để làm cảnh.

Trồng Hòe có thể thực hiện qua hai phương pháp chính là giâm cành hoặc gieo hạt, trong đó gieo hạt là phương pháp phổ biến hơn Để đạt hiệu quả cao, cần lựa chọn hạt giống từ những cây có nhiều cành, nhiều hoa và hoa nở đều, được gọi là “hòe nếp”.

“hòe tẻ” là cây có ít cành, hoa thưa, nở không đều.

Gieo hạt vào tháng 1 – 2 dương lịch Sau 3 – 4 năm hòe bắt đầu ra hoa và từ đó hàng năm thu hoạch.

Thành phần chính của nụ hoa gồm các flavonoid và các triterpenoid tự do Trong đó, quan trọng nhất là flavonoid.

Flavonoid chính trong nụ hoa là rutin Hàm lượng có thể lên đến 28% hay cao hơn.

Thành phần triterpenoid trong nụ hoa bao gồm betulin là dẫn chất triterpenoid nhóm lupan, sophoradiol là dẫn chất của nhóm oleanan.

Những nguồn dược liệu khác để chiết Rutin

Dược liệu là toàn cây dùng tươi hay phơi khô của cây diếp cá - Houttuynia cordata Thunb., họ Lá dấp - Saururaceae.

Cây diếp cá, hay còn gọi là ngư tinh thảo, là loại cây thảo có thân ngầm và rễ mọc ở các đốt Thân cây cao khoảng 40 cm, có lông và lá hình tim, mềm nhẵn với mặt dưới màu tím nhạt Khi vò lá, cây phát ra mùi tanh giống như cá.

Cụm hoa của cây có màu vàng, không có bao hoa và được bao quanh bởi 4 lá bắc trắng, tạo thành hình dáng giống như một bông hoa Quả của cây có hình dạng nang mỏ ở phần đỉnh Loài cây này thường mọc hoang ở những khu vực ẩm thấp, đặc biệt là ở miền.

Nam được trồng nhiều làm rau sống.

Phần trên mặt đất của diếp cá có khoẳng 40 hợp chất được biết, gồm các nhóm ỉlavonoid, tinh dầu, alkaloid và các dẫn chất thơm đơn giản.

Diếp cá chứa nhiều flavonoid quan trọng, bao gồm quercitrin, hyperin, isoquercitrin, quercetin-3-O-β-D-galactopyranosid, quercetin-7-O-β-D-glucopyranosid, quercetin-3-O-α-L-rhamno-pyranosyl-7-O-β-D-glucopyranosid, quercetin-3-O-β-D-galactopyranosyl-7-O-β-D-glucopyranosid và rutin Hàm lượng và thành phần của các flavonoid này có thể thay đổi tùy thuộc vào điều kiện địa lý và sinh thái.

Tinh dầu chủ yếu chứa các thành phần như methylnonylceton, laurylaldehyd, caprylaldehyd và decanonyl acetaldehyd, tạo nên mùi đặc trưng cho dược liệu Trong đó, decanonyl acetaldehyd là thành phần chính nhưng không bền và dễ bị phân hủy trong quá trình chưng cất Ngoài ra, tinh dầu còn có các dẫn chất ionon như vomifoliol, dehydrovomifoliol, reseosid, và các hợp chất khác như 1,3,5-tridecanonylbenzen.

Trong Diếp cá còn có một số alcaloid như các chất aristolactam (như aristoiactam A

Piperolactam A, along with various aporphine derivatives such as splendidin and lysicamin, as well as 4,5-dioxoaporphin derivatives like cepharadion B and norcepharadion B, have been identified in certain studies [Probstle A., Bauer R., Planta med 1992;58(6):568-9] However, other reports indicate that aristolactam B is absent in the plant, with the presence of piperolactam A (0-demethyl aristolactam) and cepharadion B instead [Meng J, et al, Fitoterapia, 2009] Additionally, indole derivatives, specifically indole-3-carboxylic acid, have also been noted.

Diếp cá ở Việt Nam chứa nhiều thành phần flavonoid quan trọng như quercetin, quercitrin, isoquercitrin, hyperin, phloridzin và avicularin Theo nghiên cứu của Bộ môn Dược liệu - Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, quercitrin và hyperin là hai flavonoid chính, trong đó hàm lượng quercitrin dao động từ 0,25% đến 1,2% tùy thuộc vào vùng miền.

7.2.3 Tác dụng và công dụng

Nghiên cứu cho thấy quercitrin và tinh dầu (không chứa decanonyl acetaldehyd) có khả năng kháng nhiều loại virus Tinh dầu này có tác dụng ức chế virus herpes (HSV-1), virus cúm và HIV-1, nhưng không hiệu quả với virus gây bệnh bại liệt Mức độ giảm virus phụ thuộc vào thời gian tiếp xúc với thuốc.

Planta Med 1995,61(3), 237-241] Chất có tác dụng mạnh nhất là norcepharadion B

[Chou s.c et al Chem Phar.BulL (1999)57(11) 1227-30)

Diếp cá có tác dụng chống ung thư,chống oxi hóa,tác dụng ức chế phản ứng bảo về và kích thích đại thực bào.

Kháng viêm, thông tiểu Tác dụng làm bền mao mạch của quercitrin đã được chứng minh.

Các dược liệu thuộc chi CITRUS – RUTACEAE

Bộ phận dùng là hoa của cây Hồng hoa – Carthamus tinctorius L…, họ Cúc – asteraceae

Cây thảo có chiều cao từ 0,6 đến 1m, phát triển trong vòng 2 năm với thân cây có vạch dọc Lá cây mọc so le, không có cuống và có mép răng cưa giống như gai Cụm hoa hình đầu được tạo thành từ 5 hoa, có màu đỏ hoặc cam, với tràng hoa hình ống và phần trên được xẻ thành 5, có 5 nhị màu vàng dính liền thành ống.

Lá bấc có gai Quả đóng có 6 cạnh lồi nhỏ

Hồng hoa được trồng chủ yếu ở Ấn Độ, Mỹ và Mexico Tiếp theo là Ethiopia, Kazakhtan, Trung

Quốc, Argentina và Australia Tại

Trung Quốc Hồng hoa được trồng ở các tỉnh Hà Nam, Hà Bắc, Triết Giang, Tứ Xuyên và Vân Nam.

Cây được nhập trồng thí nghiệm ở Sapa, Đà lạt Kết quả cho thấy cây phát triển được.

Hồng hoa chứa các sắc tố flavonoid quan trọng, chủ yếu được chia thành hai loại: sắc tố vàng tan trong nước và sắc tố đỏ Sắc tố vàng bao gồm chalcon C-glycosid như vàng safflor A và B, vàng anhydrosafflo B, safflomin A, C, isosafflomin C, và vàng hydroxysafflor A cùng các đồng phân epimer ở C5’ Trong khi đó, sắc tố đỏ chủ yếu là carthamin, carthamon và precarthamin A, là những thành phần chính tạo nên màu sắc đặc trưng của hồng hoa.

Carthamin có công thức đã được điều chỉnh nhiều lần Theo nghiên cứu của Takahsahi Y và cộng sự (Tetrahedron Lett 1982, 23, 5163), carthamin được xác định là một dẫn xuất bischalcon C-glucosid Chất này kết tinh màu đỏ trong pyridin và có điểm chảy từ 228-230 °C.

Carthamon (=6’O-glucosyl-4-4’-dihydroxy-2’,5-quino chalcon) là chất kết tinh màu đỏ

In addition to its flavonoid content, which includes compounds such as isocarthamin, isocarthamidin, neocarthamin, quercetin, rutin, kaempferol, and luteolin, safflower (Hồng hoa) also contains various hydroxy and glycosidic derivatives These derivatives include 6-hydroxukaempferol 3-O-β-D-glucosid, 6-hydroxykaemferol 3-O-β-rutinosid, and several others Furthermore, safflower is rich in long-chain alkanes such as dotriacontan-6,8-diol, erythrohentriacontan-6,8-diol, heptacosan-8,10-diol, and triacontan-6,8-diol, contributing to its diverse chemical profile.

Lá hồng hoa chứa 7-glucosid của luteolin là chất hay gặp trong cây họ Cúc.

The fruit contains 15% protein and 30% lipids, with its fat comprising over 90% acylglycerols from unsaturated fatty acids, primarily oleic (13-15%) and linoleic (75-79%), along with trace amounts of saturated fatty acids like palmitic and stearic Additionally, the fruit is rich in tracheloside and 15α,20b-dihydroxy-A-pregnen-3-on-20-O-β-D-glucopyranosyl-(1-4)-glucopyranosid.

7.3.1.3 Tác dụng và công dụng :

Dịch chiết nước Hồng Hoa từ tử cung của chó và mèo, dù có thai hay không, có tác dụng làm tăng cường sự co bóp và cuối cùng dẫn đến liệt tử cung Tuy nhiên, nếu loại bỏ dịch thuốc, tử cung sẽ trở lại trạng thái bình thường.

Dịch chiết nước hoa hồng có khả năng hạ huyết áp ở chó và mèo, đồng thời tăng cường sự co bóp của tim, làm co nhỏ mạch máu thận và co cơ trơn phế quản ở chuột thí nghiệm.

Dịch chiết nước hồng hoa có tác dụng kéo dài thời gian đông máu và ức chế sự ngưng tụ tiểu cầu.

Tiêm tĩnh mạch vàng safflow A với liều 550 - 1100 mg/kg cho chuột nhắt có tác dụng kéo dài hiệu quả giảm đau của morphin và tác dụng gây ngủ của barbital và chloral Ngoài ra, vàng safflow A còn làm giảm đáng kể cơn co giật và mức độ tử vong ở chuột do coramin gây ra Chất này cũng ức chế hiệu quả quá trình viêm do formaldehyd, giảm tính thấm của mao mạch do histamin và ngăn chặn sự hình thành u hạt do bông trên chuột cống.

LD50 của carthanmon đối với thỏ nằm trong khoảng 20 - 75 mg/kg cơ thể, trong khi đối với mèo, LD50 là 80 - 85 mg/kg Đối với vàng safflow A, LD50 trên chuột nhắt qua đường phúc mô và đường uống là 5,5 mg/kg.

Hồng hoa là một vị thuốc quý trong y học cổ truyền, được sử dụng phổ biến cả độc lập và kết hợp với các thảo dược khác Nó có tác dụng hỗ trợ tuần hoàn máu và điều trị các bệnh lý tim mạch như huyết khối, tắc nghẽn mạch vành, đau thắt ngực, và xuất huyết não Ngoài ra, hồng hoa còn được dùng để điều chỉnh chu kỳ kinh nguyệt, giúp chữa trị tình trạng bế kinh, rong kinh và các rối loạn kinh nguyệt khác.

Phụ nữ mang thai không nên sử dụng hồng hoa, mặc dù nó có thể được áp dụng cho đau khớp mãn tính Tại Trung Quốc, nghiên cứu đã phát triển thuốc hồng hoa dưới dạng tiêm pha loãng với dịch truyền glucose 10% và dạng tiêm bắp.

Hồng hoa được dùng để nhuộm thực phẩm hay nhuộm vải vóc.

Dầu ép từ hạt được dùng làm thuốc tấy xổ liều 8 - 16 g.

Hạt hồng hoa hiện nay được sử dụng để cung cấp dầu cho thực phẩm và trong sơn dầu thay cho dầu lanh Có hai loại hạt hồng hoa, mỗi loại cung cấp một loại dầu béo khác nhau Loại dầu phổ biến hơn là dầu giàu chất béo không bão hòa đơn, như axit oleic, trong khi loại còn lại giàu các chất béo không bão hòa đa, như axit linoleic.

Dược liệu chứa ISOFLAVONOID

7.4.1 Hạt củ đậu( semen pachyrrhizi )

Cây leo có lá kép với 3 lá chét hình tam giác rộng, hoa màu tím nhạt mọc thành chùm dài ở kẽ lá Quả của cây hơi có lông và chứa khoảng 9 hạt, mùa hạt rơi vào tháng 11 - 12 Rễ chín của cây hình thành củ nạt.

Củ tươi có 90% nước, 2.4% tinh bột, 4.5% đường ( biểu thị bằng glucose ), 1.46% protein, 0.39% chất vô cơ, các men peroxydase, amylase và phosphotase.

Seeds contain various components such as lipids, proteins, starch, and sugars, along with rotenoid derivatives like rotenone, which makes up approximately 0.56 - 1% Additionally, they include tephrosin, pachyrrhizon, mundseron, 12a-hydroxyeroson, 12a-hydroxypachyhizon, 132a-hydroxydolizomen, 12a-hydroxydolineon, and 12a-hydroxyerroson Other notable compounds are the coumarono-chromen derivative pachyeehizomen, the 3-arylcoumarin derivative pachyrrhizin, and the pterocarpan derivative neodulin.

Trong lá cũng có chất rotenoid nhưng hàm lượng thấp.

7.4.1.2.1 Tác dụng và công dụng

Nghiên cứu chỉ ra rằng rotenon và 12a-hydroxyrotenon có tác dụng độc mạnh mẽ đối với tế bào ung thư, đặc biệt là tế bào bạch cầu lympho P-388, sarcom KB và nhiều dòng tế bào ung thư khác của con người, với giá trị ED50 từ 0.01 đến 0.3ug/ml [Kinghorn A.D., Planta Med 56(1990) 673].

Hạt củ đậu chứa rotenon, do đó được sử dụng làm thuốc trừ sâu giống như Dây mật, nhưng với tỉ lệ rotenon thấp hơn, cần pha đặc hơn Lưu ý rằng hạt này không ăn được.

Rễ củ đậu ( củ sắn ) được dùng làm thực phẩm thường để ăn sống hoặc nấu chín.

Dược liệu chứa NEOFLAVONOID

Dược liệu là gỗ phơi khô của cây Gỗ vang ( hay Tô mộc) – Caesalpinia sappan L., họ Đậu – Fabaceasa, phân họ Vang – Caesalpiniaoidae.

Cây gỗ cao từ 7 đến 10 mét, có thân có gai và lá kép lông chim với 12 đôi lá chét hoặc nhiều hơn Mặt trên của lá chét nhẵn, trong khi mặt dưới có lông Cánh hoa và bầu hoa đều có lông Quả của cây dẹt, nở về phía đỉnh và nhô ra thành mỏ, chứa 4 hạt Cây này thường mọc hoang và được trồng ở một số địa phương tại Việt Nam.

Trong gỗ vang các hợp chất neoflavonoid là brazilin,

Brazilin, hay còn gọi là 3-O-methylbrazilin, là một hợp chất tinh thể màu vàng, tương tự như hematoxylin, được tìm thấy trong lõi gỗ của cây Hematoxylon campechianum L Khi ở trong môi trường kiềm, brazilin chuyển sang màu đỏ.

The article discusses various chalcone derivatives such as sappanchalcon and 3-deoxysappanchalcon, along with homoisoflavonoids including sappanon B and 3-deoxysappanon B It also highlights other compounds like sapanin, protosappanin A-E, and several others, including bisdihydrosiringenin and lyoniresinol Additionally, the presence of palmitic acid, tannins, and gallic acid is noted These compounds contribute to the diverse chemical profile of the studied substances, as referenced in the works of Fu et al (2008) and Mai et al (2005).

7.5.1.3 Tác dụng và công dụng

Cao chiết methanol từ gỗ Vang có khả năng áp chế miễn dịch mạnh mẽ và ức chế enzyme xanthin oxidase với IC50 đạt 14,2 µg/ml Trong khi đó, Sappanchalcon cho thấy tác dụng ức chế xanthin oxidase mạnh nhất với IC50 là 2,5 µM trong khoảng nồng độ 20 – 40 µM, đồng thời có tác dụng bảo vệ tế bào thần kinh khỏi stress oxy hóa do glutamate gây ra 4-O-methyl-episappanol cũng có hiệu quả ở nồng độ 20 – 40 µM.

Brazilin inhibits the production of nitric oxide (NO) and reduces the synthesis of sappanchalcon, protosappanin D, and E It also suppresses the levels of pro-inflammatory markers such as TNF-α, IL-6, COX-2, and the expression of iNOS mRNA, contributing to its anti-inflammatory effects.

Tô mộc có khả năng tăng cường và kéo dài tác dụng của hormon thượng thận lên ruột cô lập của chuột bạch, tử cung cô lập và huyết áp của thỏ Ngoài ra, nó còn có tác dụng co mạch đối với ếch.

Tô mộc còn có tác dụng đối kháng với chất có tác dụng hưng phấn trung khu thần kinh (như strychnin), gây ngủ đối với thỏ, chuột bạch.

GS Nguyễn Thị Lâu – Trường đại học Y dược TP.HCM nghiên cứu thấy nước sắc

Tô Mộc có tác dụng chống phân bào rõ rệt trên mô phân sinh rễ hành.

Nước sắc Tô Mộc, được nghiên cứu tại Phòng đông y thực nghiệm của Viện Pasteur Hà Nội, cho thấy có tác dụng kháng khuẩn mạnh mẽ đối với các vi khuẩn như Staphylococcus 209P, Shigella dysenteriae, Sh flexneri, và Bacillus subtilis, đồng thời cũng có tác dụng yếu trên một số vi khuẩn khác Đặc biệt, chất tác dụng trong nước sắc Tô Mộc không bị phá hủy bởi nhiệt.

Nước sắc gỗ vang được sử dụng để nhuộm gỗ trước khi đánh vecni, mang lại màu sắc hồng cho phần gỗ Ngoài ra, dịch chiết Tô mộc còn có thể làm thuốc thử cho màu acid kiềm, với vùng chuyển màu pH từ 5,8 đến 7,7.

Theo dược điển Trung Quốc, Tô mộc có tác dụng cải thiện tuần hoàn máu, giúp giảm tình trạng ứ huyết, viêm và đau Trong Đông y, Tô mộc được sử dụng để điều trị các vấn đề như mất kinh, loạn kinh, và ứ huyết sau sinh, cũng như giảm đau nhói ở vùng ngực và bụng do chấn thương.

Phụ nữ mang thai không được dùng.

Cây cúc gai(Silybum marianum)

Cúc gai là cây thảo có thân mập, cao tới 1.5m, sống từ một đến hai năm Lá cây lớn, mọc cách, có màu xanh đậm bóng với các vệt trắng dọc theo gân Phiến lá ở gốc có hình thù nhọn, kiểu lông chim, trong khi phiến lá ở ngọn có hình trứng đảo Mép lá có gai sắc nhọn và cả thân cùng lá đều chứa nhựa mủ trắng.

Cụm hoa lớn, rộng từ 3-8 cm, mọc đơn độc ở ngọn, với lá bắc màu xanh có 4-6 gai nhỏ ở mỗi bên và đầu thuôn nhọn, kết thúc bằng một gai lớn Hoa hình ống, màu tím đỏ, có 5 cánh hoa, 5 nhị và bầu một ô với 2 lá noãn và 2 nhụy phình ở gốc Mùa hoa diễn ra từ tháng 6 đến tháng 8 Quả bế màu đen bóng có viền vàng, hạt màu đen nâu bóng hoặc nâu xám mờ, với một mào lông trắng ở đầu mỗi hạt.

Bộ phận dùng là hạt Hạt chứa 1.5%-3% các flavonoligan, được gọi là silymarin.

Hỗn hợp silymarin chủ yếu chứa silybin, ngoài ra còn có silychristin và một ít isosilybin

7.6.3 Tác dụng và công dụng

Cúc gai là một vị thuốc phổ biến trong y học cổ truyền châu Âu, được sử dụng chủ yếu để điều trị các bệnh về gan và các rối loạn chức năng khác.

Silymarin có khả năng bảo vệ gan khỏi tác động của các chất độc như CCl4, thioacetamid, paracetamol và nhiều độc tố khác Nó giúp ngăn ngừa hấp thụ chất độc, chống oxy hóa và loại bỏ gốc tự do, đồng thời hỗ trợ quá trình giải độc cho gan Ngoài ra, Silymarin còn hiệu quả trong việc điều trị viêm gan do virus B và C với ít tác dụng phụ, trở thành một lựa chọn phổ biến và hiệu quả cho bệnh nhân Liều dùng khuyến cáo cho người lớn là từ 40-80mg mỗi ngày.

Ngày đăng: 29/11/2021, 06:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Ba đại diện điển hình của nhóm này là pelargonidin, cyanidin và delphinidin. Tùy theo mức độ methyl hóa các OH trên vòng B của 3 chất trên mà có các dẫn chất khác nhau,   ví   dụ:  malvidin   (=3,5'   dimetyl   ether  delphinidin),   petuinidin   (=5'   m - DƯỢC CHẤT THIÊN NHIÊN đề TÀI FLAVONOID VÀ CHIẾT XUẤT FLAVONOID
a đại diện điển hình của nhóm này là pelargonidin, cyanidin và delphinidin. Tùy theo mức độ methyl hóa các OH trên vòng B của 3 chất trên mà có các dẫn chất khác nhau, ví dụ: malvidin (=3,5' dimetyl ether delphinidin), petuinidin (=5' m (Trang 12)
Chất auron điển hình là aureusidin gặp phổ biến trong hoa một số họ như Asteraceạe Scrophulariaceae, Plumbaginaceae và Oxalidaceae ơ dạng 4-glucosid hay  6-glucosid. - DƯỢC CHẤT THIÊN NHIÊN đề TÀI FLAVONOID VÀ CHIẾT XUẤT FLAVONOID
h ất auron điển hình là aureusidin gặp phổ biến trong hoa một số họ như Asteraceạe Scrophulariaceae, Plumbaginaceae và Oxalidaceae ơ dạng 4-glucosid hay 6-glucosid (Trang 15)
Hình. Sơ đồ chiết flavonoid Cô giảm ápcắn - DƯỢC CHẤT THIÊN NHIÊN đề TÀI FLAVONOID VÀ CHIẾT XUẤT FLAVONOID
nh. Sơ đồ chiết flavonoid Cô giảm ápcắn (Trang 35)
Bảng: Một số thuốc thử phát hiện vết flavonoid. - DƯỢC CHẤT THIÊN NHIÊN đề TÀI FLAVONOID VÀ CHIẾT XUẤT FLAVONOID
ng Một số thuốc thử phát hiện vết flavonoid (Trang 37)
Dịch hứng được đem tủa với flavonoid và loại tinh thể thu được tinh thể hình kim X3 có nhiệt nóng chảy 265-257oC - DƯỢC CHẤT THIÊN NHIÊN đề TÀI FLAVONOID VÀ CHIẾT XUẤT FLAVONOID
ch hứng được đem tủa với flavonoid và loại tinh thể thu được tinh thể hình kim X3 có nhiệt nóng chảy 265-257oC (Trang 39)
gai. Cụm hoa hình đầu họp thành ngũ.   Hoa   màu   đỏ   hoặc   da   cam, tràng hình ống, phần trên xẻ 5, 5 nhị màu vàng dính liền thành ống - DƯỢC CHẤT THIÊN NHIÊN đề TÀI FLAVONOID VÀ CHIẾT XUẤT FLAVONOID
gai. Cụm hoa hình đầu họp thành ngũ. Hoa màu đỏ hoặc da cam, tràng hình ống, phần trên xẻ 5, 5 nhị màu vàng dính liền thành ống (Trang 48)
7.4 Dược liệu chứa ISOFLAVONOID 7.4.1 Hạt củ đậu( semen pachyrrhizi ) - DƯỢC CHẤT THIÊN NHIÊN đề TÀI FLAVONOID VÀ CHIẾT XUẤT FLAVONOID
7.4 Dược liệu chứa ISOFLAVONOID 7.4.1 Hạt củ đậu( semen pachyrrhizi ) (Trang 51)
Cây leo, lá kép 3 lá chét hình tam giác rộng. Hoa màu tím nhạt mọc lại thành chùm dài ở kẽ lá - DƯỢC CHẤT THIÊN NHIÊN đề TÀI FLAVONOID VÀ CHIẾT XUẤT FLAVONOID
y leo, lá kép 3 lá chét hình tam giác rộng. Hoa màu tím nhạt mọc lại thành chùm dài ở kẽ lá (Trang 51)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w