Nếu cụ Thát và cụ Thứ chỉ bắt đầu sống với nhau như vợ chồng vào cuối năm 1960 thì cụ Thứ có là người thừa kế của cụ Thát không?. Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.Trường hợp những người chu
Vợ/chồng của người để lại di sản thuộc hàng thừa kế thứ mấy? Nêu cơ sở pháp lý
Vợ hoặc chồng của người để lại di sản được xếp vào hàng thừa kế thứ nhất Theo quy định tại khoản 1 Điều 651, hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: vợ, chồng, cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, và con đẻ, con nuôi của người đã mất.
Cụ Thát và cụ Thứ có đăng ký kết hôn không? Vì sao?
Theo bản án dân sự sơ thẩm, các nguyên đơn cho biết rằng vào năm 1956, do cải cách ruộng đất, gia đình họ bị quy thành địa chủ Bố mẹ của họ đã tố cáo để được chia 1/2 nhà và sau đó, nhà nước đã sửa sai, trả lại nhà đất cho gia đình Tuy nhiên, cụ Thứ và cụ Thát chỉ sống chung như vợ chồng từ năm 1956 mà không có đăng ký kết hôn.
Trong trường hợp nào những người chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn được hưởng thừa kế của nhau? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 2 1.6 Ngoài việc sống với cụ Thứ, cụ Thát còn sống với người phụ nữ nào? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?
Trường hợp những người chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn được hưởng thừa kế của nhau:
Trong trường hợp người để lại di chúc cho người sống chung như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn, khi người lập di chúc qua đời, di chúc vẫn có giá trị và sẽ được phân chia theo quy định tại các Điều 609, 610 của Bộ luật Dân sự.
Hôn nhân không đăng ký nhưng được công nhận là hôn nhân thực tế là những cuộc hôn nhân thỏa mãn các điều kiện kết hôn, trong đó hai bên có ý định kết hôn, sống chung công khai và được xã hội công nhận Theo Thông tư 112/NCPL của TAND tối cao, khái niệm này đã phát triển qua thời gian, đặc biệt là sau năm 1986, khi Thông tư số 81/TANDTC quy định rằng những cặp vợ chồng ly thân trước ngày giải phóng vẫn giữ quan hệ pháp lý, nhưng nếu đã tái hôn thì quan hệ không còn Những người sống như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 được khuyến khích đăng ký kết hôn để hưởng thừa kế lẫn nhau, nhưng từ ngày 01/01/2003, nếu không đăng ký, họ sẽ không được công nhận là vợ chồng hợp pháp.
Trong trường hợp người có nhiều vợ, chồng qua đời, để bảo vệ quyền lợi của các bên, đặc biệt là phụ nữ, cần áp dụng Nghị Quyết 02/HĐTP-TANDTC ngày 19/10/1990 Nếu tất cả các cuộc hôn nhân diễn ra trước ngày 13/01/1960 ở miền Bắc hoặc trước ngày 25/03/1977 ở miền Nam, thì khi người chồng hoặc vợ qua đời, tất cả những người vợ hoặc chồng còn sống tại thời điểm đó sẽ được thừa kế theo hàng thừa kế thứ nhất.
Trường hợp đặc biệt liên quan đến cán bộ, bộ đội đã có vợ/chồng ở miền Nam nhưng lại kết hôn với người khác khi ra Bắc, do hậu quả của chiến tranh Nếu hôn nhân không bị hủy bỏ bằng bản án có hiệu lực, thì khi một trong các vợ/chồng chết, những người còn sống sẽ được hưởng thừa kế ở hàng thứ nhất Cơ sở pháp lý cho vấn đề này là Thông tư số 60/DS ngày 22/02/1978 của TAND tối cao, hướng dẫn giải quyết tranh chấp hôn nhân và gia đình trong bối cảnh đặc biệt sau chiến tranh Nhiều gia đình sống xa nhau lâu, không biết tin tức, dẫn đến những phức tạp trong quan hệ vợ chồng, và sau ngày miền Nam được giải phóng, nhiều vấn đề đã phát sinh và cần được Tòa án giải quyết.
1.6 Ngoài việc sống với cụ Thứ, cụ Thát còn sống với người phụ nữ nào? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?
Cụ Nguyễn Tất Thát, mất năm 1961, có hai vợ là cụ Nguyễn Thị Tần (mất năm 1995) và cụ Phạm Thị Thứ (mất năm 1994) Các nguyên đơn và bị đơn đều xác nhận thông tin này trong lời khai, đồng thời tòa án cũng công nhận rằng cụ Thát có bốn người con: ông Thăng, bà Bằng, bà Khiết và bà Triển Do đó, có thể khẳng định rằng ngoài cụ Thứ, cụ Thát còn sống cùng vợ cả là cụ Nguyễn Thị Tần.
Nếu cụ Thát và cụ Thứ chỉ bắt đầu sống với nhau như vợ chồng vào cuối năm
Nếu cụ Thát và cụ Thứ chỉ bắt đầu sống với nhau như vợ chồng vào cuối năm
Vào năm 1960, cụ Thứ không phải là người thừa kế của cụ Thát Vụ án này diễn ra ở miền Bắc, và theo quy định, chỉ những cặp vợ chồng sống chung trước ngày 13/01/1960 mới được hưởng thừa kế theo hàng thừa kế thứ nhất khi một trong hai người qua đời.
Cơ sở pháp lý: Điểm a, khoản 4, Nghị Quyết 02/HĐTP-TANDTC ngày 19/10/1990 Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh thừa kế có nêu rõ:
“Trong trường hợp một người có nhiều vợ (trước ngày 13-01-1960 - ngày công bố
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 áp dụng cho miền Bắc Việt Nam và trước ngày 25-3-1977, ngày công bố danh mục văn bản pháp luật được áp dụng thống nhất trên toàn quốc.
Theo quy định pháp luật, trong trường hợp cán bộ, bộ đội có vợ ở miền Nam sau khi tập kết ra Bắc và kết hôn thêm, tất cả các người vợ đều là người thừa kế hàng thứ nhất của chồng, và ngược lại, người chồng cũng là người thừa kế hàng thứ nhất của tất cả các người vợ Câu trả lời cho câu hỏi về việc cụ Thát và cụ Thứ sống ở miền Nam có khác hay không phụ thuộc vào các quy định pháp lý hiện hành liên quan đến hôn nhân và quyền thừa kế.
Câu trả lời cho câu hỏi về quyền thừa kế của cụ Thát và cụ Thứ sẽ khác nếu họ sống ở miền Nam Nếu cụ Thát và cụ Thứ bắt đầu chung sống như vợ chồng vào cuối năm 1960, thì cụ Thứ sẽ là người hưởng thừa kế của cụ Thát, vì thời điểm này xảy ra trước ngày 25/03/1977, ngày công bố danh mục văn bản pháp luật áp dụng thống nhất trong cả nước.
- Cơ sở pháp lý: Điểm a, khoản 4, Nghị Quyết 02/HĐTP-TANDTC ngày 19/10/1990 Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh thừa kế có nêu rõ:
Trong trường hợp một người có nhiều vợ trước ngày 25-3-1977, tất cả các người vợ đều được coi là người thừa kế hàng thứ nhất của chồng Ngược lại, người chồng cũng là người thừa kế hàng thứ nhất của tất cả các người vợ Điều này áp dụng cho miền Nam và đối với cán bộ, bộ đội có vợ ở miền Nam sau khi tập kết ra Bắc mà việc kết hôn sau không bị huỷ bỏ bằng bản án có hiệu lực pháp luật.
Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án thừa nhận cụ Thứ là người thừa kế của cụ Thát
Tòa án đã thừa nhận cụ Thứ là người thừa kế của cụ Thát, điều này có cơ sở rõ ràng Các tài liệu và chứng cứ trong hồ sơ vụ án, cùng với lời khai của các bên liên quan, đều xác nhận rằng cụ Thát có vợ hai là cụ Thứ.
Theo khoản 1, Điều 676 của Bộ luật Dân sự năm 2005, cụ Thứ là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Thát, do đó có quyền hưởng di sản thừa kế từ cụ Thát.
Cụ Thát và cụ Thứ sống ở miền Bắc trong bối cảnh xã hội còn nhiều tàn dư của chế độ cũ, nơi mà người chồng có thể có nhiều vợ và các cuộc hôn nhân này thường được gọi là “hôn nhân thực tế” Việc Tòa án công nhận cụ Thứ là người thừa kế của cụ Thát không chỉ bảo vệ quyền lợi của phụ nữ - nhóm yếu thế trong xã hội thời đó, mà còn áp dụng quy định trong Nghị Quyết 02/HĐTP-TANDTC ngày 19/10/1990 về hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh thừa kế.
VẤN ĐỀ 2 Xác định con của người để lại di sản Tóm tắt Quyết định số 182/2012/DS-GĐT ngày 20/4/2012 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao
Cụ Phạm Ngọc Cầu và cụ Nguyễn Thị Dung có một con gái duy nhất là bà Phạm Thị Hồng Nga, sở hữu khối tài sản gồm một nhà mái lá ba gian, giếng nước và cây lâu năm trên diện tích 3.127m² Sau khi cụ Dung mất năm 1972 và cụ Cầu mất năm 1976 mà không để lại di chúc, bà Nga đã giao đất cho ông Phạm Văn Tùng trông coi Ông Tùng đã viết "Giấy tự báo" cam kết rằng tài sản thuộc về bà Nga Tuy nhiên, trong thời gian quản lý, ông Tùng đã xây nhà và cho con trai mình là anh Thanh một phần đất để ở Khi cần sử dụng đất, bà Nga khởi kiện yêu cầu hoàn trả đất, giếng nước và cây lâu năm, đồng thời yêu cầu tháo dỡ nhà của anh Thanh Tòa án sơ thẩm đã chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nga, buộc ông Tùng và bà Tình hoàn trả 2.108m² đất gắn với nền móng và cây lâu năm, đồng thời giao cho ông Tùng 1.007m² đất còn lại Tòa án phúc thẩm đã quyết định tạm giao cho vợ chồng ông Tùng 509,95m² có nhà và giếng nước, đồng thời yêu cầu họ thanh toán tổng cộng 12.502.360 đồng cho bà Nga và tháo dỡ nhà của anh Thanh.
Con nuôi của người để lại di sản thuộc hàng thừa kế thứ mấy? Nêu cơ sở pháp lý
Theo quy định tại khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015, con nuôi của người để lại di sản được xem là người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất.
Trong trường hợp nào một người được coi là con nuôi của người để lại di sản? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời
Một người được coi là con nuôi của người để lại di sản nếu đã có quan hệ nuôi dưỡng trước khi Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 có hiệu lực, mặc dù chưa đăng ký chính thức Điều này được quy định tại điểm d khoản 3 của Luật Hộ tịch năm 2014.
Nếu bạn đã thiết lập quan hệ nuôi dưỡng từ sau năm 1986 đến trước năm 2001 mà chưa thực hiện đăng ký, hãy lưu ý rằng bạn cần phải đăng ký kế từ ngày 01/01/2001 đến 31/12/2015 để trở thành con nuôi hợp pháp, với điều kiện đáp ứng đủ các tiêu chí chuyển tiếp.
+ Căn cứ vào Nghị định số 19 / 2011 / NĐ - CP ngày 21/03/2011 tại khoản 1 Điều 23 quy định về đăng ký việc nuôi con nuôi trên thực tế :
Việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam chưa được đăng ký trước ngày 01 tháng 01 năm 2011, nếu đáp ứng các điều kiện tại khoản 1 Điều 50 của Luật Nuôi con nuôi, có thể được đăng ký từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của cha mẹ nuôi và con nuôi.
+ Và khoản 1 Điều 50 luật nuôi con nuôi :
Trước khi Luật nuôi con nuôi có hiệu lực, công dân Việt Nam có thể đăng ký nuôi con nuôi chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước trong vòng 05 năm, với các điều kiện: các bên phải đủ điều kiện theo quy định pháp luật tại thời điểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi, quan hệ cha mẹ và con vẫn tồn tại và cả hai bên còn sống, và giữa cha mẹ nuôi và con nuôi phải có mối quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục như cha mẹ và con.
Trong Bản án số 20, bà Tý có được cụ Thát và cụ Tần nhận làm con nuôi không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?
Trong bản án số 20, bà Tý được cụ Thát và cụ Tần nhận làm con nuôi Căn cứ phần nguyên đơn trình bày trong bản án :
Trước khi qua đời, cụ Thát không để lại di chúc, trong khi cụ Tần đã có một số lời dặn dò được bà Bằng ghi lại vào ngày 08/06/1994, liên quan đến việc cho bà Tiến một phần nhà đất của bố mẹ Tuy nhiên, ông Thăng không công nhận điều này, khiến các bà xem như không có di chúc từ các cụ Ngoài ra, các bà cũng nghe rằng bố mẹ đã nhận bà Nguyễn Thị Tý làm con nuôi, nhưng sau đó bà Tý đã trở về với gia đình và kết hôn.
“Anh Trần Việt Hùng, chị Trần Thị Minh Phượng, chị Trần Thị Hồng Mai, chị
Trần Thị Hồng Hoa cho biết, mẹ của các anh chị là bà Nguyễn Thị Tý từng là con nuôi của cụ Thát và cụ Tần trong khoảng thời gian 6 đến 7 năm, trước khi bà trở về sống với gia đình mẹ đẻ.
Tòa án có coi bà Tý là con nuôi của cụ Thát và cụ Tần không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?
- Tòa án không coi bà Tý là con nuôi của cụ Thát và cụ Tần.
- Đoạn Nhận thấy: “Xác định bà Nguyễn Thị Tý không phải là con nuôi của cụ Thát, cụ Tần, cụ Thứ”
Suy nghĩ của anh/chị về giải pháp trên của Tòa án liên quan đến bà Tý
Tòa án đã đưa ra quyết định không hợp lý liên quan đến bà Tý, mặc dù bà được cụ Thát và cụ Tần nhận làm con nuôi trước năm 1961, thời điểm vẫn áp dụng Luật hôn nhân gia đình năm 1959, chưa có quy định về con nuôi Theo Điều 676 BLDS năm 2005, bà Tý vẫn được công nhận là con nuôi và là người thừa kế hợp pháp Tuy nhiên, việc bà Tý được nhận làm con nuôi chủ yếu dựa vào lời khai của các nguyên đơn, trong khi sổ hộ tịch của cụ Tần và cụ Thát không ghi nhận bà Tý là con nuôi Về mặt hình thức, bà Tý không đủ điều kiện, và việc thiếu giấy tờ chứng minh rõ ràng về mối quan hệ con nuôi đã khiến cho các chứng cứ không đủ thuyết phục trong bản án Tòa án cần làm rõ vấn đề này để đảm bảo tính hợp pháp trong việc công nhận bà Tý là con nuôi.
Căn cứ vào việc cụ Thát và cụ Tần đã nhận bà Nguyễn Thị Tý làm con nuôi trước năm 1961, khi Luật hôn nhân gia đình 1959 chưa quy định về con nuôi, bà Tý vẫn được xem là con nuôi hợp pháp và là người thừa kế theo pháp luật theo Điều 676 BLDS năm 2005 Nếu không công nhận bà Tý là con nuôi, cần có bằng chứng rõ ràng, vì chỉ lời khai của các nhân chứng như anh Hùng, chị Phượng, chị Mai và chị Hoa là không đủ Nếu Tòa án xác định bà Tý không phải là con nuôi để từ chối chia thừa kế, vẫn phải công nhận bà là con nuôi nhưng không chia tài sản theo yêu cầu từ chối nhận di sản của người thừa kế thế vị theo Điều 653 BLDS năm 2015.
Trong Quyết định số 182, Tòa án xác định anh Tùng được hưởng thừa kế với tư cách nào? Vì sao? 8 2.7 Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định trên của Tòa án liên quan đến anh Tùng 9
Trong Quyết định số 182, Tòa án công nhận anh Tùng là người thừa kế với tư cách con nuôi, do anh đã chăm sóc và nuôi dưỡng hai cụ trong những năm tháng cuối đời Anh Tùng không chỉ lo liệu tang lễ cho hai cụ mà còn quản lý và duy trì tài sản khi chị Nga không có mặt.
2.7 Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định trên của Tòa án liên quan đến anh Tùng
Tòa án đã đưa ra quyết định hợp lý liên quan đến anh Tùng, vì việc hai cụ nhận anh Tùng làm con nuôi đã được xác lập từ năm 1951, trước khi Luật HNVGĐ 1986 có hiệu lực Do đó, trường hợp này được xem là con nuôi thực tế theo Nghị quyết số.
Ngày 20/1/1988, TANDTC đã quy định các điều kiện nuôi con nuôi tại các Điều 34, 35, 36 và 37 Trước khi Luật này ban hành, các điều kiện này chưa được quy định đầy đủ, tuy nhiên, việc nuôi con nuôi trước đó vẫn có giá trị pháp lý, trừ những trường hợp nuôi con nuôi với mục đích xấu hoặc vi phạm pháp luật Nếu việc nuôi con nuôi không được ghi vào sổ hộ tịch nhưng được công nhận bởi cộng đồng và cha mẹ nuôi thực hiện nghĩa vụ với con nuôi, thì vẫn có hậu quả pháp lý theo quy định của luật Ông Tùng đủ điều kiện để trở thành con nuôi thực tế của cụ Dung và cụ Cầu.
Nếu hoàn cảnh tương tự như trong Quyết định số 182 xảy ra sau khi Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực, anh Tùng sẽ không được hưởng thừa kế từ cụ Cầu và cụ Dung Điều này là do quy định của luật pháp về quyền thừa kế trong bối cảnh hôn nhân và gia đình đã được xác định rõ ràng, ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên liên quan.
Nếu hoàn cảnh tương tự như trong Quyết định số 182 xảy ra sau khi có Luật Hôn nhân và gia đình 1986, anh Tùng sẽ không được quyền hưởng thừa kế từ cụ Cầu và cụ Dung Theo Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình 1986, việc nhận nuôi con nuôi phải được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người nuôi hoặc con nuôi công nhận và ghi vào sổ hộ tịch Nếu người nhận nuôi không thực hiện đăng ký theo quy định, mối quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi sẽ không được công nhận, dẫn đến việc anh Tùng không phải là con nuôi của cụ Cầu và cụ Dung, và do đó không có quyền thừa kế theo hàng thừa kế thứ nhất.
2.9 Con đẻ thuộc hàng thừa kế thứ mấy của người để lại di sản? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời
- Con đẻ thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người để lại di sản
- Theo Mục a Khoản 1 Điều 651 BLDS năm 2015 “Hàng thừa kế thứ nhất
Đoạn nào của bản án cho thấy bà Tiến là con đẻ của cụ Thát?
Trong phần “Xét thấy” của bán án:
Bà Tiến, dựa trên lý lịch được xác nhận bởi chính quyền địa phương, là con của cụ Thát và em của ông Thăng, bà Bằng, bà Khiết, bà Triển Các thành viên trong gia đình và hàng xóm cũng xác nhận cụ Thứ là vợ của cụ Thát, khẳng định mối quan hệ này.
Tại phiên toà phúc thẩm, bà Tiến đã trình bày bản sơ yếu lý lịch của bà Nguyễn Thị Khiết, trong đó có nhận xét của bí thư Ban chấp hành Đảng bộ xã Xuân La, ký ngày 05-7-1996 Bản lý lịch này nêu rõ hoàn cảnh gia đình bà Khiết, bao gồm thông tin về mẹ là bà Phạm Thị Thứ, 45 tuổi; anh trai Nguyễn Tất Thăng, 26 tuổi đang phục vụ trong quân đội; và em gái Nguyễn Thị Tiến, 17 tuổi, hiện là học sinh.
Bà Tiến đã cung cấp lý lịch và giấy khai sinh chính thức cho Ủy ban nhân dân phường Xuân La, trong đó ghi nhận rằng bố của bà là Nguyễn Tất Thát và mẹ là Phạm Thị Thứ.
Các nhân chứng như cụ Nguyễn Xuân Chi (1922), ông Nguyễn Văn Chung (1940) và ông Nguyễn Hoàng Đăm (1947) đều xác nhận mối quan hệ gia đình giữa cụ Thứ và cụ Thát Cụ Thứ là vợ hai của cụ Thát, trong khi bà Tiến là con gái của cụ Thát và cụ Thứ.
Căn cứ vào các chứng cứ đã nêu, có đủ cơ sở để khẳng định bà Nguyễn Thị Tiến là con chung của cụ Nguyễn Tất Thát và cụ Phạm Thị Thứ Do đó, yêu cầu giám định ADN của ông Thăng để xác định mối quan hệ cha con giữa bà Tiến và cụ Thát là không cần thiết.
Suy nghĩ của anh/chị về giải pháp trên của Tòa án liên quan đến bà Tiến
Giải pháp của Toà án đối với bà Tiến là hợp lý và công bằng, bởi cụ Thứ, vợ hai của cụ Thát, được công nhận theo quy định về hôn nhân không đăng ký trước năm 1960 Các giấy tờ và lời khai từ nhân chứng đã xác nhận bà Tiến là con ruột của cụ Thát, do đó không cần giám định ADN Việc chia di sản thừa kế theo pháp luật cho các con của cụ Thát, cụ Tần, cụ Thứ và bà Tiến là hợp lý Tòa đã xác định tư cách con đẻ của bà Tiến thông qua giấy tờ và nhân chứng, tương tự như vụ Bản án số 369/DSPT ngày 30/11/2004, khẳng định quyền lợi hợp pháp của bà Tiến trong di sản thừa kế.
Pháp luật nước ngoài nào xác định con dâu, con rể là người thừa kế của cha mẹ chồng, cha mẹ vợ không? Nếu có nêu pháp luật mà anh/chị biết
Pháp luật Ba Lan quy định về quyền thừa kế theo pháp luật từ cha mẹ vợ hoặc chồng, trong đó ghi nhận quyền thừa kế của con dâu và con rể đối với cha mẹ của vợ hoặc chồng.
VẤN ĐỀ 3 Con riêng của vợ/chồng
Bà Tiến có là con riêng của chồng cụ Tần không? Vì sao?
Bà Tiến là con riêng của chồng cụ Tần, cụ Thát, do bà là con của cụ Thứ, vợ sau của cụ Thát, theo các minh chứng xác thực trong bản án.
Trong điều kiện nào con riêng của chồng được thừa kế di sản của vợ? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời
cơ sở pháp lý khi trả lời
Con riêng của chồng được thừa kế di sản của vợ nếu có mối quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng như mẹ con.
Theo Điều 654 Bộ luật Dân sự năm 2015, con riêng và bố dượng, mẹ kế có thể thừa kế di sản của nhau nếu có mối quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng như cha con, mẹ con Điều này cũng được quy định tại Điều 679 Bộ luật Dân sự năm 2005.
652 và Điều 653 của Bộ luật này.”
Theo Điều 28 của Pháp lệnh về thừa kế, con riêng và cha kế, mẹ kế có quyền thừa kế tài sản của nhau nếu có mối quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng giống như cha con và mẹ con.
Bà Tiến có đủ điều kiện để hưởng thừa kế di sản của cụ Tần không? Vì sao? 12 3.4 Bà Tiến có đủ điều kiện để hưởng di sản thừa kế của cụ Tần thì bà Tiến được hưởng thừa kế ở hàng thừa kế thứ mấy của cụ Tần? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.12 3.5 Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án không thừa nhận tư cách thừa kế của bà Tiến đối với di sản của cụ Tần
Bà Tiến không đủ điều kiện để nhận di sản thừa kế từ cụ Tần do không có bằng chứng nào chứng minh mối quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng giữa hai người như mẹ con Điều này không đáp ứng quy định tại Điều 654 Bộ luật Dân sự.
Theo Điều 682 BLDS năm 1995, con riêng và bố dượng, mẹ kế có thể thừa kế di sản của nhau nếu có mối quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng như cha con hoặc mẹ con Do đó, bà Tiến chỉ có quyền thừa hưởng di sản từ cụ Thát và cụ Thứ.
Bà Tiến có đủ điều kiện để hưởng di sản thừa kế của cụ Tần, theo quy định của Bộ luật Dân sự, bà Tiến sẽ thuộc hàng thừa kế thứ nhất Cụ thể, điều 651 của Bộ luật Dân sự quy định về hàng thừa kế, trong đó những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất bao gồm con, vợ hoặc chồng của người để lại di sản Do đó, nếu bà Tiến là con hoặc vợ của cụ Tần, bà sẽ được hưởng di sản thừa kế theo quy định pháp luật.
Nếu bà Tiến đủ điều kiện nhận di sản của cụ Tần, bà sẽ được xếp vào hàng thừa kế thứ nhất, tương đương với vị trí của một người con trong gia đình cụ.
- Cơ sở pháp lý: Khoản 1 Điều 676 BLDS năm 2005 (khoản 1 Điều 651 BLDS năm 2015) (khoản 1 Điều 679 BLDS năm 1995)
3.5 Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án không thừa nhận tư cách thừa kế của bà Tiến đối với di sản của cụ Tần
Tòa án không công nhận tư cách thừa kế của bà Tiến với cụ Tần do mối quan hệ giữa họ còn mâu thuẫn và thiếu cơ sở rõ ràng Cụ Tần không coi bà Tiến như con, và các con của cụ Tần cũng không công nhận bà Thứ là vợ hai của cụ Thát, cũng như bà Tiến là em cùng cha khác mẹ của họ Hướng giải quyết của Tòa được đánh giá là nhân văn và hợp lý.
Suy nghĩ của anh/chị (nếu có) về chế định thừa kế liên quan đến hoàn cảnh của
Theo Điều 654 của Bộ luật Dân sự năm 2015, con riêng có quyền thừa kế di sản từ bố dượng hoặc mẹ kế nếu giữa họ có mối quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng như cha con hoặc mẹ con Ngoài ra, quyền thừa kế còn được quy định tại Điều 652 và Điều 653 của Bộ luật này.
Chế định thừa kế liên quan đến con riêng của vợ/chồng trong Bộ luật Dân sự hiện nay còn thiếu sự rõ ràng Khái niệm “quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng” chưa được định nghĩa cụ thể, dẫn đến việc áp dụng pháp luật có thể khác nhau giữa các nhà làm luật Do đó, cần bổ sung quy định chi tiết để tránh tình trạng hiểu sai điều luật và bảo đảm quyền lợi cho những người thừa kế.
VẤN ĐỀ 4 Thừa kế thế vị và hàng thừa kế thứ hai, thứ ba
Tóm tắt Bản án số 69/2018/DSPT ngày 09/03/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội
Bà T5 không kết hôn nhưng có con nuôi là chị C3, người đã kết hôn với anh C1 và có hai con chung là H4 và T7 Sau khi chị C3 qua đời vào ngày 5/3/2007 và bà T5 qua đời vào ngày 10/2/2009 mà không để lại di chúc, di sản của bà T5 bao gồm thửa đất số 203 tại phường L, TP H cùng ngôi nhà cấp 4 và các tài sản khác Năm 2011, anh C1 đã cố gắng làm thủ tục thừa kế cho H4 và T7 nhưng bị ông V phản đối, cho rằng quan hệ con nuôi không được công nhận và thửa đất là di sản của bố mẹ ông V Tòa cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh C1, công nhận quyền thừa kế của H4 và T7, nhưng ông V đã kháng cáo Tòa cấp phúc thẩm đã hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố H để xét xử lại.
Trong vụ việc trên, nếu chị C3 còn sống, chị C3 có được hưởng thừa kế của cụ T5 không? Vì sao?
Trong vụ việc trên nếu chị C3 còn sống thì chị vẫn sẽ được hưởng thừa kế của cụ T5.
Chị C3 có quyền hưởng thừa kế theo hàng thừa kế thứ nhất từ cụ T5, mặc dù việc nhận nuôi không được đăng ký chính thức Theo tài liệu và Nghị quyết 01/NQ-HĐTP ngày 20/01/1988, việc bà T5 nhận nuôi chị C3 được công nhận là con nuôi thực tế, do đó chị C3 thuộc hàng thừa kế thứ nhất.
Phần di sản của cụ T5 gây tranh chấp giữa ông Quang V và bà T2 Ông Quang V khẳng định quyền sử dụng thửa đất 203, diện tích 127,3m2 là di sản cha mẹ để lại, nhưng không có giấy tờ chứng minh Ngược lại, bà T2 cho rằng di sản này thuộc về cha mẹ bà và cụ T5, đề nghị Tòa hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ T5, nhưng cũng không cung cấp được chứng cứ xác thực Tòa án không thu thập được chứng cứ về nguồn gốc đất của cụ M và cụ L, chỉ có các bản đồ 299 và 371 được lập vào năm 1985 và 1995 đứng tên bà T5 Năm 2005, bà T5 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tạo cơ sở xác định di sản của bà là quyền sử dụng thửa đất này.
Nếu chị C3 còn sống, chị sẽ được hưởng thừa kế từ cụ T5, vì chị thuộc hàng thừa kế thứ nhất Di sản của cụ T5 vẫn còn tồn tại tại thời điểm mở thừa kế, tức là khi cụ qua đời vào năm 2009.
Khi nào áp dụng quy định về thừa kế thế vị? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời
Thừa kế thế vị xảy ra khi người thừa kế qua đời trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản Trong trường hợp này, con cháu của người để lại di sản sẽ thay thế vị trí của người thừa kế đã mất để nhận di sản.
Cơ sở pháp lý: Điều 680 BLDS 1995, Điều 677 BLDS năm 2005, Điều 652BLDS năm 2015, Điều 26 Pháp lệnh thừa kế.
Vợ/chồng của người con chết trước (hoặc cùng) cha/mẹ có được hưởng thừa kế thế vị không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời
kế thế vị không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời
Vợ/chồng của người con chết trước hoặc cùng lúc với cha/mẹ không được hưởng thừa kế thế vị.
Theo Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2015, nếu con chết trước hoặc cùng lúc với bố/mẹ, di sản sẽ được chuyển cho cháu Trong trường hợp cháu cũng qua đời trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản, chắt sẽ là người thừa kế di sản đó.
Việc thừa kế thế vị yêu cầu người để lại di sản và người thừa kế phải có quan hệ huyết thống, theo nguyên tắc rằng con mất thì truyền cho cháu, và cháu mất thì truyền cho chắt Do đó, vợ hoặc chồng của người con đã chết trước hoặc cùng thời điểm với ba/mẹ không đáp ứng được yêu cầu về huyết thống và nguyên tắc này, vì vậy họ không được hưởng thừa kế thế vị.
Trong vụ việc trên, Tòa án không cho chồng của chị C3 hưởng thừa kế thế vị của cụ T5 Hướng như vậy có thuyết phục không? Vì sao?
vị của cụ T5 Hướng như vậy có thuyết phục không? Vì sao?
Trong vụ việc này, Tòa án đã quyết định không cho chồng chị C3 hưởng thừa kế thế vị của cụ T5, điều này là hợp lý Theo Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2015, chỉ những trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng thời điểm với họ mới được hưởng thừa kế Do đó, chồng chị C3 không thuộc vào trường hợp thừa kế thế vị này.
Toà án không cho chồng chị C3 hưởng thừa kế của cụ T5 là thuyết phục.
Theo các tác giả, con đẻ của con nuôi của người quá cố có thể được hưởng thừa kế thế vị không?
Theo các tác giả trường phái Hà Nội, con đẻ của con nuôi của người quá cố có thể hưởng thừa kế thế vị, vì họ cho rằng con nuôi không được thừa kế thế vị Các tác giả từ Đại học Luật Hà Nội cũng khẳng định rằng điều kiện để cháu hoặc chắt được hưởng thừa kế thế vị là phải có quan hệ huyết thống trực hệ, tức là chỉ có con đẻ mới có thể thay thế vị trí của cha, mẹ đẻ.
Quan điểm về thừa kế di sản trong các bộ dân luật đầu thế kỷ trước chỉ áp dụng cho Bộ dân luật Trung Kỳ và Bắc Kỳ, cho phép con cháu thay thế cha mẹ đã mất để chia di sản Tuy nhiên, theo tinh thần của Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 và 2015, con nuôi và cha mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau, như quy định tại Điều 678 BLDS năm 2005 và Điều 653 BLDS năm 2015 Điều 652 của BLDS năm 2015 quy định về thừa kế thế vị, cho phép cháu và chắt hưởng phần di sản mà cha mẹ của họ được hưởng nếu còn sống, nhưng không chỉ rõ về "cháu ruột" hay "chắt ruột" Điều này cho thấy nhà làm luật đã thừa nhận việc thừa kế thế vị đối với con đẻ của con nuôi.
Trong thực tế xét xử, Tòa án thường chia thừa kế cho con đẻ của con nuôi khi cha hoặc mẹ nuôi qua đời Ví dụ, Bản án số 69/2018/DSPT ngày 09/03/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã công nhận quyền thừa kế thế vị của các cháu H$ và T7 (con của chị C3) đối với bà T5, mặc dù các cháu không phải là cháu ruột của bà T5 và chị C3 chỉ là con nuôi Việc công nhận thừa kế thế vị cho con đẻ của con nuôi là hợp lý, vì trong thực tế, mối quan hệ cha nuôi, mẹ nuôi thường đi kèm với tình cảm gia đình dành cho con đẻ của con nuôi.
1 Đỗ Văn Đại, Luật thừa kế Việt Nam-Bản án và bình luận bản án, Nxb Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam
2019 (xuất bản lần thứ tư),tập 2, tr.301-305.
Trong vụ việc trên, đoạn nào cho thấy Tòa án cho con đẻ của chị C3 được hưởng thừa kế thế vị của cụ T5?
Tòa án đã quyết định công nhận quyền thừa kế thế vị của con đẻ chị C3 đối với tài sản của cụ T5 Vào năm 1979, bà T5 đã nhận nuôi chị Đỗ Đức, tạo nên mối quan hệ thừa kế giữa các bên.
Chị Đỗ Đức Phương (C3) được bà Đỗ Thị T5 nhận làm con nuôi, mặc dù bà T5 không thực hiện việc đăng ký nuôi theo quy định pháp luật Theo Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/11/1988, việc thừa nhận này được xác nhận bởi ông Đỗ Quang V và bà Đỗ Thị T2, do đó chị C3 được coi là con nuôi thực tế của bà T5 Vì vậy, chị C3 có quyền thừa kế di sản của bà T5 theo Điều 678 Bộ luật dân sự 2005, và cháu T7 cùng H4 cũng được thừa kế phần di sản mà bà T5 để lại.
Căn cứ pháp lý: các Điều 676, 677, 678 BLDS 2005.
Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án cho cho con đẻ của chị C3 được hưởng thừa kế thế vị của cụ T5
Trong quá trình nuôi dưỡng, cụ T5 nhận được sự hỗ trợ tài chính từ gia đình bị đơn cho đến khi C3 trưởng thành Mối quan hệ mẹ nuôi con nuôi giữa bà T5 và C3 được gia đình bị đơn công nhận, thể hiện qua sổ hộ khẩu do CA thị xã H cấp, xác định C3 là người thừa kế duy nhất của bà T5 theo quy định tại khoản 1 điều 676 BLDS 2005 Năm 2002, C3 kết hôn với anh C1 và có hai con chung là T7 và H4.
Chị C3 và bà T5 đều qua đời mà không để lại di chúc, do đó hai cháu trở thành người thừa kế hợp pháp di sản của bà T5 Quyết định của Tòa án trong trường hợp này có cơ sở rõ ràng và hợp lý.
Theo Bộ luật Dân sự hiện hành, quy định về thừa kế thế vị có áp dụng cho thừa kế theo di chúc Căn cứ pháp lý để khẳng định điều này là Điều 646 và Điều 647, trong đó quy định quyền thừa kế của người thừa kế thế vị trong trường hợp người để lại di sản đã lập di chúc.
Theo Bộ luật Dân sự hiện hành, quy định về thừa kế thế vị không áp dụng cho thừa kế theo di chúc Cụ thể, Điều 652 BLDS năm 2015 quy định rằng nếu con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản, thì cháu sẽ được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống Nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản, thì chắt sẽ được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.
Quy định về “Thừa kế thế vị” thuộc chương “Thừa kế theo pháp luật”, không nằm trong chương “Thừa kế theo di chúc”, điều này cho thấy thừa kế thế vị là một chế định đặc biệt dành cho thừa kế theo pháp luật.
4.9 Theo anh/chị, có nên áp dụng quy định về thừa kế thế vị cho cả trường hợp thừa kế theo di chúc không? Vì sao?
Theo quan điểm của chúng tôi, không nên áp dụng quy định về thừa kế thế vị cho thừa kế theo di chúc, vì di chúc là hành vi pháp lý đơn phương thể hiện ý chí của người lập di chúc trong việc chuyển tài sản cho người khác sau khi chết Ý chí của người chết chỉ rõ người được hưởng di sản là người được chỉ định trong di chúc Nếu người được chỉ định không còn sống khi mở thừa kế, việc áp dụng thừa kế thế vị sẽ làm mất đi ý chí của người lập di chúc Hơn nữa, nếu áp dụng quy định này, có thể dẫn đến tình trạng người thừa kế bị sát hại nhằm chiếm đoạt di sản, do đó, việc không áp dụng thừa kế thế vị cho trường hợp thừa kế theo di chúc là cần thiết để bảo vệ quyền lợi và ý chí của người để lại di sản.
Ai thuộc hàng thừa kế thứ hai và hàng thừa kế thứ ba
Hàng thừa kế thứ hai bao gồm ông bà nội, ông bà ngoại, anh chị em ruột và cháu ruột của người đã mất Hàng thừa kế thứ ba gồm cụ nội, cụ ngoại, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, cùng với cháu và chắt gọi người đã khuất bằng các danh xưng tương ứng.
Cơ sở pháp lý: điểm b, c, khoản 1 Điều 651 BLDS năm 2015 (điểm b,c khoản
1 Điều 676 BLDS năm 2005, điểm b, c Điều 679 BLDS năm 1995).
Trong vụ việc trên, có còn ai thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ T5 ở thời điểm mở thừa kế không? Vì sao?
Trong vụ việc này, không còn ai ở hàng thừa kế thứ nhất của cụ T5 còn sống tại thời điểm mở thừa kế Theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 651 BLDS năm 2015, chị C3 là người duy nhất thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ T5 Tuy nhiên, chị C3 đã mất vào năm 2007, trước thời điểm mở thừa kế khi cụ T5 qua đời.
2009 nên dẫn đến tình trạng không còn ai ở hàng thừa kế thứ nhất ở thời điểm mở thừa kế.
Trong vụ việc trên, có còn ai thuộc hàng thừa kế thứ hai của cụ T5 ở thời điểm mở thừa kế không? Vì sao?
Trong vụ việc này, không còn ai sống trong hàng thừa kế thứ nhất của cụ T5 khi mở thừa kế Theo điểm a, khoản 1 Điều 651 BLDS năm 2015, chị C3 là người duy nhất thuộc hàng thừa kế thứ nhất Tuy nhiên, chị C3 đã mất vào năm 2007, trước thời điểm mở thừa kế khi cụ T5 qua đời.
2009 nên dẫn đến tình trạng không còn ai ở hàng thừa kế thứ nhất ở thời điểm mở thừa kế.
4.12 Trong vụ việc trên, có còn ai thuộc hàng thừa kế thứ hai của cụ T5 ở thời điểm mở thừa kế không? Vì sao?
Bà T2, em ruột của bà T5, thuộc hàng thừa kế thứ hai theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 651 BLDS 2015 Tại thời điểm mở thừa kế của cụ T5, bà T2 vẫn còn sống, xác nhận quyền thừa kế của bà.
Cuối cùng, Tòa án có áp dụng hàng thừa kế thứ hai không trong vụ việc trên? Vì sao?
Tòa án không áp dụng hàng thừa kế thứ hai trong vụ việc này, xác định mối quan hệ giữa bà T5 và chị C3 là mẹ con nuôi thực tế Do đó, chị C3 cùng hai cháu T7 và H4 có quyền hưởng di sản thừa kế từ bà T5 Theo khoản 3 Điều 651 BLDS năm 2015, những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng di sản nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước Điều 652 quy định về thừa kế thế vị, cho phép cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu họ đã mất trước.
Hàng thừa kế thứ nhất của bà T5 chỉ có một người là chị C3, tuy nhiên, chị đã qua đời Điều này có nghĩa là hàng thừa kế thứ nhất của bà hiện không còn ai.
Việc áp dụng khoản 3 Điều 651 để các thừa kế ở hàng thứ hai hưởng di sản là có cơ sở khi T5 không còn ai Tuy nhiên, cần xem xét thời điểm qua đời của chị C3 và bà T5; cụ thể, chị C3 mất năm 2007 và bà T5 mất năm 2009 Do đó, chị C3, với tư cách là người thừa kế duy nhất ở hàng thứ nhất của bà T5, đã qua đời trước bà, dẫn đến việc cháu T7 và H4 phải được thừa kế thế vị theo Điều 652 Khi hàng thừa kế thứ nhất của bà T5 vẫn còn tồn tại với sự thế vị của cháu T7 và H4 cho chị C3, việc chia thừa kế theo hàng thừa kế thứ hai không cần thiết Vì vậy, Tòa án quyết định chia di sản theo thừa kế thế vị cho cháu T7 và H4, thay vì áp dụng hàng thừa kế thứ hai.
Suy nghĩ của anh/chị về hướng của Tòa án về vấn đề nêu trong câu hỏi trên (áp dụng hay không áp dụng quy định về hàng thừa kế thứ hai) 19 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Theo quan điểm cá nhân, việc Tòa án không áp dụng quy định về hàng thừa kế thứ hai là đúng với trình tự chia thừa kế Di sản thừa kế được chia theo quy định của BLDS hiện hành, tức là chia theo di chúc nếu có, hoặc theo pháp luật nếu không có di chúc Trong trường hợp của bà T5, di sản được chia theo pháp luật do bà không để lại di chúc Theo Điều 651, hàng thừa kế thứ nhất của bà T5 chỉ có chị C3, và khi chị C3 mất, di sản sẽ thuộc về hàng thừa kế thứ hai, gồm các anh chị em ruột và các cháu Tòa án đã xét đến thời điểm mất của chị C3 và bà T5 để đảm bảo việc chia thừa kế đúng trình tự, trong đó các cháu T7 và H4 được thừa kế thế vị, đảm bảo quyền lợi cho hàng thừa kế thứ nhất.
Tòa án không áp dụng chia thừa kế theo hàng thứ hai trong vụ việc này là hợp lý và tuân thủ đúng quy trình, quy định về chia thừa kế Do đó, nhóm chúng tôi hoàn toàn tán thành với quyết định của tòa án.