1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài thảo luận quy định chung về thừa kế

31 75 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy Định Chung Về Thừa Kế
Người hướng dẫn Th.S Nguyễn Tấn Hoàng Hải
Trường học Trường Đại Học Luật Tp Hcm
Chuyên ngành Những Quy Định Chung Về Luật Dân Sự, Tài Sản Và Thừa Kế
Thể loại bài thảo luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 212 KB

Cấu trúc

  • MỤC LỤC

  • Phần I. Di sản thừa kế.

    • Câu 1.1. Ở pháp luật nước ngoài, di sản có bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố không? Nêu ít nhất một hệ thống pháp luật mà anh/chị biết về chủ đề này.

    • Câu 1.2. Di sản là gì và có bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

    • Câu 1.3. Khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thay thế bởi một tài sản mới sau đó thì tài sản mới có là di sản không? Vì sao?

    • Câu 1.4. Để được coi là di sản, theo quy định của pháp luật, quyền sử dụng đất của người quá cố có phải đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không? Nêu cơ sở pháp lý.

    • Câu 1.5. Trong Bản án số 08, Tòa án có xem diện tích đất 85,5m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là di sản không? Đoạn nào của bản án có câu trả lời?

    • Câu 1.6. Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý nêu trên của Tòa án trong Bản án số 08 về diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

    • Câu 1.7. Ở Án lệ 16/2017/AL, trong diện tích 398m2 đất, phần di sản của Phùng Văn N là bao nhiêu? Vì sao?

    • Câu 1.8. Theo Án lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K có được coi là di sản để chia không? Vì sao?

    • Câu 1.9. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Án lệ trên liên quan đến phần diện tích đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K.

    • Câu 1.10. Nếu bà G bán đất trên để lo cho cá nhân mình thì số tiền đó có được coi là di sản để chia không? Vì sao?

    • Câu 1.11. Ở thời điểm bà G chết, di sản của bà G trong diện tích đất là bao nhiêu?

    • Câu 1.12. Việc Tòa xác định phần còn lại của di sản của bà G là 43,5m2 có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không? Vì sao?

    • Câu 1.13. Việc Tòa án quyết định “còn lại 43,5m2 được chia cho 05 kỷ phần còn lại” có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không? Vì sao?

  • Phần II. Nghĩa vụ tài sản của người để lại di sản.

    • Câu 2.1. Theo BLDS, nghĩa vụ nào của người quá cố sẽ đương nhiên chấm dứt và những nghĩa vụ nào của người quá cố sẽ không đương nhiên chấm dứt? Nêu cơ sở pháp lý.

    • Câu 2.2. Ai là người phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người quá cố? Nêu cơ sở pháp lý.

    • Câu 2.3. Nghĩa vụ của bà Loan đối với ngân hàng có là nghĩa vụ về tài sản không? Vì sao?

    • Câu 2.4. Nếu ngân hàng yêu cầu được thanh toán, ai là người phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ trên của bà Loan? Vì sao?

    • Câu 2.5. Trong Quyết định số 26, ai là người có công chăm sóc, nuôi dưỡng người quá cố khi họ còn sống?

    • Câu 2.6: Trong Quyết định trên, theo Tòa giám đốc thẩm, công sức chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ của ông Vân, ông Vi được xử lý như thế nào?

    • Câu 2.7: Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý trên của Tòa Giám đốc thẩm (trong mối quan hệ với các quy định về nghĩa vụ của người quá cố).

  • Phần III: Thời hiệu trong lĩnh vực thừa kế.

    • Câu 3.1. Cho biết các loại thời hiệu trong lĩnh vực thừa kế Việt Nam.

    • Câu 3.2. Pháp luật nước ngoài có áp đặt thời hiệu đối với yêu cầu chia tài sản không?

    • Câu 3.3. Thời điểm mở thừa kế đối với di sản của cụ T là năm nào? Đoạn nào của Quyết định tạo lập thành Án lệ số 26/2018/AL cho câu trả lời?

    • Câu 3.4. Việc Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của BLDS 2015 cho di sản của cụ T có cơ sở văn bản nào không? Có thuyết phục không? Vì sao?

    • Câu 3.5. Việc Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của BLDS 2015 cho di sản của cụ T với thời điểm bắt đầu từ thời điểm Pháp lệnh thừa kế năm 1990 được công bố có cơ sở văn bản nào không? Có thuyết phục không? Vì sao?

    • Câu 3.6. Suy nghĩ của anh/chị về Án lệ số 26/2018/AL.

  • Phần IV: Tìm kiếm tài liệu

  • DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nội dung

BÀI THẢO LUẬN QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỪA KẾ Giảng viên: Th.S Nguyễn Tấn Hoàng Hải Bộ môn: Những quy định chung về Luật Dân sự, Tài sản và Thừa kế Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 05 năm 2021 DANH SÁCH NHÓM SINH VIÊN THỰC HIỆN BÀI THẢO LUẬN Nhóm 4: MỤC LỤC Phần I. Di sản thừa kế. 1 Câu 1.1. Ở pháp luật nước ngoài, di sản có bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố không? Nêu ít nhất một hệ thống pháp luật mà anh/chị biết về chủ đề này. 2 Câu 1.2. Di sản là gì và có bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời. 2 Câu 1.3. Khi tài sản do người quá cố để lại ở thời điểm mở thừa kế bị thay thế bởi một tài sản mới sau đó thì tài sản mới có là di sản không? Vì sao? 3 Câu 1.4. Để được coi là di sản, theo quy định của pháp luật, quyền sử dụng đất của người quá cố có phải đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không? Nêu cơ sở pháp lý. 4 Câu 1.5. Trong Bản án số 08, Tòa án có xem diện tích đất 85,5m2 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là di sản không? Đoạn nào của bản án có câu trả lời? 5 Câu 1.6. Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý nêu trên của Tòa án trong Bản án số 08 về diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. 6 Câu 1.7. Ở Án lệ 16/2017/AL, trong diện tích 398m2 đất, phần di sản của Phùng Văn N là bao nhiêu? Vì sao? 6 Câu 1.8. Theo Án lệ trên, phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K có được coi là di sản để chia không? Vì sao? 7 Câu 1.9. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Án lệ trên liên quan đến phần diện tích đã chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K. 7 Câu 1.10. Nếu bà G bán đất trên để lo cho cá nhân mình thì số tiền đó có được coi là di sản để chia không? Vì sao? 8 Câu 1.11. Ở thời điểm bà G chết, di sản của bà G trong diện tích đất là bao nhiêu? 8 Câu 1.12. Việc Tòa xác định phần còn lại của di sản của bà G là 43,5m2 có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không? Vì sao? 8 Câu 1.13. Việc Tòa án quyết định “còn lại 43,5m2 được chia cho 05 kỷ phần còn lại” có thuyết phục không? Vì sao? Đây có là nội dung của Án lệ số 16 không? Vì sao? 9 Phần II. Nghĩa vụ tài sản của người để lại di sản. 10 Câu 2.1. Theo BLDS, nghĩa vụ nào của người quá cố sẽ đương nhiên chấm dứt và những nghĩa vụ nào của người quá cố sẽ không đương nhiên chấm dứt? Nêu cơ sở pháp lý. 10 Câu 2.2. Ai là người phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người quá cố? Nêu cơ sở pháp lý. 11 Câu 2.3. Nghĩa vụ của bà Loan đối với ngân hàng có là nghĩa vụ về tài sản không? Vì sao? 11 Câu 2.4. Nếu ngân hàng yêu cầu được thanh toán, ai là người phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ trên của bà Loan? Vì sao? 12 Câu 2.5. Trong Quyết định số 26, ai là người có công chăm sóc, nuôi dưỡng người quá cố khi họ còn sống? 12 Câu 2.6: Trong Quyết định trên, theo Tòa giám đốc thẩm, công sức chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ của ông Vân, ông Vi được xử lý như thế nào? 12 Câu 2.7: Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý trên của Tòa Giám đốc thẩm (trong mối quan hệ với các quy định về nghĩa vụ của người quá cố). 13 Phần III: Thời hiệu trong lĩnh vực thừa kế. 14 Câu 3.1. Cho biết các loại thời hiệu trong lĩnh vực thừa kế Việt Nam. 14 Câu 3.2. Pháp luật nước ngoài có áp đặt thời hiệu đối với yêu cầu chia tài sản không? 15 Câu 3.3. Thời điểm mở thừa kế đối với di sản của cụ T là năm nào? Đoạn nào của Quyết định tạo lập thành Án lệ số 26/2018/AL cho câu trả lời? 15 Câu 3.4. Việc Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của BLDS 2015 cho di sản của cụ T có cơ sở văn bản nào không? Có thuyết phục không? Vì sao? 16 Câu 3.5. Việc Án lệ số 26/2018/AL áp dụng thời hiệu 30 năm của BLDS 2015 cho di sản của cụ T với thời điểm bắt đầu từ thời điểm Pháp lệnh thừa kế năm 1990 được công bố có cơ sở văn bản nào không? Có thuyết phục không? Vì sao? 17 Câu 3.6. Suy nghĩ của anh/chị về Án lệ số 26/2018/AL. 20 Phần IV: Tìm kiếm tài liệu 23 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Di sản thừa kế

Ông Hòa đã khởi kiện anh Nam và chị Hương về tranh chấp tài sản thừa kế của bà Mai, người không để lại di chúc Theo quy định, mỗi người trong hàng thừa kế thứ nhất được hưởng 1/3 di sản Tòa án xác định diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận là di sản thừa kế Quyết định của tòa phân chia tài sản như sau: ông Hòa sở hữu số tiền cho thuê nhà, 01 lán bán hàng và 62,6m² đất (trong đó 38,4m² chưa được cấp giấy); anh Nam được quyền sở hữu 01 nhà ba tầng, sân tường bao loan và 106,9m² đất (47,1m² chưa được cấp giấy); chị Hương nhận số tiền cho thuê nhà Anh Nam cũng phải thanh toán chênh lệch tài sản cho ông Hòa và chị Hương.

Án lệ số 16/2017/AL của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao liên quan đến vụ việc giữa ông N và bà G, có 06 người con chung Năm 1991, bà G đã chuyển nhượng 131m² đất cho ông K, trong tổng diện tích 398m², và các con bà đều biết nhưng không phản đối Bà G đã bán đất để lo cho cuộc sống của mình và các con Sau khi bà G qua đời năm 2010, di chúc của bà chỉ định chị H1 được nhận 90m² trong tổng số 267m² đất còn lại Tòa án xác định bà G có quyền định đoạt 133,5m² trong tổng diện tích 267m², dẫn đến việc chia di sản còn lại là 43,5m² cho 05 phần còn lại Đối với phần di sản của ông N, do đã hết thời hiệu chia thừa kế, nên phần đất này sẽ được tiếp tục quản lý và sử dụng bởi người đang quản lý.

Trong pháp luật nước ngoài, di sản không chỉ bao gồm tài sản mà còn có thể bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố Ví dụ, trong hệ thống pháp luật của Đức, di sản được xem là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ mà người quá cố để lại, bao gồm cả các khoản nợ mà họ chưa thanh toán Điều này có nghĩa là người thừa kế có trách nhiệm đối với các nghĩa vụ tài chính của người đã mất, bên cạnh việc nhận di sản.

Trong pháp luật Hoa Kỳ, nợ sẽ được trừ vào di sản và không tự động biến mất Nếu di sản không đủ để thanh toán hết nợ, khoản nợ còn lại sẽ không cần phải trả bởi những người thừa kế Tuy nhiên, trong trường hợp phí y tế như thuốc men hay viện phí, nếu di sản không đủ để chi trả, người thừa kế sẽ phải chịu trách nhiệm thanh toán phần còn lại.

Câu 1.2 Di sản là gì và có bao gồm cả nghĩa vụ của người quá cố không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời

+ Điều 612 BLDS năm 2015 quy định: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”.

+ Điều 614 BLDS năm 2015 quy định: “Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”.

+ Điều 615 BLDS năm 2015 quy định:

Những người thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản mà người đã khuất để lại, trừ khi có thỏa thuận khác.

Trong trường hợp di sản chưa được chia, nghĩa vụ tài sản mà người chết để lại sẽ được thực hiện bởi người quản lý di sản, dựa trên thỏa thuận giữa những người thừa kế và trong phạm vi di sản do người chết để lại.

Khi di sản đã được phân chia, mỗi người thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản của người đã khuất để lại, tương ứng với phần tài sản mà họ nhận được, trừ khi có thỏa thuận khác.

Trong trường hợp người thừa kế không phải là cá nhân được chỉ định trong di chúc, họ vẫn có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản mà người đã khuất để lại, tương tự như những người thừa kế là cá nhân.

Trước khi chia di sản, những người thừa kế cần thanh toán các nghĩa vụ mà người đã khuất để lại, sau đó mới tiến hành phân chia di sản Việc thực hiện nghĩa vụ này không phải từ tư cách của những người thừa kế mà là thực hiện nghĩa vụ của người chết bằng tài sản của chính họ Do đó, di sản sẽ không bao gồm các nghĩa vụ của người quá cố.

Khi tài sản do người quá cố để lại bị thay thế bởi tài sản mới tại thời điểm mở thừa kế, tài sản mới đó có thể được xem là di sản thừa kế Mặc dù Bộ luật Dân sự không quy định rõ ràng về vấn đề này, thực tiễn cho thấy rằng tài sản thay thế thường được coi là di sản Giải quyết theo hướng này đã được củng cố bởi án lệ của Pháp và hiện đã được luật hóa tại Điều 815 Bộ luật Dân sự Pháp Điều này cũng áp dụng cho trường hợp di sản được thay thế bằng khoản tiền, như tiền đền bù, theo Bản án số 98/2006/DSPT ngày 20-1.

2006 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh), tiền bảo hiểm tài sản được bảo hiểm

Khi di sản được bán hoặc chuyển nhượng, Tòa án nhân dân tối cao xác định rằng tiền thu được từ việc bán cũng được coi là di sản (Quyết định số 02/2011 ngày 23-02-2011) Nếu Tòa án đã giao di sản cho một người không được hưởng, người sở hữu tài sản phải thanh toán giá trị tài sản, và giá trị này sẽ được chia cho các thừa kế (Quyết định số 141/DS-GĐT ngày 19-3-2012) Tương tự, khi Tòa án quyết định bán đấu giá di sản hợp pháp, hoặc khi di sản được giao cho một người thừa kế nhưng sau đó bị hủy, di sản sẽ chuyển thành tiền và người nhận tiền phải chia cho các thừa kế (Quyết định số 31/2014/DS-GĐT ngày 10-07-2014; Quyết định số 03/2011/DS-GĐT ngày 23-2-2011; Quyết định số 129/2011/DS-GĐT ngày 22-2-2012).

Theo quy định của pháp luật, để quyền sử dụng đất của người quá cố được coi là di sản, cần phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Cơ sở pháp lý cho điều này được quy định tại Luật Đất đai, trong đó nêu rõ rằng quyền sử dụng đất chỉ được công nhận và bảo vệ khi có giấy chứng nhận hợp lệ.

- Cơ sở pháp lý: Mục 1 “Xác định quyền sử dụng đất là di sản” thuộc phần II của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP:

Đối với đất đai do người đã qua đời để lại, không phân biệt có tài sản gắn liền hay không, nếu người đó đã sở hữu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1987, thì quyền sử dụng đất sẽ được thừa kế theo quy định của pháp luật.

1993, Luật Đất đai năm 2003 thì quyền sử dụng đất đó là di sản.

Trong trường hợp đất đai được để lại bởi người đã khuất, nếu người đó sở hữu một trong các loại giấy tờ quy định tại các Khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai, quyền sử dụng đất sẽ được công nhận theo quy định pháp luật.

2003, thì kể từ ngày 01/7/2004 quyền sử dụng đất đó cũng là di sản, không phụ thuộc vào thời điểm mở thừa kế.

Trong trường hợp người chết để lại quyền sử dụng đất nhưng không có giấy tờ hợp lệ, nếu có di sản gắn liền như nhà ở hoặc công trình kiến trúc khác, cần phân biệt các tình huống sau: Thứ nhất, nếu có văn bản xác nhận hợp pháp từ Ủy ban nhân dân, Tòa án sẽ giải quyết yêu cầu chia di sản bao gồm cả quyền sử dụng đất Thứ hai, nếu không có xác nhận hợp pháp nhưng có văn bản cho biết không vi phạm quy hoạch, Tòa án sẽ chia di sản và xác định ranh giới, tạm giao quyền sử dụng đất cho đương sự để hoàn tất thủ tục cấp giấy chứng nhận Cuối cùng, nếu Ủy ban nhân dân xác nhận việc sử dụng đất là không hợp pháp, Tòa án chỉ giải quyết tranh chấp về di sản gắn liền với tài sản trên đất.

Nghĩa vụ tài sản của người để lại di sản

Tóm tắt Quyết định số 26/2013/DS-GĐT ngày 22/4/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:

Cụ Phúc và cụ Thịnh có 06 người con, trong đó cụ Phúc mất không để lại di chúc, còn cụ Thịnh để lại di chúc cho ông Vân Tòa án đã căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 142,3m² của cụ Phúc để định giá và phân chia di sản, nhưng điều này không chính xác Hơn nữa, tòa án chưa xác minh rõ ràng về hai ngôi nhà hai tầng và một nhà trần phụ trên đất tranh chấp, dẫn đến việc không xác định được phần tài sản nào là của cụ Phúc và cụ Thịnh, cũng như phần nào do vợ chồng ông Vân xây dựng Tòa phúc thẩm cũng không làm rõ công sức chăm sóc cha mẹ và quản lý di sản của ông Vân và ông Vi để đối trừ, khiến việc chia tài sản cho các đồng thừa kế trở nên không hợp lý Do những sai sót này, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã hủy bản án sơ thẩm và phúc thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.

Theo Bộ luật Dân sự, nghĩa vụ của người quá cố sẽ đương nhiên chấm dứt trong trường hợp nghĩa vụ không thể thực hiện được, như nghĩa vụ cá nhân gắn liền với tính mạng của người đó Ngược lại, những nghĩa vụ liên quan đến tài sản, như nghĩa vụ thanh toán nợ hoặc nghĩa vụ chuyển nhượng tài sản, sẽ không tự động chấm dứt mà sẽ được chuyển giao cho người thừa kế Cơ sở pháp lý cho quy định này được nêu rõ trong các điều khoản của Bộ luật Dân sự.

Theo Khoản 8 Điều 372 Bộ luật Dân sự năm 2015, nếu bên có nghĩa vụ là cá nhân qua đời hoặc pháp nhân chấm dứt tồn tại, thì nghĩa vụ đó sẽ tự động chấm dứt Điều này có nghĩa là những nghĩa vụ mang tính nhân thân do người đã mất thực hiện sẽ không còn hiệu lực.

Nếu người quá cố để lại nghĩa vụ không thuộc loại nghĩa vụ đã đề cập, mà là các nghĩa vụ khác như nghĩa vụ về tài sản, thì những nghĩa vụ này sẽ không tự động chấm dứt.

Câu 2.2 Ai là người phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người quá cố? Nêu cơ sở pháp lý

- Cơ sở pháp lý: Điều 615 BLDS năm 2015 quy định:

Những người thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản của người đã khuất, trừ khi có thỏa thuận khác được xác lập.

Trong trường hợp di sản chưa được chia, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại sẽ được người quản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận giữa những người thừa kế, trong giới hạn của di sản mà người chết để lại.

Khi di sản đã được chia, mỗi người thừa kế sẽ chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản của người đã mất tương ứng với phần tài sản mà họ nhận được, trừ khi có thỏa thuận khác.

Trong trường hợp người thừa kế không phải là cá nhân nhận di sản theo di chúc, họ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ tài sản mà người đã mất để lại, tương tự như trách nhiệm của người thừa kế cá nhân.

Câu 2.3 Nghĩa vụ của bà Loan đối với ngân hàng có là nghĩa vụ về tài sản không? Vì sao?

- Nghĩa vụ của bà Loan đối với ngân hàng là nghĩa vụ về tài sản vì theo Điều

658 BLDS năm 2015 về thứ tự ưu tiên thanh toán:

“Các nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế được thanh toán theo thứ tự sau đây:

1 Chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng.

2 Tiền cấp dưỡng còn thiếu.

3 Chi phí cho việc bảo quản di sản.

4 Tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ.

6 Tiền bồi thường thiệt hại.

7 Thuế và các khoản phải nộp khác vào ngân sách nhà nước.

8 Các khoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân.

Bà Loan đã vay ngân hàng số tiền 100.000.000 đồng, theo quy định tại khoản 8 Điều nêu trên, do đó, bà có nghĩa vụ tài chính đối với ngân hàng.

Câu 2.4 Nếu ngân hàng yêu cầu được thanh toán, ai là người phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ trên của bà Loan? Vì sao?

- Các con bà Loan phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ trên dựa theo khoản 3 Điều

Theo quy định tại Điều 615 Bộ luật Dân sự năm 2015, khi di sản đã được chia, mỗi người thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản của người đã mất tương ứng với phần tài sản mà họ nhận được, trừ khi có thỏa thuận khác.

- Nếu bà Loan có chỉ định trong di chúc người trả nợ là ai thì người đó phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ trên của bà Loan.

Câu 2.5 Trong Quyết định số 26, ai là người có công chăm sóc, nuôi dưỡng người quá cố khi họ còn sống?

Ông Vân đã có công chăm sóc cha mẹ trong suốt thời gian sống, trong khi ông Vi đóng vai trò quan trọng trong việc nuôi dưỡng họ, thể hiện qua việc ông Vi gửi tiền để cha mẹ không phải bán nhà Tòa án cấp phúc thẩm đã xác định rõ ràng công lao của cả hai người, với ông Vân có trách nhiệm quản lý di sản và ông Vi có công lớn trong việc hỗ trợ tài chính cho cha mẹ.

Câu 2.6: Trong Quyết định trên, theo Tòa giám đốc thẩm, công sức chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ của ông Vân, ông Vi được xử lý như thế nào?

Công sức chăm sóc và nuôi dưỡng cha mẹ của ông Vân và ông Vi đã được ghi nhận, tuy nhiên, việc xác định rõ ràng công sức trong việc chăm sóc cha mẹ và quản lý di sản của ông vẫn chưa được làm sáng tỏ.

Vân, ông Vi được hưởng là bao nhiêu để đối trừ, số tiền còn lại mới chia cho các đồng thừa kế là chưa hợp lý.

Hướng xử lý của Tòa Giám đốc thẩm cần được xem xét kỹ lưỡng trong mối quan hệ với các quy định về nghĩa vụ của người quá cố Việc tuân thủ các quy định này không chỉ đảm bảo tính công bằng trong giải quyết vụ việc mà còn bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan Sự rõ ràng và minh bạch trong quyết định của Tòa sẽ góp phần tạo niềm tin cho công chúng vào hệ thống tư pháp Do đó, việc đánh giá và áp dụng đúng các quy định về nghĩa vụ của người quá cố là rất quan trọng trong quá trình xử lý của Tòa Giám đốc thẩm.

- Hướng xử lý trên của Tòa Giám đốc thẩm là hợp lý:

Bản án dân sự sơ thẩm và phúc thẩm chưa xác định chính xác diện tích thửa đất mà cụ Phúc và cụ Thịnh để lại, dẫn đến việc Tòa án không thể định giá đúng tài sản theo quy định và giá thị trường Cả hai cấp Tòa án đều xác định hai ngôi nhà một tầng là tài sản của cụ Phúc và cụ Thịnh, nhưng điều này chưa đủ cơ sở pháp lý.

Công sức chăm sóc và nuôi dưỡng cha mẹ, cũng như việc quản lý di sản của ông Vân và ông Vi, chưa được xác minh rõ ràng Do đó, việc phân chia tài sản cho các đồng thừa kế hiện tại không đảm bảo tính chính xác và công bằng.

Phần III: Thời hiệu trong lĩnh vực thừa kế

Tóm tắt Án lệ số 26/2018/AL:

Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng cụ K, cụ T tạo lập được khối tài sản Năm

Tìm kiếm tài liệu

Hoàng Giang Linh đã trình bày về thẩm quyền công chứng và chứng thực liên quan đến quyền của người sử dụng đất trong bài viết "Thẩm quyền công chứng, chứng thực liên quan đến quyền của người sử dụng đất, một số kiến nghị." Tác giả đưa ra một số kiến nghị quan trọng nhằm cải thiện việc xây dựng luật về giải thích hiến pháp, luật, và pháp lệnh tại Việt Nam hiện nay Bài viết được đăng trong Tạp chí Số 2/2017, trang 60-64.

Bài viết của Võ Đình Toàn và Lê Thị Thúy Nga tập trung vào vấn đề giám sát, phản biện xã hội và minh bạch thông tin trong quản lý đất đai Tác giả chỉ ra những hạn chế và bất cập hiện tại trong lĩnh vực này, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình quản lý Bài viết cũng đưa ra một số kiến nghị liên quan đến việc xây dựng luật giải thích hiến pháp, luật và pháp lệnh tại Việt Nam.

Những bài viết trên liên quan đến pháp luật về tài sản và pháp luật về thừa kế được trích từ Tạp chí Nghề luật năm 2017 (hocvientuphap.edu.vn)

2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 số 52/2014/QH13 ngày 19 tháng 06 năm 2014.

3 Bộ Luật Dân sự Việt Nam năm 2015 số: 91/2015/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2015.

Danh mục tài liệu tham khảo

Đỗ Văn Đại, trong tác phẩm "Luật thừa kế Việt Nam – Bán án và bình luận bản án", xuất bản bởi Nhà xuất bản Hồng Đức và Hội Luật gia Việt Nam năm 2019 (phiên bản thứ tư), đã phân tích các bản án số 4-7, 8-10, 134-137, 139-139 và 164-165, cung cấp cái nhìn sâu sắc về luật thừa kế tại Việt Nam.

Bài viết của Hoàng Giang Linh với tiêu đề "Thẩm quyền công chứng, chứng thực liên quan đến quyền của người sử dụng đất, một số kiến nghị" đề cập đến những vấn đề trong việc xây dựng luật giải thích hiến pháp, luật, pháp lệnh tại Việt Nam Tác giả đưa ra những kiến nghị quan trọng nhằm cải thiện quy trình công chứng và chứng thực, bảo vệ quyền lợi của người sử dụng đất Nội dung bài viết được đăng trong Tạp chí số 2/2017, trang 60-64.

Nguyễn Xuân Quang, trong cuốn Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu tài sản và thừa kế, đã cung cấp những kiến thức cơ bản về pháp luật liên quan đến tài sản và quyền sở hữu Cuốn sách được xuất bản bởi Nhà xuất bản Hồng Đức, thuộc Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, vào năm [năm xuất bản].

4 Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết và Nguyễn Hồ Bích Hằng, Luật dân sự Việt Nam,

Nhà xuất bản Đại học quốc gia năm 2007, tr.236 đến 237, tr.244 đến 245, tr.269 đến 271.

Võ Đình Toàn và Lê Thị Thúy Nga đã nghiên cứu về giám sát, phản biện xã hội và minh bạch thông tin trong quản lý đất đai, chỉ ra những hạn chế và bất cập hiện tại Bài viết cũng đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện luật giải thích hiến pháp, luật và pháp lệnh ở Việt Nam Các giải pháp này hướng tới việc nâng cao hiệu quả quản lý đất đai và tăng cường tính minh bạch trong thông tin.

Ngày đăng: 20/10/2021, 11:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w