1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CHI PHÍ SỨC KHỎE DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

36 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chi Phí Sức Khỏe Do Ảnh Hưởng Biến Đổi Khí Hậu
Tác giả Nguyễn Thanh Nhàn, Nguyễn Nhật Anh
Người hướng dẫn TS. Phan Thị Giác Tâm
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Tp.Hcm
Chuyên ngành Kinh Tế Tài Nguyên Môi Trường
Thể loại chuyên đề
Năm xuất bản 2017
Thành phố Tp Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 1,1 MB

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 (6)
    • 1.1. Khái niệm về biến đổi khí hậu (6)
    • 1.2. Nguyên nhân hình thành BĐKH (6)
      • 1.2.1. Hoạt động sản xuất, sinh hoạt của con người làm tăng lượng khí thải (7)
      • 1.2.2. Sự biến đổi của tự nhiên (7)
    • 1.3 Các biểu hiện và tác động của BĐKH (8)
    • 1.4. Thực trạng BĐKH ở Việt Nam (8)
    • 1.5. Nhận định xu thế BĐKH ở Việt Nam (9)
  • CHƯƠNG 2 (12)
    • 2.1. Giới thiệu sốt xuất huyết Dengue (SXHD) (12)
    • 2.2. Tình hình sốt xuất huyết Dengue ở Việt Nam (13)
    • 2.3. Đặc điểm tác nhân truyền bệnh và sinh thái của véctơ (16)
    • 2.4. Tác nhân gây bệnh (18)
    • 2.5. Đặc điểm lâm sàng của bệnh sốt xuất huyết Dengue (19)
      • 2.5.1. Sốt Dengue (19)
      • 2.5.2. Sốt xuất huyết Dengue có dấu hiệu cảnh báo (19)
      • 2.5.3. Sốt xuất huyết Dengue nặng (19)
  • CHƯƠNG 3 (20)
    • 3.1 chi phí sức khỏe (20)
    • 3.2. Các nghiên cứu về chi phí điều trị Dengue (20)
      • 3.2.1. Nghiên cứu ngoài nước (20)
      • 3.2.2. Nghiên cứu trong nước (21)
    • 3.3. Chi phí phòng ngừa (21)
    • 3.4. Chi phí điều trị (24)
      • 3.4.1. Chi phí trực tiếp (25)
      • 3.4.2. Chi phí cơ hội (26)
    • 3.5. Chi phí không rõ ràng (27)

Nội dung

Kinh tế học môi trường là một chuyên ngành của kinh tế học ứng dụng đề cập đến những vấn đề môi trường (thường còn được sử dụng bởi các thuật ngữ khác). Khi sử dụng các phương pháp chuẩn tắc của kinh tế học tân cổ điển, nó được phân biệt với kinh tế xanh hay kinh tế sinh thái trong đó bao gồm cả các cách tiếp cận không chuẩn tắc cho những vấn đề môi trường, khoa học môi trường, nghiên cứu môi trường, hoặc sinh thái. Theo chương trình Kinh tế học Môi trường của Cơ quan Quốc gia về Nghiên cứu Kinh tế (NBER)

Khái niệm về biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu là sự thay đổi đáng kể, lâu dài các thành phần khí hậu,

"Khung" thời tiết của một vùng cụ thể thường ổn định theo thời gian, nhưng có thể chuyển sang một trạng thái mới với các tiêu chí sinh thái khí hậu khác biệt Quá trình này dẫn đến sự hình thành một trạng thái ổn định mới theo thời gian (Lê Huy Bá và ctv, 2009).

Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam, biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự thay đổi của hệ thống khí hậu, bao gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển và thạch quyển, cả trong hiện tại lẫn tương lai Những thay đổi này xảy ra do các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo.

Theo Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO), biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự thay đổi trong hệ thống khí hậu, xảy ra do sự thay đổi cấu trúc của hệ thống hoặc do mối quan hệ tương tác giữa các thành phần, bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài hoặc hoạt động của con người.

Biến đổi khí hậu là sự thay đổi trạng thái của khí hậu so với mức trung bình, diễn ra trong thời gian dài, thường là vài thập niên hoặc hơn Hiện tượng này có thể xảy ra do các quá trình tự nhiên hoặc do tác động của con người, như thay đổi thành phần khí quyển và khai thác sử dụng đất Sự kết hợp giữa biến đổi khí hậu tự nhiên và ảnh hưởng của hoạt động con người sẽ dẫn đến sự thay đổi cấu thành của khí quyển.

Nguyên nhân hình thành BĐKH

Biến đổi khí hậu (BĐKH) xảy ra do nồng độ khí hiệu ứng nhà kính trong khí quyển tăng cao, dẫn đến sự ấm lên của Trái Đất và nhiệt độ bề mặt gia tăng Sự gia tăng nhiệt độ này gây ra những biến đổi đáng kể trong các vấn đề thời tiết hiện nay Theo báo cáo mới nhất của Liên Hiệp Quốc, 90% nguyên nhân gây ra BĐKH là do hoạt động của con người, trong khi chỉ 10% là do các yếu tố tự nhiên (UNFCCC, 1992).

1.2.1 Hoạt động sản xuất, sinh hoạt của con người làm tăng lượng khí thải

Biến đổi khí hậu (BĐKH) chủ yếu do hoạt động của con người, đặc biệt là sự gia tăng nồng độ khí nhà kính trong khí quyển, dẫn đến hiệu ứng nhà kính mạnh mẽ hơn Trong đó, khí điôxit cacbon (CO2) là một trong những yếu tố quan trọng, được phát sinh từ việc sử dụng năng lượng hóa thạch như dầu mỏ, than đá và khí tự nhiên, cùng với việc phá rừng và thải chất thải vào khí quyển (UNFCCC, 1992).

Việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch là nguyên nhân chính gây ra 70-90% lượng CO2 phát thải vào khí quyển, chủ yếu từ giao thông vận tải và sản xuất thiết bị điện như tủ lạnh và hệ thống điều hòa Ngoài ra, các hoạt động nông nghiệp, khai thác rừng, và công nghiệp cũng góp phần làm tăng lượng phát thải CO2 Tổng cộng, tiêu thụ năng lượng từ đốt nguyên liệu hóa thạch chiếm khoảng 46% tiềm năng nóng lên toàn cầu, trong khi phá rừng nhiệt đới và hoạt động nông nghiệp lần lượt đóng góp 18% và 9% vào tổng lượng khí thải Những yếu tố này đều dẫn đến biến đổi khí hậu do hoạt động của con người (Jan C Semenza và Bettina Menne, 2009).

1.2.2 Sự biến đổi của tự nhiên

Biến đổi khí hậu hiện nay, đặc biệt là hiện tượng nóng lên toàn cầu, đã bắt đầu từ giữa thế kỷ 19 Trong hơn 100 năm qua (1906-2005), nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng lên 0,7 độ C, với thập kỷ 1990 được ghi nhận là thập kỷ nóng nhất trong thiên niên kỷ qua.

Sự nóng lên toàn cầu dẫn đến việc băng và tuyết ở các vùng cực tan chảy, làm cho nước đại dương ấm lên và giãn nở, gây ra mực nước biển trung bình toàn cầu tăng khoảng 0,17 m trong thế kỷ XX Hệ quả là các thiên tai như mưa lớn, bão, lũ lụt, lũ quét, nắng nóng, hạn hán và lốc xoáy ngày càng xảy ra nhiều hơn, mạnh mẽ hơn và mang tính dị thường.

Số ngày và đêm lạnh, cũng như hiện tượng băng giá, đang giảm dần El Nino xuất hiện với tần suất cao hơn, kéo dài và mạnh mẽ hơn Các hiện tượng như ngập lụt, xói lở bờ biển, xâm nhập mặn và sạt lở đất diễn ra ngày càng nhiều và nghiêm trọng hơn (Atul A Khasnis và Mary D Nettlemen, 2005).

Các biểu hiện và tác động của BĐKH

1) Trời nóng hơn, thời tiết bất thường hơn; 2) NBD cao và xâm nhập mặn tăng cường; 3) Các dạng thiên tai như bão lũ, hạn hán, nắng nóng, rét hại có xu hướng bất thường và khốc liệt hơn

Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến mọi thành phần của môi trường, bao gồm môi trường tự nhiên, xã hội và sức khỏe con người trên toàn cầu Theo Tổ chức Y tế Thế giới, từ năm 1975 đến 1996, đã xuất hiện ít nhất 30 loại bệnh mới hoặc tái xuất hiện Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng biến đổi khí hậu tác động đến sự lây lan của các bệnh do côn trùng truyền, tạo ra thách thức lớn cho các quốc gia trên thế giới (Woodruff R.E và cộng sự, 2002).

Thực trạng BĐKH ở Việt Nam

Theo số liệu quan trắc, biến đổi của các yếu tố khí hậu ở Việt Nam có những điểm đáng lưu ý sau ( Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008):

Trong khoảng thời gian 50 năm từ 1951 đến 2000, nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam đã tăng 0,7 độ C So với ba thập kỷ trước đó (1931-1960), nhiệt độ trung bình năm của bốn thập kỷ gần đây (1961-2000) cao hơn rõ rệt Cụ thể, nhiệt độ trung bình của thập kỷ 1991-2000 tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP.Hồ Chí Minh lần lượt cao hơn so với thập kỷ 1931-1940 là 0,8 độ C, 0,4 độ C và một mức tăng đáng kể khác.

0,6 o C Năm 2007, nhiệt độ trung bình năm ở cả 3 nơi trên đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931-1940 là 0,8 – 1,3 o C và cao hơn thập kỷ 1991-2000 là 0,4 -0,5 o C

Trong 9 thập kỷ qua (1911-2000), xu hướng biến đổi lượng mưa trung bình năm ở từng địa điểm không rõ rệt, với sự biến động theo các giai đoạn khác nhau, bao gồm cả thời kỳ tăng và giảm.

Trong suốt 50 năm qua, dữ liệu quan trắc từ các trạm Cửa Ông và Hòn Dấu cho thấy mực nước biển trung bình đã tăng khoảng 20cm, điều này phản ánh xu hướng tăng mực nước biển toàn cầu.

Trong hai thập kỷ gần đây, số lượng đợt không khí lạnh ảnh hưởng đến Việt Nam đã giảm rõ rệt, đặc biệt là vào cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI Cụ thể, các năm 1994 và 2007 ghi nhận sự thay đổi này.

Trong giai đoạn từ năm 4 đến năm 16, Việt Nam ghi nhận 15-16 đợt không khí lạnh, chỉ đạt 56% so với trung bình nhiều năm Đặc biệt, có 6/7 trường hợp số đợt không khí lạnh trong các tháng mùa đông (từ tháng 11 đến tháng 3) thấp hơn mức bình thường, bao gồm các năm 1990, 1993, 1994, 1997 Một hiện tượng khí hậu bất thường gần đây là đợt không khí lạnh kéo dài 38 ngày vào tháng 1 và tháng 2 năm 2008, gây ra rét đậm, rét hại và thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp.

Trong những năm gần đây, số lượng bão có cường độ mạnh gia tăng, với quỹ đạo bão dịch chuyển về phía nam Mùa bão kết thúc muộn hơn và nhiều cơn bão có quỹ đạo di chuyển bất thường.

- Số ngày mưa phùn trung bình năm ở Hà Nội giảm dần trong thập kỷ 1981-1990 và chỉ còn gần một nửa (khoảng 15 ngày/năm) trong10 năm gần đây.

Nhận định xu thế BĐKH ở Việt Nam

Nhiệt độ trung bình ở Việt Nam có thể tăng lên 3 o C vào năm 2100

Lượng mưa đang có xu hướng biến đổi không đồng đều giữa các khu vực, với khả năng tăng từ 0 đến 10% trong mùa mưa và giảm từ 0 đến 5% trong mùa khô Sự biến động của lượng mưa cũng đang gia tăng.

Mực nước biển trung bình trên toàn dải bờ biển Việt Nam có thể dâng lên 1 m vào năm 2100

Theo đánh giá toàn cầu của Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) và các nghiên cứu sơ bộ của các nhà khoa học Việt Nam, tác động của biến đổi khí hậu đối với Việt Nam được xác định là nghiêm trọng và cần được nghiên cứu thêm một cách sâu sắc.

Tóm tắt những tác động nghiêm trọng của biến đổi khí hậu đối với Việt

Nam: a) Tác động của nước biển dâng

Việt Nam có bờ biển dài 3.260 km, hơn một triệu km 2 lãnh hải và trên

Việt Nam có khoảng 3.000 hòn đảo gần bờ và hai quần đảo xa bờ, cùng với nhiều vùng đất thấp ven biển Những khu vực này thường xuyên phải đối mặt với tình trạng ngập lụt nghiêm trọng trong mùa mưa, hạn hán và xâm nhập mặn trong mùa khô Biến đổi khí hậu và sự gia tăng mực nước biển sẽ làm tình hình trở nên tồi tệ hơn.

Sự nóng lên toàn cầu làm tăng diện tích ngập lụt, gây khó khăn cho thoát nước, gia tăng xói lở bờ biển và nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp và nguồn nước sinh hoạt Điều này tạo ra rủi ro lớn đối với các công trình xây dựng ven biển như đê biển, đường giao thông, bến cảng, nhà máy, cũng như các đô thị và khu dân cư ven biển.

Nhiệt độ tăng lên đang tác động mạnh mẽ đến các hệ sinh thái tự nhiên, dẫn đến sự dịch chuyển ranh giới nhiệt của các hệ sinh thái lục địa và nước ngọt, làm thay đổi cấu trúc loài thực vật và động vật, đặc biệt là ở những vùng có nguồn gốc ôn đới và á nhiệt đới, gây suy giảm đa dạng sinh học Trong nông nghiệp, cơ cấu cây trồng, vật nuôi và mùa vụ cũng bị ảnh hưởng, với vụ đông ở miền Bắc có thể bị rút ngắn hoặc biến mất, trong khi vụ mùa kéo dài hơn Điều này yêu cầu các kỹ thuật canh tác phải được điều chỉnh Sự gia tăng nhiệt độ và tính biến động của nó, bao gồm cả các nhiệt độ cực đại và cực tiểu, cùng với các yếu tố thời tiết khác và thiên tai, làm tăng nguy cơ phát triển sâu bệnh và dịch bệnh, dẫn đến giảm năng suất và sản lượng, đồng thời gia tăng rủi ro cho nông nghiệp và an ninh lương thực.

Nhiệt độ cao và độ ẩm gia tăng tạo áp lực nhiệt lên cơ thể, đặc biệt là đối với người già và trẻ em, dẫn đến gia tăng bệnh tật Các bệnh nhiệt đới và bệnh truyền nhiễm trở nên phổ biến hơn do sự phát triển của vi khuẩn, côn trùng và vật chủ mang bệnh, cùng với sự suy giảm trong chế độ dinh dưỡng và vệ sinh môi trường.

Sự gia tăng nhiệt độ không chỉ ảnh hưởng đến môi trường mà còn tác động mạnh mẽ đến nhiều lĩnh vực như năng lượng, giao thông vận tải, công nghiệp, xây dựng, du lịch và thương mại Điều này dẫn đến chi phí gia tăng cho việc làm mát, thông gió, bảo quản và vận hành thiết bị, phương tiện, cũng như sức bền của vật liệu Biến đổi khí hậu còn có những tác động nghiêm trọng đối với sức khỏe con người.

Nhiệt độ gia tăng có tác động tiêu cực đến sức khỏe con người, đặc biệt làm tăng nguy cơ cho người cao tuổi và những người mắc bệnh tim mạch, bệnh thần kinh.

Tình trạng nóng lên toàn cầu đang làm biến đổi cấu trúc mùa nhiệt hàng năm, đặc biệt ở miền Bắc, nơi mùa đông trở nên ấm hơn Sự thay đổi này ảnh hưởng đến nhịp sinh học của con người, dẫn đến những thay đổi trong thói quen và sức khỏe.

Biến đổi khí hậu làm gia tăng nguy cơ mắc các bệnh nhiệt đới như sốt rét và sốt xuất huyết, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của nhiều loại vi khuẩn, côn trùng và vật chủ mang bệnh Điều này dẫn đến sự gia tăng số lượng người mắc các bệnh nhiễm khuẩn dễ lây lan.

Thiên tai như bão, tố, ngập lụt và hạn hán ngày càng gia tăng về cường độ và tần suất, dẫn đến số người thiệt mạng tăng cao và ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe qua ô nhiễm môi trường, suy dinh dưỡng và bệnh tật Những nhóm dễ bị tổn thương nhất bao gồm nông dân nghèo, dân tộc thiểu số miền núi, người già, trẻ em và phụ nữ.

Giới thiệu sốt xuất huyết Dengue (SXHD)

Sốt dengue, hay sốt xuất huyết dengue, là bệnh do vi rút dengue gây ra, với bốn týp huyết thanh (DEN-1, DEN-2, DEN-3, và DEN-4), lây truyền chủ yếu qua muỗi Bệnh này phổ biến ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên toàn cầu, ảnh hưởng đến nhiều khu vực như Mỹ, Úc, Trung Mỹ, Nam Mỹ, Châu Phi, Đông Nam Á và Thái Bình Dương, bao gồm cả Hawaii Khoảng 2,5 tỷ người sống trong vùng có nguy cơ lây truyền do sự tồn tại của muỗi Aedes, đặc biệt là Aedes aegypti và Aedes albopictus Trong thập niên 1990, mỗi năm có hơn 100 triệu ca nhiễm dengue, trong đó hơn nửa triệu trường hợp mắc bệnh nặng.

Dengue là một bệnh truyền nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cộng đồng và kinh tế toàn cầu Mặc dù các biện pháp phòng ngừa và điều trị đã được tăng cường, nhưng gánh nặng bệnh tật do dengue vẫn rất nặng nề, khiến nó trở thành bệnh lây truyền qua véc tơ quan trọng nhất thế giới Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), chỉ riêng trong năm 2007 tại châu Mỹ, đã có hơn 900.000 trường hợp sốt dengue và hơn 26.000 trường hợp sốt xuất huyết dengue, dẫn đến 317 ca tử vong.

Dengue là một bệnh lưu hành và gây dịch quanh năm tại Việt Nam, đặc biệt ở các tỉnh thuộc Đồng bằng Sông Cửu Long Trong năm 2008, khu vực này ghi nhận 12.729 ca sốt dengue (SD), 75.221 ca sốt xuất huyết (SXH), trong đó có 10.951 trường hợp sốc và 81 trường hợp tử vong, với tỷ lệ tử vong trên số ca mắc là 9,2%.

Tình hình sốt xuất huyết Dengue ở Việt Nam

Bệnh sốt xuất huyết (SXHD) đang tái nổi và trở thành một trong những mối đe dọa lớn đối với sức khỏe cộng đồng tại Việt Nam Mặc dù tỷ lệ tử vong do bệnh này không cao như HIV/AIDS, nhưng số ca mắc bệnh hàng năm vẫn đáng kể, dẫn đến chi phí phòng chống và dập dịch rất lớn Năm 2011, ngân sách cho công tác này lên tới 105 tỷ đồng (Bộ Y tế, 2011) Do đó, SXHD được xem là một trong những bệnh truyền nhiễm gây gánh nặng lớn cho hệ thống y tế quốc gia.

Bệnh sốt xuất huyết không chỉ xảy ra ở đô thị mà còn ở nông thôn, nơi có sự xuất hiện của muỗi truyền bệnh (Trần Văn Tiến và ctv, 2000) Đây là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trong số 24 bệnh truyền nhiễm cần báo cáo theo quy định của Bộ Y tế Việt Nam.

Trước năm 1990, bệnh SXHD có chu kỳ xuất hiện rõ rệt, trung bình mỗi 3 - 4 năm Tuy nhiên, sau năm 1990, bệnh này diễn ra liên tục với cường độ và quy mô ngày càng tăng, với những đợt dịch cao điểm xuất hiện trung bình mỗi 10 năm.

Vụ dịch lớn đã xảy ra vào năm 1998 với 234.920 trường hợp mắc, 377 trường hợp tử vong, tỷ lệ mắc là 306,3 trường hợp/100.000 dân, tỷ lệ chết/mắc là 0,19%

Từ năm 2000 đến 2011, tình hình nhiễm sốt xuất huyết (SXHD) ở Việt Nam không ổn định, với đỉnh dịch thường xảy ra từ tháng 6 đến tháng 10 hàng năm Giai đoạn 2001-2011, 76,9% ca mắc và 83,3% ca tử vong do SXHD tập trung ở 20 tỉnh phía Nam, trong đó khoảng 90% số ca tử vong thuộc nhóm tuổi dưới 15 Chu kỳ dịch SXHD diễn ra muộn hơn một năm so với trước năm 1990 và thường lặp lại sau mỗi 3 đến 5 năm Năm 2000, số ca tử vong do SXHD ở khu vực phía Nam chiếm trên 80% tổng số tử vong của cả nước Giai đoạn 1999-2003, số mắc trung bình hàng năm ghi nhận sự gia tăng đáng kể.

Trong 9 năm qua, số ca mắc sốt xuất huyết (SXHD) đã giảm xuống còn 36.826 trường hợp, với 66 ca tử vong Tuy nhiên, từ năm 2004 đến nay, cả số ca mắc và tử vong do SXHD đều có xu hướng gia tăng Đặc biệt, vào năm 2006, cả nước ghi nhận 77.818 trường hợp mắc SXHD, trong đó có 68 ca tử vong, với tỷ lệ mắc là 88,6 trường hợp trên 100.000 dân và tỷ lệ tử vong trên ca mắc là 0,09%.

Tính đến năm 2010, cả nước ghi nhận 128.710 ca mắc sốt xuất huyết (SXHD), trong đó có 109 trường hợp tử vong Tỷ lệ mắc bệnh đạt 146,69 ca/100.000 dân, với tỷ lệ tử vong trên tổng số ca mắc là 0,85% (Bộ Y tế, 2010).

Số tr ườn g hợp c hế t S D /S X H D

Số tr ườ ng h ợp mắ c SD/S XH D

Hình 1: Tình hình mắc và chết do SXH ở Việt Nam từ năm 2000-2012

Sự biến đổi khí hậu đã tạo ra những thách thức mới trong việc kiểm soát bệnh sốt xuất huyết (SXHD), một bệnh theo mùa thường liên quan đến thời tiết nóng và ẩm ướt Nghiên cứu tại Đông Nam Á cho thấy số ca mắc SXHD gia tăng theo lượng mưa và quần thể vectơ, với bệnh nhân tăng sau một tháng kể từ khi có mưa (Shope R.E., 1991) Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với SXHD phụ thuộc vào lượng mưa và nhiệt độ, trong đó nhiệt độ đóng vai trò quan trọng trong việc lan truyền virus Dengue, ảnh hưởng đến sự phân bố và khả năng hút máu của vectơ cũng như giai đoạn ủ bệnh (Trần Đắc Phu, 2001).

Nhiệt độ ảnh hưởng lớn đến sự phát triển và đời sống của muỗi trưởng thành, bao gồm thời gian virus đến tuyến nước bọt và sự trưởng thành của muỗi Khi nhiệt độ cao, trứng muỗi nở nhanh hơn và muỗi cần hút máu nhiều hơn để cung cấp protein cho việc sản xuất trứng Nhiệt độ từ 16 o C đến 20 o C giúp bọ gậy phát triển nhanh, nhưng 26 o C là điều kiện tối ưu cho sự phát triển của muỗi Đối với virus, nhiệt độ lý tưởng là 22 o C, dẫn đến tăng số lượng cá thể nhiễm bệnh và khả năng truyền bệnh của vectơ theo mùa (Ephantus J Muturi và ctv, 2012).

Nghiên cứu về vectơ truyền bệnh sốt xuất huyết (SXHD) ở Argentina cho thấy mật độ sinh sản của muỗi Aedes aegypti cao nhất sau những tháng có nhiệt độ trung bình trên 20°C và lượng mưa trên 150 mm Gần đây, khí hậu Việt Nam đang ấm lên, tạo điều kiện thuận lợi cho sự lây lan của bệnh SXH Theo Bộ Tài nguyên Môi trường, từ năm 2010 đến 2020, nhiệt độ trung bình của Việt Nam dự kiến sẽ tăng hơn 1,5°C, điều này cho thấy sự gia tăng nhiệt độ có mối liên hệ trực tiếp với mật độ và khả năng phát triển của muỗi Aedes aegypti.

South Nam High land Tây nguyên Central Trung North Bắc

Hình 2: Phân bố ca mắc SXH theo vùng miền

Bệnh sốt xuất huyết (SXHD) tại Việt Nam có sự phát triển theo mùa và khác biệt giữa miền Bắc và miền Nam, với 84,4% ca bệnh xảy ra ở khu vực phía Nam Tại miền Bắc, nơi có khí hậu á nhiệt đới, SXHD thường bùng phát từ tháng 4 đến tháng 11, trong khi các tháng còn lại bệnh ít xuất hiện do thời tiết lạnh và ít mưa, không thuận lợi cho sự phát triển của muỗi truyền bệnh.

Muỗi Aedes aegypti sinh sản và hoạt động mạnh mẽ từ tháng 6 đến tháng 10, với đỉnh điểm bệnh sốt xuất huyết (SXHD) xảy ra vào tháng 7, 8, 9 và 10 Tại miền Nam và Nam Trung bộ, SXHD diễn ra quanh năm, nhưng tần suất mắc bệnh cao hơn từ tháng 4 đến tháng 11, với các tháng 7, 8, 9 và 10 là thời gian cao điểm.

Ninh, 1997) Chỉ số mật độ muỗi ở miền Nam cao hơn từ 4 - 9 lần so với khu vực miền Bắc.

Đặc điểm tác nhân truyền bệnh và sinh thái của véctơ

Bệnh sốt xuất huyết (SXHD) không lây truyền trực tiếp từ người sang người, mà do muỗi Aedes sp cái, thuộc phân giống Stegomyia, đốt bệnh nhân và sau đó truyền virus sang người khỏe mạnh Tại Việt Nam, hai loài muỗi chính truyền bệnh SXHD là Aedes aegypti và Aedes albopictus, trong đó Aedes aegypti là véctơ chính, đóng vai trò trung gian quan trọng trong việc lây truyền bệnh, còn Aedes albopictus là véctơ phụ.

Hình 3 Chu trình lây nhiễm virút dengue

Muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus, thường được gọi là muỗi vằn, có màu đen với những đám vẫy trắng tạo thành vằn trắng đen đặc trưng Chúng thích đậu ở độ cao từ 1 đến 2 mét, với tỷ lệ 86%, nhưng cũng có thể xuất hiện ở độ cao thấp hơn.

Muỗi đốt người, đặc biệt là loại hiếm, chiếm từ 6 đến 8% dân số Chúng thường sống gần con người và thích đậu trên các vật liệu vải, chiếm tới 71% sở thích của chúng, đặc biệt là quần áo có mùi mồ hôi Ngoài ra, muỗi cũng tìm nơi để đẻ trứng trong nước sạch, thường là trong các vật chứa nước tự nhiên hoặc nhân tạo như chum, vại, phuy, hồ, bể chứa nước không đậy nắp, lọ hoa, chậu cây cảnh, chậu nước chống kiến, lon đồ hộp, ve chai, gáo dừa, vỏ xe, hoặc bất kỳ vật dụng nào có thể tích trữ nước trong vòng 7 ngày.

Hoạt động đốt máu của muỗi Aedes aegypti phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường; khi nhiệt độ dưới 23°C, muỗi gần như không đốt máu Muỗi Aedes aegypti cần đốt máu từ người và động vật để sinh tồn Chúng đẻ trứng riêng lẻ trong các thùng chứa nước ẩm, phía trên mực nước của các dụng cụ chứa nước Trứng sẽ nở khi bị ngập nước tự nhiên (do mưa) hoặc nhân tạo (do con người đổ nước vào để dự trữ), nhưng không phải tất cả trứng sẽ nở cùng một lúc.

Khả năng chịu đựng khô hạn của trứng phụ thuộc vào khí hậu và điều kiện tự nhiên, với khả năng duy trì sự sống lên đến 1 năm trong môi trường khô hạn Vì vậy, mùa mưa tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của muỗi.

Muỗi phát triển qua 4 giai đoạn, với thời gian phát triển phụ thuộc vào nhiệt độ, nguồn thức ăn và mật độ bọ gậy Trong điều kiện tối ưu, từ trứng đến muỗi trưởng thành mất khoảng 7 ngày, nhưng ở nhiệt độ thấp, quá trình này có thể kéo dài vài tuần Muỗi Aedes cái giao phối và hút máu lần đầu sau khoảng 48 giờ nở, và trong lần đẻ đầu tiên, chúng sản xuất từ 60 đến 100 trứng Ở nhiệt độ 20°C và độ ẩm 85%, chu kỳ phát triển của muỗi là 10 - 15 ngày, trong khi nhiệt độ dưới 20°C có thể kéo dài chu kỳ trên 20 ngày Muỗi cái chủ yếu hút máu vào buổi sáng sớm và chiều tối, sau đó trú ẩn trong nhà, và thời gian hoạt động chính của chúng là vào ban ngày.

Muỗi có tỷ lệ hoạt động cao nhất vào khoảng 7 - 8 giờ sáng với 24% và 17 - 18 giờ chiều với 29% Thời gian hoạt động thấp nhất của muỗi là từ 11 - 13 giờ và sau 20 giờ đến khuya Trong các khung giờ còn lại trong ngày, tỷ lệ hoạt động của muỗi dao động từ 10 - 17%.

Sau khi hút máu người bệnh, muỗi Aedes aegypti có thể ngay lập tức truyền bệnh, hoặc nếu không có cơ hội, virus sẽ tiếp tục phát triển trong ống tiêu hóa và tuyến nước bọt của chúng trong khoảng 8 - 10 ngày Các ổ chứa bọ gậy chủ yếu là những vật chứa nước sạch như lu vại, hồ do con người tạo ra, trong đó gần một nửa không có nắp đậy Những vật chứa có nắp cũng thường không kín và không được sử dụng thường xuyên Đặc biệt vào mùa mưa, nhiều vật chứa nước được mở nắp để hứng nước dự trữ, làm giảm tỷ lệ vật chứa có nắp, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho muỗi Aedes aegypti đẻ trứng và phát triển.

Muỗi Aedes aegypti phân bố rộng rãi, chủ yếu sống ở những khu vực đông dân cư như thành phố, thị trấn và vùng nông thôn, nơi có điều kiện thuận lợi cho sự sinh sản Chúng thích ẩn nấp trong bóng tối và ẩm ướt, thường trú ngụ trong các không gian kín như nhà ở và tòa nhà Nơi nghỉ ngơi phổ biến của muỗi Aedes aegypti là các mắc dây phơi quần áo và chăn màn, chiếm tới 80,54%, trong khi một tỷ lệ nhỏ đậu trên bình bông và các đồ nội thất khác Khoảng cách bay trung bình của chúng chỉ khoảng 50 mét, tối đa là 100 mét từ nơi sinh sản, nhưng một số nghiên cứu ở Puerto Rico cho thấy chúng có thể bay xa hơn 400 mét Ngoài ra, nhờ vào các phương tiện giao thông, muỗi Aedes aegypti có khả năng di chuyển xa để tìm kiếm thức ăn và nơi đẻ trứng.

Tác nhân gây bệnh

Virus Dengue truyền bệnh từ người bệnh sang người lành qua muỗi Aedes đốt Virus là loại ARN virus, có 4 type huyết thanh: DEN – 1, DEN – 2 DEN –

3 và DEN – 4 Nếu một người đã nhiễm với chủng virus nào thì chỉ có khả năng

14 tạo được miễn dịch suốt đời với chủng virus đó Do vậy, mỗi người có thể sẽ mắc sốt xuất huyết 4 lần trong đời (Gary G Clark và ctv, 2004).

Đặc điểm lâm sàng của bệnh sốt xuất huyết Dengue

Theo hướng dẫn của WHO khi nhiễm virus Dengue, trên lâm sàng bệnh biểu hiện dưới dạng:

Bệnh nhân có triệu chứng sốt cao đột ngột kéo dài từ 2 - 7 ngày và có ít nhất 2 trong các dấu hiệu như xuất huyết (nghiệm pháp dây thắt dương tính), chấm xuất huyết dưới da, chảy máu chân răng hoặc chảy máu cam Các triệu chứng đi kèm có thể bao gồm nhức đầu, chán ăn, buồn nôn, da xung huyết, phát ban, đau cơ, đau khớp và nhức hai hố mắt (Mohd Raili Suhaili và ctv, 2004).

2.5.2 Sốt xuất huyết Dengue có dấu hiệu cảnh báo

Bệnh nhân SXHD thường xuất hiện các dấu hiệu cảnh báo như vật vã, lừ đừ, li bì, đau bụng ở vùng gan hoặc khi ấn vào vùng gan có cảm giác đau Ngoài ra, gan có thể to hơn 2 cm, bệnh nhân có thể nôn ói nhiều, xuất huyết niêm mạc và tiểu ít.

2.5.3 Sốt xuất huyết Dengue nặng

Bệnh nhân gặp tình trạng thoát huyết tương nặng, gây sốc giảm thể tích và ứ dịch ở khoang màng phổi cùng ổ bụng Xuất huyết trở nên nghiêm trọng hơn, đi kèm với dấu hiệu suy gan, suy thận cấp và suy giảm một số chức năng khác.

chi phí sức khỏe

Phân tích chi phí do mắc bệnh là một kỹ thuật đánh giá kinh tế quan trọng trong lĩnh vực y tế, bắt đầu từ những năm 1920 và phát triển mạnh mẽ từ thập kỷ 1960 Mục tiêu chính của phương pháp này là đánh giá gánh nặng bệnh tật đối với xã hội thông qua việc phân tích nguồn lực sử dụng cho chăm sóc sức khỏe và sự mất mát trong khả năng sản xuất Kỹ thuật này giả định rằng chi phí kinh tế phát sinh từ bệnh tật có thể được xem là lợi ích kinh tế từ các can thiệp y tế nhằm loại trừ bệnh tật (Bộ Y tế, 2011).

Phương pháp phân tích chi phí do bệnh tật nhằm xác định các khoản mục và định giá trị của chúng, từ đó tính tổng chi phí cho một vấn đề sức khoẻ cụ thể, giúp làm rõ gánh nặng kinh tế của vấn đề đó Phân tích này nhấn mạnh mức độ nghiêm trọng của các vấn đề sức khoẻ khác nhau, cho phép so sánh trong bối cảnh quốc gia hoặc giữa các nước Trong lĩnh vực Y tế công cộng, các vấn đề sức khoẻ thường được đo lường qua tỷ lệ mới mắc, tỷ lệ hiện mắc, tỷ lệ tử vong và các chi phí liên quan Mặc dù không phải là phương pháp đánh giá kinh tế toàn diện, nhưng chi phí do bệnh tật cung cấp thông tin quan trọng cho việc phân bổ nguồn lực.

Các nghiên cứu về chi phí điều trị Dengue

Các nghiên cứu trước đây về chi phí điều trị dengue chủ yếu dựa vào phương pháp phỏng vấn bệnh nhân sau khi họ đã hồi phục từ 1-2 tháng (Okanurak K và ctv, 1997) Tuy nhiên, phương pháp này thường không thu thập đầy đủ thông tin về chi phí điều trị.

Trong điều trị bệnh dengue, có 16 phương pháp điều trị trực tiếp và gián tiếp, chủ yếu dựa vào trí nhớ của bệnh nhân về chi phí tự chi trả Theo nghiên cứu, chi phí điều trị cho một ca dengue tại bệnh viện tỉnh Thái Lan năm 2001 là khoảng 44 USD, trong khi tại Campuchia năm 2006, chi phí này khoảng 40 USD cho mỗi ca nhập viện.

14 USD/ca ngoại trú (Huy R và ctv, 2009)

Mặc dù tình hình sốt xuất huyết tại Việt Nam đang trở nên nghiêm trọng, nhưng nghiên cứu về gánh nặng bệnh tật và chi phí liên quan đến dengue vẫn còn hạn chế Một đánh giá về dịch bệnh năm 1998 cho thấy người dân đã chi khoảng 2 triệu USD cho việc điều trị, tương đương 9 USD mỗi ca, trong khi nhà nước đã tiêu tốn thêm 1 triệu USD cho công tác phòng chống dịch Đáng chú ý, thu nhập quốc dân (GNI) bình quân đầu người vào thời điểm đó chỉ đạt 365 USD (Almond J và cộng sự, 2001).

Một nghiên cứu năm 2000 tại bệnh viện huyện Cai Lậy (Tiền Giang) cho thấy chi phí điều trị dengue là 148.000 đồng cho ca ngoại trú và 466.000 đồng cho ca nhập viện, chỉ bao gồm chi phí điều trị trực tiếp và gián tiếp Năm 2007, Khoa Y tế Công cộng trường Đại học Y Cần Thơ đã tiến hành nghiên cứu chi phí điều trị cho bệnh nhân dengue tại bệnh viện tỉnh Cần Thơ bằng phương pháp phỏng vấn sau khi xuất viện, và kết quả ước tính chi phí điều trị lên tới 2.798.000 đồng/ca, hoàn toàn dựa vào trí nhớ của bệnh nhân.

Chi phí phòng ngừa

Để ngăn chặn lây truyền virus Dengue, việc kiểm soát các véctơ truyền bệnh là rất quan trọng, và sự tham gia của cộng đồng là yếu tố then chốt trong công tác phòng chống sốt xuất huyết (SXH) Huy động xã hội là quá trình tập hợp sức mạnh và nỗ lực nhằm nâng cao nhận thức của người dân về phòng chống SXH, bao gồm không chỉ các hộ gia đình và dân làng mà còn cả các nhà hoạt động chính trị, chính quyền địa phương, chức sắc tôn giáo và doanh nghiệp Các biện pháp giáo dục và vận động cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao ý thức và trách nhiệm của mọi người.

Giáo dục cộng đồng có thể thay đổi tùy theo điều kiện và thái độ của từng địa phương, với nhiều phương tiện truyền thông như truyền hình, đài phát thanh, báo chí và các kênh thông tin đại chúng Ở cấp xã, phường, các phương pháp giáo dục thường được thực hiện qua việc nhân viên y tế trò chuyện tại trường học và các buổi họp địa phương, cùng với việc sử dụng áp phích và sổ tay tuyên truyền Thực tế cho thấy, phương pháp huy động nguồn lực xã hội đã được áp dụng hiệu quả trong các hoạt động phòng chống bệnh sốt xuất huyết.

Để giảm nơi sinh sản của muỗi, cần thực hiện các biện pháp vệ sinh môi trường hiệu quả, bao gồm quản lý các dụng cụ chứa nước không cần thiết, xây dựng hệ thống cấp thoát nước hợp lý và quản lý tốt các vật dụng phế thải Những biện pháp này không chỉ giúp cải thiện vệ sinh môi trường mà còn hạn chế sự phát triển của muỗi, từ đó bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

• Hướng dẫn sử dụng các biện pháp sinh học như thả cá hoặc

Mesocyclops để ăn bọ gậy nhằm làm giảm số lượng bọ gậy trong các DCCN và các vật dụng phế thải

Để bảo vệ cá nhân khỏi muỗi, bạn có thể sử dụng các biện pháp như thuốc xua muỗi, bình phun muỗi, nhang trừ muỗi, lưới chắn muỗi, rèm tẩm thuốc diệt côn trùng và ngủ mùng vào ban ngày Những biện pháp này giúp giảm thiểu nguy cơ bị muỗi đốt và bảo vệ sức khỏe hiệu quả.

Để phòng chống dịch bệnh, nhiều quốc gia thường xuyên áp dụng các biện pháp hóa học như phun không gian và phun tồn lưu thuốc diệt muỗi nhằm ngăn chặn sự phát triển của bọ gậy và tiêu diệt muỗi trưởng thành Mặc dù phương pháp này mang lại hiệu quả, nhưng chi phí thực hiện lại cao và hiệu quả có phần hạn chế.

Muỗi Aedes aegypti thường ẩn nấp trong nhà, khiến việc phun thuốc bằng xe đặc dụng hoặc phun không gian không hiệu quả với những vị trí kín như tủ quần áo Nhiều hộ gia đình từ chối cho phép phun thuốc trong nhà hoặc đóng kín cửa, làm giảm hiệu quả của biện pháp này Do đó, cần thu hút sự quan tâm và ý thức trách nhiệm của toàn xã hội, các cấp chính quyền và cộng đồng để mọi người tự giác tham gia cải thiện môi trường sống.

18 trường, kiểm soát các vật chứa không để cho Aedes aegypti có nơi sinh sản và phát triển là biện pháp hiệu quả nhất (Will Parks và Linda Lloyd, 2007)

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng huy động xã hội và truyền thông thay đổi hành vi mang lại lợi ích đáng kể cho chương trình PCSXH, bao gồm giảm lây lan SXHD trong dịch bệnh, giảm tải cho các cơ sở y tế, và hạn chế tình trạng nhiễm virus Dengue tái phát Cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong việc ứng phó nhanh chóng với dịch bùng phát, đồng thời cải thiện điều kiện y tế môi trường Các biện pháp huy động cộng đồng đã chứng minh hiệu quả trong phòng chống SXHD với nhiều kết quả thành công.

Việc cung cấp kiến thức phòng bệnh cho học sinh là rất quan trọng, giúp các em tự bảo vệ và truyền thông cho cộng đồng, đặc biệt là gia đình Một nghiên cứu tại Bucaramanga, Colombia đã triển khai chương trình phòng bệnh tại các trường trung học, yêu cầu học sinh tham gia các hoạt động cộng đồng trước khi tốt nghiệp Chương trình phòng chống sốt xuất huyết (SXHD) được tích hợp vào môn Sinh học, giúp học sinh hiểu về Aedes aegypti và cách phòng ngừa Kết quả sau 6 năm cho thấy 88% giáo viên và 77% học sinh đã nắm vững kiến thức phòng bệnh, chỉ số HI giảm từ 18% năm 1998 xuống còn 5% năm 2003 Trong suốt 10 năm từ 1992 đến 2001, số lượng nhà có bọ gậy Aedes aegypti đã giảm đều đặn, mặc dù có lúc tăng nhẹ.

Chương trình Phòng Chống SXH khu vực phía Nam đã nghiên cứu và triển khai nhiều phương pháp diệt bọ gậy, nguyên nhân gây ra bệnh sốt xuất huyết Một trong những phương pháp thử nghiệm là sử dụng các sinh vật có khả năng gây hại lẫn nhau hoặc gây bệnh cho các sinh vật khác, bao gồm côn trùng, virus, vi khuẩn, sinh vật đơn bào, nấm và giun.

Phương pháp thả cá ăn bọ gậy đã được áp dụng thành công tại các tỉnh Tiền Giang, TP HCM, Long An và Hậu Giang, mang lại hiệu quả cao trong việc kiểm soát bọ gậy Cá bảy màu, với kích thước dưới 5 cm, dễ nuôi, sinh sản nhanh và ít ảnh hưởng đến môi trường nước, là lựa chọn lý tưởng cho phương pháp này Loài cá này phổ biến ở miền Nam Việt Nam và có khả năng diệt bọ gậy rất hiệu quả Kết quả thực nghiệm cho thấy, sau khi thả cá, chỉ số muỗi và bọ gậy giảm nhanh chóng, đặc biệt bọ gậy giảm 100% sau 3 tuần Sau 2 năm triển khai dự án, số ca bệnh sốt xuất huyết tại xã Phước Đông và xã Tân Bình đã giảm đáng kể, từ 14 ca xuống không còn ca nào và từ 24 ca xuống chỉ còn 10 ca.

Mô hình thả cá tại xã Thanh Nhựt, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang đã chứng minh hiệu quả cao trong công tác phòng chống sốt xuất huyết (SXH), đặc biệt tại khu vực thường xuyên có ca mắc bệnh Sự thành công của mô hình này đến từ sự phối hợp chặt chẽ giữa Trạm Y tế xã và cộng đồng, trong đó các cơ sở y tế đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục sức khỏe cho người dân Thông qua các buổi vãng gia và họp tổ, cộng đồng đã được thuyết phục chấp nhận việc thả cá vào lu nước uống, góp phần giảm thiểu nguy cơ bùng phát dịch SXH.

Chi phí điều trị

Chi phí mà bệnh nhân phải chịu bao gồm tiền điều trị, chi phí di chuyển đến bệnh viện, ăn uống, thu nhập mất đi do nằm viện, và chi phí cho người đi cùng Những khoản chi này được phân loại thành chi phí trực tiếp và gián tiếp.

20 chi phí gián tiếp cho điều trị, chi phí trực tiếp và gián tiếp không do điều trị (Hanson Kara and Gilson Lucy, 1996)

Chi phí trực tiếp cho điều trị bao gồm các khoản chi liên quan trực tiếp đến việc chăm sóc sức khỏe, như chi phí điều trị, chăm sóc và phục hồi chức năng.

Loại chi phí Cách tính toán

Tiền khám ngoài bệnh viện

Tổng chi phí bệnh nhân đã trả cho khám bệnh, thuốc

Tiền khám ngoại trú số lần khám x đơn giá

Viện phí Số ngày nằm viện x đơn giá của từng khoa

Tiền xét nghiệm Số lần xét nghiệm x đơn giá mỗi loại xét nghiệm Tiền thuốc Số lượng thuốc sử dụng x đơn giá mỗi loại thuốc

Phí trực tiếp cho điều trị =chi phí khám bệnh+ chi phí cho nằm viện+ chi phí cho thuốc+ chi phí cho xét nghiệm

Hình 4: Thu viện phí hàng năm ở bệnh viện Chợ Rẫy

NSNN chi TX Vien phi BHYT

NN dau tu Vien tro

Chi phí trực tiếp không do điều trị, hay còn gọi là chi phí phi y tế, là những khoản chi không liên quan đến việc khám chữa bệnh nhưng lại có ảnh hưởng đến quá trình khám và điều trị.

• Tiền ăn: tổng tiền ăn của bệnh nhân và người chăm sóc bệnh trong thời gian nằm viện

• Tiền ở: tiền thuê nhà hoặc giường ngủ/chiếu ngủ/ghế bố của người chăm sóc bệnh trong thời gian bệnh nhân nằm viện

Tiền đi lại được tính cho tất cả các chuyến đi từ nhà đến cơ sở khám chữa bệnh của bệnh nhân và người chăm sóc trong suốt thời gian điều trị Chi phí này sẽ được tính dựa trên loại phương tiện giao thông mà bệnh nhân hoặc người chăm sóc sử dụng.

Bằng phương tiện công cộng (xe buýt, taxi, xe ôm, phà, đò)

Để tính toán chi phí di chuyển bằng phương tiện cá nhân như xe đạp, xe máy, xe hơi hay ghe xuồng, bạn cần xác định số kilomet di chuyển trong mỗi lượt, sau đó nhân với số lượt di chuyển trong một ngày, số ngày sử dụng và mức chi phí cho mỗi kilomet.

= tiền nhiên liệu + tiền khấu hao phương tiện)

Tổng chi phí trực tiếp không cho điều trị = chi phí đi lại + chi phí ăn uống + chi phí khác

Chi phí trực tiếp không chi trả liên quan đến khả năng sản xuất bị mất do bệnh tật, ảnh hưởng đến bệnh nhân, gia đình, xã hội và cả người sử dụng lao động Những chi phí này phản ánh giá trị của việc mất khả năng sản xuất do nghỉ việc, mất khả năng vận động và tử vong sớm liên quan đến bệnh và điều trị bệnh.

• Thu nhập bị mất = thu nhập năm/365 ngày x số ngày nghỉ việc do bệnh

Thu nhập bị mất chỉ được tính cho bệnh nhân, người chăm sóc bệnh nhân đang có việc làm và phải nghỉ việc trong đợt bệnh

Cách tính thu nhập năm

• Người có thu nhập ngày: thu nhập ngày x 365 ngày

• Người có thu nhập hàng tháng: thu nhập tháng x 12 tháng

• Người có thu nhập năm: thu nhập năm x 12 /số tháng làm việc trong năm

• Tiền thuê người chăm sóc và/hoặc tiền thuê người phụ giúp gia đình trong suốt đợt bệnh.

Chi phí không rõ ràng

Chi phí do bệnh tật thường bao gồm những tác động tiêu cực như đau đớn, lo lắng, giảm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân và gia đình, cùng với thời gian nghỉ ngơi bị mất Những chi phí này thường bị bỏ qua trong các đánh giá kinh tế về gánh nặng bệnh tật vì tính chủ quan cao, khiến việc quy đổi chúng sang tiền tệ trở nên khó khăn Công thức tính tổng chi phí do mắc bệnh (COI) giúp xác định những chi phí này một cách rõ ràng hơn.

Chi phí cơ hội trong lĩnh vực sức khỏe bao gồm chi phí chăm sóc y tế, khả năng lao động bị mất trong thời gian bệnh tật (chi phí gián tiếp) và chi phí liên quan đến đau đớn cũng như phục hồi chức năng (chi phí không rõ ràng) (Tarricone R., 2006).

Công thức tính tổng chi phí để chữa các bệnh do một yếu tố nào đó:

Công thức tính chi phí chữa bệnh i:

: tỉ lệ bị mắc bệnh i pop: số dân của vùng tiến hành nghiên cứu

: tỉ lệ mắc bệnh i do biến đổi khí hậu (bệnh sốt xuất huyết)

: chi phí để chữa bệnh i Ngoài ra, ta còn phải tính cả tổn thất do nghỉ ốm, không đi làm được:

Công thức tính tổng phí tổn do những ngày bị bệnh (người bị ốm sẽ phải nghỉ làm)

Công thức tính phí tổn do bệnh i:

: tỉ lệ bị mắc bệnh i pop: số dân của vùng tiến hành nghiên cứu

: tỉ lệ mắc bệnh i do ô nhiễm môi trường

: số ngày không đi làm được do mắc bệnh i ptime: tổn thất kinh tế (tính theo thu nhập mỗi ngày của người bị bệnh)

1 Aitken S.R., Frost D.B và Leigh C.H., 1980 Dengue haemorrhagic fever and rainfall in peninsular Malaysia: some suggested relationships,

2 Almond J et al Accelerating the development and introduction of a dengue vaccine for poor children 5-8 December 2001, Ho Chi Minh

3 Atul A Khasnis và Mary D Nettlemen, 2005 Global Warming and

Infection disease, Archives of Medical Research 36(6): pp 689-696

4 Bộ Y tế, 2006 Niên giám thống kê các bệnh truyền nhiễm 2006:pp 43-

5 Bộ Y tế, 2010 Niên giám thống kê các bệnh truyền nhiễm năm 2010:pp

6 Bộ Y tế, 2011 Kế hoạch hoạt động kinh phí năm 2011, Dự án phòng chống sốt xuất huyết:pp 55-57

7 Bộ Y tế, 2012 Niên giám thống kê các bệnh truyền nhiễm năm 2012:pp

8 Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008 Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với Biến đổi khí hậu Hà Nội: pp 9-15

9 Brian H Kay, Tran Thi Tuyet Hanh, Nguyen Hoang Le, Tran Minh Quy,

In 2010, Vu Sinh Nam, Phan V.D Hang, Nguyen Thi Yen, Peter S Hill, Theo Vos, and Peter A Ryan conducted a study on the sustainability and cost-effectiveness of a community-based strategy to combat Aedes aegypti in Northern and Central Vietnam Their research highlights the importance of community involvement in sustainable pest control measures, emphasizing the potential for long-term benefits in public health and environmental preservation The findings suggest that integrating local resources and knowledge can enhance the effectiveness of vector control programs while minimizing costs.

The American Society of Tropical Medicine and Hygiene Vol 82(5):pp

10 Eduardo Fernández, Mercedes Martinez và Catalina Sherman, 2004

Social Mobilization for Dengue Control in Honduras, Dengue Bulletin (WHO) Vol 28(Supplement):pp 30-34

11 Ephantus J Muturi, Millon Blackshear Jr và Allison Montgomery, 2012

Temperature and density-dependent effects of larval environment on Aedes aegypti competence for an alphavirus, Journal of Vector Ecology Vol 37(1):pp 154-161

12 Gary G Clark, Duane J Gubler, Hilda Seda và Carmen Perez, 2004

Development of Pilot Programmes for Dengue Prevention in Puerto Rico: A case study, Dengue Bulletin (WHO) Vol 28(Supplement):pp

13 Halstead S.B Dengue, Current Opinion in Infectious Diseases 2002;15: pp 471

14 Halstead S.B., Suaya J.A và Shepard D.S The burden of dengue infection The Lancet 2007:pp 68-72

15 Hanson Kara và Gilson Lucy, 1996 Cost, Resource use and financing methodology for district health services A practical Manual Second ed., UNICEF:pp 85

16 Huy R et al Cost of dengue and other febrile illnesses to households in rural Cambodia: aprospective community-based case-control study

17 Jan C Semenza và Bettina Menne, 2009 Climate change and infectious diseases in Europe, The Lancet Infectious Diseases 9(6):pp 365-368

18 Jorge E Luna, Ivan Chain, Jackeline Hernandez, Gary G.Clark, Adriana

Bueno, Rafael Escalante, Sonia Angarita và Adriana Martinez, 2004 Social Mobilization Using Strategies of Education and Communication to Prevent Dengue Fever in Bucaramanga, Colombia, Dengue Bulletin (Supplement) Vol 28(3): pp 17-21

19 Lê Huy Bá, Nguyễn Thi Phú và Nguyễn Đức An, 2009 Môi trường khí hậu thay đổi– Mối hiểm hoạ của toàn cầu Nxb ĐHQG TP HCM: pp

20 Mc Michael A.J., Campbell-Lendrum D.H., Corvalan C.F., Ebi K.L.,

Githelo A., Scheraga J.D và Woodward A., 2003 Climate change and hum man health - Risk and Responses Geneva

21 Michael B Nathan, Linda Lloyd và Annette Wiltshire, 2004 Community

Participation in Environmental Management for Dengue Vector Control: Experiences from the English-speaking Caribbean, Dengue Bulletin (WHO) Vol 28(Supplement):pp 13-16

22 Mohd Raili Suhaili, Everold Hosein, Zuraidah Mokhtar và Nyamah Ali,

2004 Applying Commmunication-for-Behavioural-Impact (COMBI) in the Prevention and Control of Dengue in Johor Bahru, Johore, Malaysia, Dengue Bulletin (WHO) Vol 28(Supplement):pp 39-43

23 Nguyễn Hữu Chí, 1997 Sốt xuất huyết Dengue-Bệnh truyền nhiễm Nhà xuất bản Y học, pp 305-320

24 Nguyễn Thị Kim Tiến, Lương Chấn Quang, Nguyễn Trọng Toàn, Nguyễn

Ngọc Anh Tuấn và Khâu Minh Tuấn (2000) đã thực hiện một nghiên cứu phân tích các đặc điểm dịch tễ liên quan đến các ca tử vong do bệnh sốt xuất huyết Dengue tại khu vực phía Nam, trình bày chi tiết trong các trang 81-92 Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình dịch bệnh và các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ tử vong.

25 Okanurak K., Sornmani S và Indaratna K The cost of dengue hemorrhagic fever in Thailand Southeast Asian J Trop Med Public Health 1997;28: pp 7-11

26 Shope R.E., 1991 Globa climate change infections diseases,

Environmental Health Prospectives Vol 96:pp 171- 174

27 Tarricone R., 2006 Cost of illness analysis, what room in health economic Health Policy, 77, pp.51-63

28 Tổ chức Y tế thế giới khu vực Tây Thái Bình Dương, 2002 Hướng dẫn giám sát Dengue và phòng chống véc tơ NXB Y học, Hà Nội, pp 5-

29 Trần Đắc Phu, 2001 Đặc điểm chủ yếu của bệnh sốt Dengue/ sốt xuất huyết Dengue lưu hành tại Nam Hà và nghiên cứu sử dụng

Mesocyclops trong việc phòng trừ véc tơ trên thực địa nhỏ Luận án tiến sĩ Y học, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương: pp 5-21

30 Trương Uyên Ninh, 1997 Giám sát bệnh sốt xuất huyết Dengue tại một số tỉnh thành miền Bắc Việt Nam 1990 – 1996, Tạp chí vệ sinh phòng dịch Vol 7(1): pp 44-48

31 Trần Văn Tiến, Trịnh Quân Huấn, Vũ Sinh Nam, Nguyễn Thị Kim

Tiến, Đỗ Quang Hà và Trương Uyên Ninh, 2000 Tình hình bệnh SD/SXHD ở Việt Nam, Hội nghị Quốc tế về sốt rét và các bệnh nhiệt đới pp 157

32 UNFCCC, 1992 Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu: pp 52-67

33 Will Parks và Linda Lloyd, 2007 Hướng dẫn lập kế hoạch truyền thông và huy động cộng đồng phòng chống sốt xuất huyết WHO, Geneva: pp

34 W.J Parks, L.S Lioyd, M.B Nathan, E Hosein và A Odugleh, 2004

International Experiences in Social Mobilization and Communication for Dengue Prevention and Control, Dengue Bulletin (WHO) Vol

35 Woodruff R.E., C.S Guest et al, 2002 Predicting Ross River virus epidemics from regional weather data Epidemiology 13 (4): pp 83-93

MA TRẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngày đăng: 18/10/2021, 18:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aitken S.R., Frost D.B. và Leigh C.H., 1980. Dengue haemorrhagic fever and rainfall in peninsular Malaysia: some suggested relationships, Social Science & Medicine. 14D: pp. 307-316 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Social Science & Medicine
2. Almond J. et al. Accelerating the development and introduction of a dengue vaccine for poor children. 5-8 December 2001, Ho Chi Minh City, VietNam. Vaccine 2002;20:pp. 30-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Accelerating the development and introduction of a dengue vaccine for poor children
3. Atul A. Khasnis và Mary D. Nettlemen, 2005. Global Warming and Infection disease, Archives of Medical Research. 36(6): pp. 689-696 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Archives of Medical Research
4. Bộ Y tế, 2006. Niên giám thống kê các bệnh truyền nhiễm 2006:pp. 43- 50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê các bệnh truyền nhiễm 2006
5. Bộ Y tế, 2010. Niên giám thống kê các bệnh truyền nhiễm năm 2010:pp. 77-85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê các bệnh truyền nhiễm năm 2010
6. Bộ Y tế, 2011. Kế hoạch hoạt động kinh phí năm 2011, Dự án phòng chống sốt xuất huyết:pp. 55-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch hoạt động kinh phí năm 2011
7. Bộ Y tế, 2012. Niên giám thống kê các bệnh truyền nhiễm năm 2012:pp. 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê các bệnh truyền nhiễm năm 2012
8. Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008. Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với Biến đổi khí hậu. Hà Nội: pp. 9-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với Biến đổi khí hậu
10. Eduardo Fernández, Mercedes Martinez và Catalina Sherman, 2004. Social Mobilization for Dengue Control in Honduras, Dengue Bulletin (WHO). Vol 28(Supplement):pp. 30-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dengue Bulletin (WHO)
12. Gary G. Clark, Duane J. Gubler, Hilda Seda và Carmen Perez, 2004. Development of Pilot Programmes for Dengue Prevention in Puerto Rico: A case study, Dengue Bulletin (WHO). Vol 28(Supplement):pp.48-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dengue Bulletin (WHO)
13. Halstead S.B.. Dengue, Current Opinion in Infectious Diseases 2002;15: pp. 471 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Current Opinion in Infectious Diseases 2002
14. Halstead S.B., Suaya J.A. và Shepard D.S.. The burden of dengue infection. The Lancet 2007:pp. 68-72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The burden of dengue infection. The Lancet 2007
15. Hanson Kara và Gilson Lucy, 1996. Cost, Resource use and financing methodology for district health services. A practical Manual. Second ed., UNICEF:pp. 85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cost, Resource use and financing methodology for district health services
16. Huy R. et al. Cost of dengue and other febrile illnesses to households in rural Cambodia: aprospective community-based case-control study.BMC.Public Health 2009;9:pp. 155 Sách, tạp chí
Tiêu đề: aprospective community-based case-control study
17. Jan C. Semenza và Bettina Menne, 2009. Climate change and infectious diseases in Europe, The Lancet Infectious Diseases. 9(6):pp. 365-368 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Lancet Infectious Diseases
18. Jorge E. Luna, Ivan Chain, Jackeline Hernandez, Gary G.Clark, Adriana Bueno, Rafael Escalante, Sonia Angarita và Adriana Martinez, 2004.Social Mobilization Using Strategies of Education and Communication to Prevent Dengue Fever in Bucaramanga, Colombia, Dengue Bulletin (Supplement). Vol 28(3): pp. 17-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dengue Bulletin (Supplement)
19. Lê Huy Bá, Nguyễn Thi Phú và Nguyễn Đức An, 2009. Môi trường khí hậu thay đổi– Mối hiểm hoạ của toàn cầu. Nxb ĐHQG TP. HCM: pp.15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường khí hậu thay đổi– Mối hiểm hoạ của toàn cầu
Nhà XB: Nxb ĐHQG TP. HCM: pp. 15
21. Michael B. Nathan, Linda Lloyd và Annette Wiltshire, 2004. Community Participation in Environmental Management for Dengue Vector Control: Experiences from the English-speaking Caribbean, Dengue Bulletin (WHO). Vol 28(Supplement):pp. 13-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dengue Bulletin (WHO)
22. Mohd Raili Suhaili, Everold Hosein, Zuraidah Mokhtar và Nyamah Ali, 2004. Applying Commmunication-for-Behavioural-Impact (COMBI) in the Prevention and Control of Dengue in Johor Bahru, Johore, Malaysia, Dengue Bulletin (WHO). Vol 28(Supplement):pp. 39-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dengue Bulletin (WHO)
23. Nguyễn Hữu Chí, 1997. Sốt xuất huyết Dengue-Bệnh truyền nhiễm. Nhà xuất bản Y học, pp. 305-320 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sốt xuất huyết Dengue-Bệnh truyền nhiễm
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Tình hình mắc và chết do SXH ở Việt Nam từ năm 2000-2012 - CHI PHÍ SỨC KHỎE DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Hình 1 Tình hình mắc và chết do SXH ở Việt Nam từ năm 2000-2012 (Trang 14)
Hình 2:  Phân bố ca mắc SXH theo vùng miền - CHI PHÍ SỨC KHỎE DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Hình 2 Phân bố ca mắc SXH theo vùng miền (Trang 15)
Hình 3. Chu trình lây nhiễm virút dengue - CHI PHÍ SỨC KHỎE DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Hình 3. Chu trình lây nhiễm virút dengue (Trang 16)
Hình 4: Thu viện phí hàng năm ở bệnh viện Chợ Rẫy - CHI PHÍ SỨC KHỎE DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Hình 4 Thu viện phí hàng năm ở bệnh viện Chợ Rẫy (Trang 25)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w