Bối cảnh cho sự ra đời phép biện chứng mácxit
Triết học Mác ra đời vào giữa thế kỷ XIX tại Tây Âu, khi các mâu thuẫn của chế độ tư bản chủ nghĩa trở nên rõ rệt và gay gắt Vào những năm 1840, phương thức sản xuất tư bản đã chiếm ưu thế ở Anh, Pháp và một phần quan trọng ở Đức, thể hiện sự tiến bộ so với phương thức sản xuất phong kiến Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra lực lượng sản xuất vượt trội hơn tất cả các thế hệ trước Kết quả là, các thế lực phong kiến buộc phải rời khỏi vũ đài và thích ứng với những điều kiện lịch sử mới.
Vào giữa thế kỷ XVIII, Anh đã trở thành quốc gia tư bản lớn nhất với lực lượng công nghiệp phát triển mạnh mẽ, nhờ vào cuộc cách mạng công nghiệp đã tạo ra những chuyển biến căn bản trong sản xuất Những phát minh kỹ thuật đã thay thế lao động thủ công bằng máy móc, biến các xí nghiệp hiện đại thành trung tâm sản xuất, và máy hơi nước thay thế sức gió và sức nước Chỉ sau một thời gian ngắn, Anh đạt được thành tựu kinh tế to lớn, trở thành trung tâm công nghiệp thế giới vào những năm 1840 Trong khi đó, Pháp mặc dù còn di sản phong kiến, nhưng cũng tiến nhanh trên con đường tư bản chủ nghĩa Cuộc cách mạng công nghiệp Pháp bắt đầu muộn hơn và gặp nhiều rào cản, nhưng đã nhanh chóng đạt được những thành tựu lớn, đứng thứ hai trong nền kinh tế thế giới vào đầu thế kỷ XIX, với số lượng máy hơi nước tăng gấp 9 lần từ năm 1830 đến 1847.
Từ năm 1835 đến 1847, sản xuất than đá và quặng sắt thép tại Đức đã tăng gấp ba lần, trong khi đó, sự phát triển của đường sắt tăng lên tới 12 lần Mặc dù Đức vẫn phụ thuộc vào Anh và Pháp và chủ yếu ở giai đoạn công trường thủ công trong quá trình phát triển tư bản chủ nghĩa, sản xuất công nghiệp tại đây vẫn tăng trưởng nhanh chóng Từ năm 1800 đến 1840, sản lượng công nghiệp của Đức đã tăng tối thiểu 2,5 lần.
Châu Âu, đặc biệt là Tây Âu, đã trở thành trung tâm phát triển lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa, tạo nền tảng cho sự phát triển toàn diện của xã hội Sự tiến bộ này yêu cầu phát triển khoa học kỹ thuật và cách tư duy dựa trên một thế giới quan triết học mới.
Chủ nghĩa tư bản đã bộc lộ mâu thuẫn nội tại qua quá trình hình thành và phát triển, khi sự giàu có của giới tư sản gia tăng tỷ lệ thuận với cảnh khổ cực của người lao động Ngày làm việc kéo dài từ 12 đến 18 tiếng, trong khi tiền công không đủ đảm bảo mức sống tối thiểu, dẫn đến tình trạng đói nghèo và cái chết của nhiều công nhân Sự cải tiến máy móc và mở rộng sản xuất không chỉ gia tăng năng suất mà còn làm gia tăng sự bóc lột giai cấp công nhân, khi mà lao động của phụ nữ và trẻ em trở nên phổ biến trong điều kiện khắc nghiệt Sự gia tăng của cải xã hội không mang lại bình đẳng mà còn làm sâu sắc thêm bất công xã hội, tạo ra sự đối kháng ngày càng gay gắt giữa giai cấp công nhân và tư sản Điều kiện sống bần cùng trong những khu nhà lụp xụp của công nhân trái ngược với sự xa hoa của giai cấp tư sản, dẫn đến các phong trào đấu tranh giai cấp mạnh mẽ.
Vào năm 1825, Anh rơi vào khủng hoảng kinh tế, tình trạng này nhanh chóng lan rộng ra toàn châu Âu Trong bối cảnh này, các nhà tư tưởng phong kiến và lý luận của giai cấp tư sản, những người đã bị chủ nghĩa tư bản làm cho thất bại, kêu gọi quay về thời kỳ "hoàng kim cũ" tức là phục hồi chế độ phong kiến Tuy nhiên, không một chính trị gia hay học giả nào nhận ra rằng sự khổ cực của nhân dân lao động gắn liền với chế độ sở hữu tư liệu sản xuất của chủ nghĩa tư bản.
Sau khi thiết lập vị trí thống trị về chính trị, giai cấp tư sản không còn giữ vai trò cách mạng như trước, khi họ từng là lực lượng chống phong kiến Hiện nay, mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản đã trở nên căng thẳng hơn bao giờ hết Điều này phản ánh sự xung đột kinh tế giữa sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất và chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất.
Trong những năm 30 - 40 của thế kỷ XIX, phong trào công nhân ở Tây Âu, mặc dù mang tính tự phát, đã trở thành một lực lượng quan trọng trong đời sống chính trị - xã hội Họ khởi xướng cuộc đấu tranh chống lại sự áp bức và bóc lột của chế độ tư bản.
Phong trào hiến chương nước Anh trong những năm 30-40 đã thu hút sự quan tâm và tham gia của các tầng lớp trí thức và tư sản tiến bộ, với yêu cầu ban hành quyền bầu cử cho mọi người lao động Phái hiến chương nhấn mạnh rằng giai cấp công nhân cần có đại diện trong nghị viện để thực hiện các cải cách xã hội cần thiết Lênin đã đánh giá cao phong trào này như một bước tiến quan trọng trong chính trị, coi đây là phong trào cách mạng vô sản đầu tiên mang tính chất quần chúng Tại Pháp, cuộc đấu tranh chống tư bản đã dẫn đến nhiều cuộc khởi nghĩa vũ trang, điển hình là cuộc khởi nghĩa của công nhân Liông vào năm 1831 và 1834, được một tờ báo tư sản nhận định là biểu hiện rõ nét của cuộc đấu tranh giữa giai cấp giàu có và giai cấp nghèo khổ.
Vào năm 1844, cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt Xilêdi đã diễn ra tại Đức, thể hiện sự tấn công mạnh mẽ của giai cấp vô sản vào giai cấp Tư sản.
Phong trào cách mạng chuyển sang Đức trong bối cảnh nước này đang hoàn thành cuộc cách mạng tư sản, diễn ra trong điều kiện lịch sử phát triển hơn so với Anh thế kỷ XVII và Pháp thế kỷ XVIII Giai cấp tư sản Đức trở nên lo sợ trước sự phát triển của giai cấp vô sản và ý thức cách mạng của họ, dẫn đến việc giai cấp này ngày càng trở thành lực lượng phản cách mạng Để đối phó với phong trào cách mạng của quần chúng lao động, giai cấp tư sản đã thỏa hiệp với phong kiến.
Lịch sử nước Đức vào thời điểm đó yêu cầu phải hoàn thành cuộc cách mạng tư sản, dẫn đến việc giai cấp vô sản Đức trở thành lực lượng chủ chốt trong cuộc cách mạng Sự kiện này đã biến nước Đức thành quê hương của chủ nghĩa Mác và hệ tư tưởng của giai cấp vô sản.
Cuộc đấu tranh của công nhân đã chứng minh sự trưởng thành của giai cấp vô sản, với khả năng tham gia vào chính trường Tuy nhiên, tính chất của những cuộc đấu tranh này vẫn còn tự phát do thiếu lý luận khoa học dẫn dắt Giai cấp công nhân chưa nhận thức rõ ràng về vị trí lịch sử của mình và chưa tìm ra con đường cũng như phương thức để xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn.
2 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 38, Nxb Tiến bộ Mátxcơva, 1977, tr.365
3 Trích theo Triết học Mác – sự phát sinh và phát triển của CNDVBC và CNDVLS trong thời kỳ Mác và Ăngghen, Nxb Sự thật, Hà Nội 1962
Các học thuyết xã hội không tưởng không thể đáp ứng yêu cầu của phong trào vô sản và lợi ích căn bản của giai cấp này Do đó, cần một lý luận đúng đắn để dẫn dắt giai cấp công nhân từ đấu tranh tự phát đến đấu tranh tự giác vì lợi ích của mình Triết học Mác ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu này, trở thành vũ khí tinh thần cho giai cấp vô sản, trong khi giai cấp vô sản cũng đóng vai trò là vũ khí vật chất cho triết học Mác.
Kinh tế chính trị học cổ điển Anh
Các học thuyết kinh tế chủ nghĩa của nước Anh đã đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành chủ nghĩa Mác A Smith (1723) là một trong những nhân vật tiêu biểu, có ảnh hưởng sâu sắc đến triết học Mác Các ý tưởng của ông về kinh tế đã tạo nền tảng cho sự phát triển của chủ nghĩa Mác sau này.
PHÉP BIỆN CHỨNG MÁCXIT
Khái quát chung về phép biện chứng
2.1.1 Về khái niệm phép biện chứng
Trong tác phẩm "Biện chứng của tự nhiên," Ph Ănghen định nghĩa phép biện chứng là môn khoa học nghiên cứu các quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội loài người và tư duy Ông nhấn mạnh rằng mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều có sự vận động và phát triển Bên cạnh đó, Ănghen cũng đề cập đến mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng, khẳng định rằng phép biện chứng là khoa học về các mối liên hệ, khác biệt với siêu hình học.
Mác đã chỉ trích tính thần bí trong phép biện chứng của Hêghen, phân biệt giữa biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan trong tác phẩm "Biện chứng của tự nhiên" Biện chứng khách quan chi phối toàn bộ giới tự nhiên, trong khi biện chứng chủ quan chỉ phản ánh sự chi phối đó Ăngghen nhấn mạnh rằng hai quá trình này tuy khác nhau nhưng có mối liên hệ chặt chẽ Ông cũng khẳng định rằng tư duy chủ quan và thế giới khách quan tuân theo cùng những quy luật, do đó không thể mâu thuẫn mà phải nhất trí trong kết quả.
50 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb CTQG Sự thật, Hà Nội, 1994, t.20, tr 201
51 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb CTQG Sự thật, Hà Nội, 1994, t.20, tr 510
52 Ph.Ăngghen, “Biện chứng của tự nhiên”, C.Mác – ph.Ăngghen toàn tập, Sđd , t.20, tr 694
53 Ph.Ăngghen, “Biện chứng của tự nhiên”, C.Mác – ph.Ăngghen toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Mác công nhận rằng Hêghen đã lần đầu tiên hệ thống hóa phép biện chứng một cách toàn diện và có ý thức, thông qua các quy luật và cặp phạm trù.
Trong tác phẩm "Chống Đuyring", Ăngghen định nghĩa phép BCDV là một môn khoa học nghiên cứu các quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển trong tự nhiên, xã hội loài người, cũng như tư duy.
Lênin nhấn mạnh rằng phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập, đây là hạt nhân của phép biện chứng, nhưng cần được giải thích và phát triển thêm Ông cho rằng các mặt đối lập không nên được xem là bất động mà phải hiểu là sinh động, năng động và có khả năng chuyển hóa lẫn nhau Phép biện chứng phản ánh một cách chính xác sự phát triển vĩnh viễn của thế giới khách quan.
2.1.2 Bản chất, tính chất của phép biện chứng Ăngghen chỉ ra bản chất của phép biện chứng là phương pháp để tìm ra những kết quả mới, những hiểu biết mới, đồng thời chứa đựng mầm mống của thế giới quan rộng lớn 59 Trong tác phẩm Chống Đuyrinh, Ănghen đã chỉ ra bản chất của phép biện chứng đó là “xem xét những sự vật và những phản ánh của chúng trong tư tưởng trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau của chúng, trong sự ràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng” 60 Ăngghen đã chỉ ra các quy luật của phép biện chứng mang tính khách quan, phổ biến, nó được thể hiện trong tự nhiên, xã hội và tư duy con người 61
54 Ph.Ăngghen, “Biện chứng của tự nhiên”, C.Mác – ph.Ăngghen toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
55 Ph.Ăngghen, “Chống Đuyring”, C.Mác – ph.Ăngghen toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1994, t.20, tr.201
56 V.I.Lênin, “Bút ký triết học”, Lênin toàn tập, Sđd, t.29, tr.240
57 V.I.Lênin, “Bút ký triết học”, Lênin toàn tập, Sđd, t.29, tr.117, 118
58 V.I.Lênin, “Bút ký triết học”, Lênin toàn tập, Sđd, t.29, tr.117, 118
59 Ph.Ăngghen, “Chống Đuyring”, C.Mác – ph.Ăngghen toàn tập, Sđd, t.20, tr.191, 192
60 C.Mác – ph.Ăngghen toàn tập, Sđd, t.20, tr.38
Trong tác phẩm "Chống Đuyring", Ăngghen nhấn mạnh rằng phép biện chứng là một khoa học nghiên cứu các mối liên hệ, khác biệt với siêu hình học Tính chất chung của phép biện chứng thể hiện sự đối lập và phát triển trong tư duy, góp phần làm sáng tỏ các quy luật tự nhiên và xã hội.
Lênin đã chỉ ra rằng bản chất của phép biện chứng thể hiện qua công thức thống nhất và đồng nhất của các mặt đối lập Sự phân đôi của cái thống nhất cùng với việc nhận thức các bộ phận mâu thuẫn chính là cốt lõi của phép biện chứng.
2.1.3 Sự đối lập giữa phương pháp nhận thức siêu hình và biện chứng
Mặc dù phương pháp siêu sình có giá trị trong một số lĩnh vực nhất định, nhưng nó thể hiện sự phiến diện và hạn chế khi chỉ tập trung vào các sự vật riêng lẻ mà không xem xét mối liên hệ và sự tác động qua lại giữa chúng Phương pháp này chỉ nhận diện sự tồn tại của các sự vật mà không chú ý đến quá trình phát sinh và tiêu vong của chúng, cũng như chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh mà quên đi sự vận động Ngược lại, phương pháp biện chứng xem xét các sự vật trong mối quan hệ tương tác, từ đó hiểu rõ hơn về quá trình phát triển và biến đổi của chúng.
Trong tác phẩm "Chống Đuyrinh", Ăngghen phê phán sự phủ nhận không có cơ sở của Đuyrinh đối với phép biện chứng, mà ông coi như một công cụ “tầm thường” chỉ để chứng minh Điều này cho thấy Đuyrinh hoàn toàn không hiểu bản chất của phép biện chứng Ăngghen chỉ trích quan điểm siêu hình của Đuyrinh, nhấn mạnh sự đối lập giữa phép biện chứng và phép siêu hình, đồng thời chỉ ra rằng Đuyrinh là một nhà siêu hình chính hiệu, người đã tạo ra một khoảng cách vô lý giữa “động và tĩnh” mà không tồn tại trong thực tế.
62 Ph.Ăngghen, “Biện chứng của tự nhiên”, C.Mác – ph.Ăngghen toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1994, t.20, tr.510
63 V.I.Lênin, “Bút ký triết học”, Lênin toàn tập, Sđd, t.29, tr.275
64 V.I.Lênin, “Bút ký triết học”, Lênin toàn tập, Sđd, t.29, tr.378
65 Ăngghen, “Chống Đuyring”, C.Mác – ph.Ăngghen toàn tập, Sđd, t.20, tr.37
66 Ăngghen, “Chống Đuyring”, C.Mác – ph.Ăngghen toàn tập, Sđd, t.20, tr.40
Trong tác phẩm của mình, Đuyrinh cho rằng không thể tìm ra cầu nối giữa tĩnh và động trong cơ học hợp lý, vì sự vận động là một mâu thuẫn không thể hiểu được Ông khẳng định rằng mọi mâu thuẫn đều là phi lý, dẫn đến việc những khái niệm và sự vật chỉ được xem xét một cách độc lập và cố định Ảnh hưởng của Ảngghen đã làm rõ lịch sử phát triển của phép biện chứng qua ba hình thức: biện chứng tự phát của triết học Hy Lạp cổ đại, biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức, và biện chứng duy vật, với hình thức thứ ba được coi là cao nhất trong tư duy khoa học.
Lịch sử triết học phản ánh cuộc đấu tranh giữa hai phương pháp siêu hình và biện chứng Ăngghen đã phân tích sự đối lập giữa hai phương pháp này, chỉ ra những hạn chế của phương pháp siêu hình, khi nó chỉ chú trọng vào các sự vật riêng lẻ mà không nhận ra mối liên hệ giữa chúng Ông nhấn mạnh rằng phương pháp siêu hình chỉ nhìn thấy sự tồn tại và trạng thái tĩnh của sự vật, mà không quan tâm đến quá trình phát sinh, tiêu vong và sự vận động của chúng Đồng thời, Ăngghen cũng chỉ ra sự khác biệt giữa phép biện chứng của Mác và Hêghen, mặc dù ông vẫn đánh giá cao những đóng góp của Hêghen trong triết học.
68 Mác – Anghen, toàn tập, tập 20, tr 173
Hêghen được xác định là một nhà triết học duy tâm, với phép biện chứng của ông cho thấy rằng "tất cả đều bị đặt lộn ngược và mối liên hệ hiện thực của các hiện tượng trong thế giới đều hoàn toàn bị đảo ngược."
2.2 Về phép biện chứng duy vật trong tác phẩm Bộ Tư bản của C.Mác
Bộ tư bản của Mác có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng và phát triển phép biện chứng duy vật Lê nin đã nhấn mạnh rằng tác phẩm này không chỉ là một công trình lý luận sâu sắc mà còn là nền tảng để hiểu rõ các quy luật vận động của xã hội và kinh tế Mác đã cung cấp cho chúng ta những công cụ phân tích để nhận diện và giải thích các mối quan hệ phức tạp trong đời sống xã hội, từ đó góp phần vào sự phát triển của chủ nghĩa xã hội.
Lôgic học, với chữ L viết hoa, đã để lại cho chúng ta một hệ thống logic quan trọng trong Tư bản Mác đã áp dụng logic biện chứng và lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật vào nghiên cứu của mình, tạo nên một khoa học duy nhất Việc tận dụng triệt để logic này là cần thiết để hiểu sâu sắc hơn về Tư bản.
2.2.1 Về quy luật lượng chất
Về phép biện chứng duy vật trong một số tác phẩm kinh điển của C.Mác và Ph.Ănghen và V.I Lênin
2.3.1 Về hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật
Ăngghen đã sử dụng các thành tựu của khoa học tự nhiên để chứng minh sự tồn tại khách quan của biện chứng tự nhiên, nhấn mạnh những mối liên hệ phổ biến và sự biến đổi, chuyển hóa, phát triển liên tục của tự nhiên từ hình thức tồn tại này sang hình thức khác.
Trong tác phẩm "Biện chứng của tự nhiên", Ph Ăngghen phân tích quá trình biện chứng trong các ngành khoa học tự nhiên như cơ học, vật lý, hóa học, sinh học và toán học Ông kết luận rằng trái đất và hệ thống mặt trời là kết quả của một quá trình sinh thành kéo dài theo thời gian, và do đó, các yếu tố như địa chất, địa lý, khí hậu, thực vật, động vật, và các giống loài cũng đều là sản phẩm của quá trình hình thành trong không-thời gian Không thể có sự biến đổi của trái đất mà không có sự thay đổi của những vật thể trên đó Quy luật tuần hoàn và chuyển hóa năng lượng trong vật lý khẳng định nguyên lý triết học về tính bất diệt và mối liên hệ giữa vật chất và vận động Thuyết tiến hóa của Đác Uyn chứng minh rằng tất cả sinh vật, từ những cơ thể đơn giản nhất đến con người, đều là kết quả của sự tiến hóa lâu dài của vật chất theo quy luật khách quan.
Trong các thành tựu của khoa học tự nhiên, Ăngghen nhấn mạnh ba phát hiện vĩ đại, bao gồm sự chứng minh của Rôbơc Mayơ, Giulơ và Cônđinh về sự chuyển hóa năng lượng giữa các hình thức khác nhau Những phát hiện này không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong việc hiểu biết về năng lượng mà còn góp phần định hình các lý thuyết khoa học hiện đại.
Svannơ và Slaiden ra tế bào hữu cơ; thứ ba là học thuyết tiến hóa của Đácuyn 114
Quan điểm về mối liên hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên được thể hiện rõ trong hệ thống cân bằng động Ăngghen nhấn mạnh rằng con người là sản phẩm của quá trình tiến hóa lâu dài, là một phần không thể tách rời của tự nhiên Theo quan điểm duy vật biện chứng, mọi hiện tượng đều có sự tác động qua lại, không có gì xảy ra đơn độc Tự nhiên cung cấp nguyên liệu cho lao động, tạo ra của cải Sự cân bằng này được minh chứng qua các ví dụ cụ thể, như việc diệt chim sẻ có thể dẫn đến sự bùng nổ của sâu bệnh, gây hại cho mùa màng Tự nhiên tồn tại trong những vòng tròn khép kín, nơi các loài tương tác phức tạp, tạo nên sự cân bằng động và biến đổi liên tục Từ đó, Ăngghen cảnh báo con người không nên quá tự mãn với những thành tựu của mình.
114 Ph.Ăngghen, “Biện chứng của tự nhiên”, C.Mác – ph.Ăngghen toàn tập, Sđd, t.20, tr.674 - 676
Trong tác phẩm "Biện chứng của tự nhiên", Ph Ăngghen nhấn mạnh rằng mỗi khi chúng ta đạt được thắng lợi, tự nhiên lại có cách phản ứng để trả thù Lênin trong "Bút ký triết học" cũng đồng tình rằng mặc dù những suy luận của Hêghen có tính chất duy tâm, nhưng tư tưởng của ông về mối liên hệ phổ biến là thiên tài Lênin khẳng định rằng cần phải lật ngược lại những quan điểm này một cách duy vật và nhấn mạnh sự tồn tại mối liên hệ tất yếu, khách quan giữa các sự vật hiện tượng.
Trong tác phẩm "Biện chứng của tự nhiên", Mác - Ăngghen khẳng định rằng sự phát triển của sự vật hiện tượng diễn ra theo nguyên lý vận động và biến đổi Ông chỉ ra rằng mọi thứ cứng nhắc đều sẽ tan rã, những gì cố định sẽ trở thành không ổn định, và những gì được coi là vĩnh cửu thực chất chỉ là nhất thời Tất cả tự nhiên vận động theo một dòng chảy và tuần hoàn vĩnh cửu, và mọi vật chất đều trải qua một chu trình bất diệt Biện chứng cũng nhấn mạnh rằng cái gì được sinh ra thì cũng sẽ mất đi; sinh và diệt là quy luật tự nhiên, bao gồm cả trái đất và mặt trời khi hoàn thành sứ mệnh của chúng Chỉ có vật chất đang chuyển hóa và vận động vĩnh viễn cùng với các quy luật của sự vận động đó là tồn tại mãi mãi.
Lênin nhấn mạnh rằng sự phát triển không chỉ đơn thuần là sự gia tăng hay giảm đi về mặt lượng, mà cần phải hiểu theo một cách toàn diện hơn Trong tác phẩm “Những người bạn dân là thế nào và họ đấu tranh chống những người dân chủ - xã hội ra sao?”, ông đã chỉ ra và phê phán những sai lầm của các nhà xã hội học chủ quan, nhấn mạnh tầm quan trọng của quan điểm biện chứng trong việc nhận thức xã hội và lịch sử.
116 Ph.Ăngghen, “Biện chứng của tự nhiên”, C.Mác – ph.Ăngghen toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1994, t.20, tr.654
117 V.I.Lênin, “Bút ký triết học”, Lênin toàn tập, Sđd, t.29, tr.106
118 Ph.Ăngghen, “Biện chứng của tự nhiên”, C.Mác – ph.Ăngghen toàn tập, Sđd, t.20, tr 471
Trong tác phẩm "Bút ký triết học", Lênin nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phân biệt giữa các hiện tượng quan trọng và không quan trọng Việc nhận diện đúng đắn những hiện tượng này là cần thiết để có cái nhìn sâu sắc và chính xác hơn về thực tiễn.
2.3.2 Về ba quy luật của phép biện chứng duy vật
Trong tác phẩm "Biện chứng của tự nhiên," Ăngghen đã chỉ trích Hêghen về việc phát triển các quy luật biện chứng theo cách duy tâm, không rút ra từ thực tiễn tự nhiên và lịch sử Ông nhấn mạnh rằng Hêghen đã gán các quy luật tư duy từ trên xuống cho tự nhiên và lịch sử, thay vì phát hiện chúng từ chính thực tế Tác phẩm này cũng đề cập đến ba quy luật của phép biện chứng duy vật, làm rõ hơn về phương pháp luận trong nghiên cứu tự nhiên và xã hội.
Quy luật về sự chuyển hoá từ số lƣợng thành chất lƣợng và ngƣợc lại Quy luật về sự xâm nhập lẫn nhau của các đối lập
Quy luật về sự phủ định của phủ định 122
Quy luật lượng – chất của Ăngghen nghiên cứu mối quan hệ giữa lượng và chất, nhấn mạnh rằng sự biến đổi chất chỉ xảy ra khi có sự thay đổi về lượng Ông khẳng định rằng để có sự thay đổi về chất, cần phải có sự thay đổi về lượng vật chất hoặc vận động Nếu không có sự thay đổi về lượng, chất của sự vật sẽ không thể thay đổi Để minh chứng cho quy luật này, Ăngghen đã đưa ra nhiều ví dụ, trong đó có ví dụ về ôxi, khi ba phân tử kết hợp với nhau để tạo thành một chất mới.
120 V I.Lênin, “Những người bạn dân là thế nào và họ đấu tranh chống những người dân chủ - xã hội ra sao?”, Lênin toàn tập, Nxb Tiến Bộ, Matxcơva, 1974, t.1, tr 162
121 Ph.Ăngghen, “Biện chứng của tự nhiên”, C.Mác – ph.Ăngghen toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1994, t.20, tr.510
122 Ph.Ăngghen, “Biện chứng của tự nhiên”, C.Mác – ph.Ăngghen toàn tập, Sđd, t.20, tr.510
123 Ph.Ăngghen, “Biện chứng của tự nhiên”, C.Mác – ph.Ăngghen toàn tập, Sđd, t.20, tr.511
Trong tác phẩm "Biện chứng của tự nhiên", Ph Ăngghen nêu rõ sự khác biệt giữa các chất, chẳng hạn như ô-zôn, một dạng oxy có mùi vị và tác dụng khác biệt so với oxy thông thường Ông cũng chỉ ra rằng nhiệt độ của nước ở trạng thái lỏng có thể dẫn đến sự chuyển đổi thành chất mới khi nhiệt độ tăng hoặc giảm Một ví dụ đáng chú ý trong lĩnh vực tư duy mà Ăngghen đưa ra là trường hợp của Đuy-rinh.
Sự biến đổi lượng - chất trong thế giới được Ăngghen khẳng định qua nhiều ví dụ phong phú Quy luật này cho thấy sự thay đổi về chất là kết quả của sự thay đổi về lượng, với quá trình chuyển hóa giữa các chất diễn ra như một sự đứt đoạn trong liên tục Đồng thời, sự biến đổi chất cũng có thể dẫn đến sự thay đổi về lượng Ăngghen chỉ ra rằng không phải mọi sự thay đổi về lượng đều dẫn đến sự thay đổi về chất; chỉ khi sự thay đổi đạt đến một giới hạn nhất định, gọi là điểm nút, thì mới có khả năng gây ra sự thay đổi chất Tại điểm nút, bất kỳ sự tăng giảm nào về lượng đều dẫn đến sự thay đổi về chất, trong khi nếu chưa đạt tới điểm nút, sự thay đổi về lượng sẽ không làm thay đổi chất Ông đã minh họa cho điểm nút qua các ví dụ như cường độ dòng điện, độ cháy sáng và nóng chảy của kim loại, cũng như sự chuyển hóa tiền thành tư bản.
Ăngghen đã phát triển khái niệm độ, mô tả khoảng mà sự thay đổi về lượng diễn ra mà không làm thay đổi về chất Cụ thể, trong quy luật nước ở thể lỏng, khoảng từ 0 độ C đến 100 độ C là giới hạn mà trong đó nước vẫn giữ nguyên trạng thái chất lỏng, bất chấp sự thay đổi nhiệt độ.
125 Ph.Ăngghen, “Biện chứng của tự nhiên”, C.Mác – ph.Ăngghen toàn tập, Sđd, t.20, tr.514, 515
126 Ph.Ăngghen, “Biện chứng của tự nhiên”, C.Mác – ph.Ăngghen toàn tập, Sđd, t.20, tr.514
127 Mác – Ăngghen Toàn tập, sdd, t.20 tr 181
128 Ph.Ăngghen, “Biện chứng của tự nhiên”, C.Mác – ph.Ăngghen toàn tập, Sđd , t.20, tr.514
Trong tác phẩm "Chống Đuyring" của Ph Ăngghen, được trích dẫn trong C.Mác – ph Ăngghen toàn tập, có nêu rõ rằng với áp suất bình thường, sự thay đổi nhiệt độ sẽ không ảnh hưởng đến trạng thái của thể lỏng.
Các phạm trù nhảy vọt, đường nút và độ được xem là những thuộc tính cơ bản của sự vận động trong thế giới Ăngghen nhấn mạnh rằng mỗi chất liệu đều có những điểm nút nhất định, như cường độ dòng điện tối thiểu để đốt sáng dây bạch kim hay điểm đông đặc và sôi của chất lỏng Những hằng số vật lý thực chất chỉ là những điểm nút, nơi mà sự thay đổi trạng thái của vật chất xảy ra khi có sự thay đổi về lượng Quá trình biến đổi của sự vật diễn ra qua các bước tiệm tiến, và chỉ tại những điểm nút, sự thay đổi về chất mới xảy ra thông qua bước nhảy vọt Ăngghen phê phán quan điểm cho rằng chất và lượng là hai phạm trù hoàn toàn khác nhau, khẳng định rằng chất lượng không tồn tại độc lập mà chỉ có trong sự vật cụ thể, và nhiều chất lượng khác nhau cùng tồn tại Ông giải thích quy luật chuyển hóa từ số lượng thành chất lượng và ngược lại, cho thấy sự biến đổi chất trong tự nhiên.
- xảy ra một cách xác định chặt chẽ đối với từng trường hợp cá biệt - chỉ có
130 Ph.Ăngghen, “Biện chứng của tự nhiên”, C.Mác – ph.Ăngghen Toàn tập, Sđd, t.20, tr.514
131 Ph.Ăngghen, “Chống Đuyring”, C.Mác – ph.Ăngghen toàn tập, Sđd, t.20, tr.98