1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Quản lý phát triển làng nghề trên địa bàn Hà Nội

47 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 142,28 KB

Cấu trúc

  • LỜI CẢM ƠN

  • LỜI CAM ĐOAN

  • MỤC LỤC

  • DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

  • DANH MỤC BẢNG

  • DANH MỤC BIỂU ĐỒ

  • PHẦN MỞ ĐẦU

  • 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

  • 2. Mục đích nghiên cứu

  • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • 4. Phương pháp nghiên cứu

  • 5. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

  • CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN

  • LÀNG NGHỀ

  • 1.1. Một số khái niệm cơ bản về quản lý phát triển làng nghề

  • 1.1.1. Quản lý nhà nước

  • 1.1.2. Làng nghề

  • 1.2. Vai trò quản lý nhà nước về phát triển làng nghề

  • CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI TRONG THỜI GIAN QUA

  • 2.1. Một số nét khái quát về quản lý phát triển làng nghề trên địa bàn Hà Nội trong thời gian qua

  • 2.1.1.Hiện trạng phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn Hà Nội thời gian qua

  • 2.2. Thực trạng quản lý phát triển làng nghề trên địa bàn Hà Nội

  • 2.2.1. Thực trạng công tác xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển làng nghề trên địa bàn Hà Nội

  • 2.2.2. Thực trạng công tác quy hoạch phát triển làng nghề trên địa bàn Hà Nội

  • 2.2.3. Thực trạng tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực cho phát triển làng nghề trên địa bàn Hà Nội

  • 2.2.4.Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo vệ sinh môi trường và trật tự an toàn xã hội tại các làng nghề

  • 2.2.5. Công tác quản lý, tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra hoạt động phát triển tại các làng nghề.

  • 2.3. Đánh giá chung

  • 2.3.1. Ưu điểm và nguyên nhân

  • 2.3.2. Tồn tại và nguyên nhân

  • 2.3.3. Những vấn đề đặt ra cần tập trung giải quyết

  • CHƯƠNG III: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI TRONG THỜI GIAN TỚI

  • 3.1.Mục tiêu, quan điểm, phương hướng tăng cường quản lý nhà nước đối với phát triển làng nghề trên địa bàn Hà Nội

  • 3.1.1. Mục tiêu tổng quát

  • 3.1.2. Mục tiêu cụ thể

  • 3.1.3. Chỉ tiêu cụ thể

  • 3.1.4. Quan điểm, phương hướng

  • 3.2. Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước đối với phát triển làng nghề trên địa bàn Hà Nội trong giai đoạn hiện nay

  • 3.2.1. Về cơ chế chính sách, quản lí nhà nước

  • 3.2.2. Về nhóm các yếu tố đầu vào

  • 3.2.3. Về thị trường: thị trường tiêu thụ sản phẩm, phát triển hệ thống du lịch làng nghề.

  • 3.2.4. Giải pháp về thiết kế, mẫu mã mã sản phẩm.

  • 3.2.5. Về việc bảo vệ môi trường tại các làng nghề.

  • 3.2.6. Giải pháp về phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hợp tác xã, Hiệp hội, Câu lạc bộ.

  • 3.3. Một số kiến nghị chủ yếu để tăng cường quản lý nhà nước đối với phát triển du lịch làng nghề

  • 3.3.1. Kiến nghị với chính phủ

  • 3.3.2. Kiến nghị với các bộ, ban ngành

  • 3.3.3. Kiến nghị đối với chính quyền địa phương các làng nghề

  • KẾT LUẬN

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trong bối cảnh hội nhập và mở cửa hiện nay, làng nghề truyền thống đang khôi phục vai trò quan trọng trong kinh tế, văn hóa và xã hội của các dân tộc Những làng nghề này không chỉ mang đậm bản sắc văn hóa mà còn khẳng định sự độc đáo và riêng biệt, góp phần giới thiệu sinh động về đất, nước và con người của từng vùng miền.

Trong những năm gần đây, các làng nghề tại Thành phố Hà Nội đã có sự đổi mới và đạt được nhiều thành tựu đáng kể Tính đến năm 2010, Hà Nội có 1.350 làng có nghề, chiếm 58,8% tổng số làng trong thành phố, trong đó 274 làng nghề đã được công nhận và 244 làng nghề truyền thống Sự hình thành và phát triển của các nghề, làng nghề truyền thống gắn liền với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

CN - TTCN ở nông thôn đã đóng góp tích cực vào công nghiệp hoá nông nghiệp, nâng cao đời sống người lao động, tạo việc làm ổn định và tăng thu nhập, đồng thời giảm sự khác biệt giữa thành phố và nông thôn Sự phát triển này cũng giúp giữ vững trật tự an ninh xã hội, giảm tỷ lệ hộ nghèo và thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương, hạn chế di dân tự do và bảo tồn giá trị văn hoá truyền thống Để phát huy thế mạnh của nghề và làng nghề, cần phát triển bền vững, tạo ra sản phẩm văn hoá độc đáo, sử dụng lao động tại chỗ, kết hợp phát triển làng nghề với du lịch, và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp Điều này đòi hỏi có những nhận định đúng đắn về hiện trạng phát triển và kế hoạch rõ ràng cho các làng nghề.

Trong những năm gần đây, nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện về phát triển làng nghề, một nhiệm vụ quan trọng trong bối cảnh Việt Nam hội nhập toàn diện với thế giới Các nghiên cứu này tập trung vào phát triển sản phẩm truyền thống và đề xuất giải pháp cho từng địa phương cụ thể, nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của các làng nghề.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi phân tích quản lý phát triển làng nghề, bao gồm thành công và khó khăn trong các lĩnh vực như quy hoạch, đầu tư, chính sách, quản lý nhân sự, môi trường, và an ninh trật tự Chúng tôi cũng đề xuất các giải pháp khả thi nhằm đổi mới quản lý phát triển làng nghề tại Hà Nội trong bối cảnh hiện nay Với tính cấp thiết của vấn đề, đề tài “Quản lý phát triển làng nghề trên địa bàn Hà Nội” được lựa chọn để nghiên cứu sâu hơn.

Mục đích nghiên cứu

Để tăng cường quản lý nhà nước về phát triển làng nghề tại Hà Nội, cần đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Những nhiệm vụ quan trọng bao gồm việc xây dựng chính sách hỗ trợ, tăng cường đào tạo nghề cho lao động địa phương, và phát triển hạ tầng cơ sở vật chất cho các làng nghề Đồng thời, cần thúc đẩy quảng bá sản phẩm và kết nối thị trường để nâng cao giá trị hàng hóa của làng nghề.

- Hệ thống hóa chọn lọc và phân tích một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước với phát triển làng nghề.

- Phân tích đánh giá thực trạng quản lý phát triển làng nghề trên địa bàn Hà Nội sau đó chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân.

Để nâng cao hiệu quả quản lý phát triển làng nghề tại Hà Nội, cần đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế và xã hội của thủ đô trong thời gian tới Những giải pháp này sẽ góp phần quan trọng vào việc đạt được mục tiêu phát triển bền vững và nâng cao đời sống của cư dân địa phương.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này áp dụng các phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp và thứ cấp, cùng với các kỹ thuật phân tích và xử lý dữ liệu như so sánh, thống kê, diễn giải, và sử dụng phần mềm hỗ trợ, bao gồm cả biểu đồ và một số phương pháp khác.

Số liệu sơ cấp: Thu thập thông qua 250 mẫu phiếu điều tra, phỏng vấn kết hợp ở

52 làng nghề điển hình trong tổng số hơn 1000 làng nghề trên địa bàn Hà Nội.

Số liệu thứ cấp từ các công trình nghiên cứu, sách báo và tài liệu về du lịch làng nghề, đặc biệt ở Hà Nội, cùng với các báo cáo của hiệp hội làng nghề Hà Nội, cung cấp cái nhìn tổng quan về quản lý phát triển các làng nghề Những tài liệu này bao gồm luận văn, luận án và đề tài nghiên cứu, giúp nắm bắt thực trạng, kết quả và tiềm năng phát triển của các làng nghề truyền thống ở Hà Nội trong thời gian qua.

Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài “Quản lý phát triển làng nghề trên địa bàn Hà Nội” như sau:

Tác giả Phan Văn Tú (2010) trong luận văn thạc sĩ kinh tế tại Đại Học Đà Nẵng đã nghiên cứu các giải pháp nhằm phát triển làng nghề ở thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam Nghiên cứu này tập trung vào việc đề xuất những biện pháp hiệu quả để nâng cao giá trị và bền vững cho các làng nghề truyền thống trong khu vực.

Tác giả nghiên cứu các lý thuyết về làng nghề, phân loại và các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của chúng, cùng với kinh nghiệm từ một số địa phương trên cả nước Nghiên cứu thực trạng phát triển làng nghề tại Hội An cho thấy sự thiếu bền vững và hiệu quả kinh tế xã hội thấp Để khắc phục tình trạng này, cần có sự quan tâm và đầu tư từ các cơ quan nhà nước cũng như tổ chức doanh nghiệp Các phương pháp nghiên cứu bao gồm thu thập dữ liệu thực tế, thống kê và so sánh để đưa ra kết luận chính xác.

Tác giả Trần Thị Minh Nguyệt (2008) trong luận văn thạc sỹ nghiên cứu về "Quản lý nhà nước với phát triển nghề và làng nghề Hà Tây giai đoạn hiện nay" tại Trường Đại học Thương Mại đã phân tích lý thuyết về nghề truyền thống và vai trò của làng nghề đối với kinh tế, văn hóa, xã hội Nghiên cứu sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu từ báo cáo khoa học, Internet, và khảo sát thực tế để chỉ ra những thành công và hạn chế trong phát triển nghề và làng nghề Hà Tây, đồng thời nêu ra những vấn đề cần giải quyết trong tương lai.

Đề tài nghiên cứu của chúng em tập trung phân tích tình hình thực hiện các chính sách nhà nước, quy hoạch làng nghề, công tác đào tạo nghề và thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động của các làng nghề tại Hà Nội Qua đó, chúng em rút ra những thành công và hạn chế trong phát triển làng nghề ở khu vực này Hà Nội, với quy mô lớn về các làng nghề và làng nghề truyền thống, yêu cầu sự chính xác và tổng quát trong các phân tích và nghiên cứu.

6 Kết cấu bài thảo luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, Bài Thảo luận có kết cấu gồm 3 chương như sau:

Chương I: Một số vấn đề lý luận về quản lý phát triển làng nghề

Chương II: Thực trạng quản lý phát triển làng nghề trên địa bàn Hà Nội trong thời gian qua

Chương III: Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý phát triển làng nghề trên địa bàn Hà Nội trong thời gian tới.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ

Một số khái niệm cơ bản về quản lý phát triển làng nghề

Quản lý nhà nước theo nghĩa rộng là hoạt động tổ chức và điều hành của toàn bộ bộ máy nhà nước, bao gồm sự tác động và tổ chức của quyền lực nhà nước trong các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp Theo cách hiểu này, quản lý nhà nước được thực hiện trong cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ".

Quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp là quá trình tổ chức và điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, nhằm điều phối các quá trình xã hội và hành vi của con người theo pháp luật Mục tiêu của quản lý nhà nước là đạt được các yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể trong quản lý xã hội.

Quản lý nhà nước được hiểu là sự chỉ huy và điều hành thực thi quyền lực nhà nước, bao gồm các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp Mục tiêu của quản lý nhà nước là duy trì và phát triển mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật, cũng như tổ chức và điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của công dân trong việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

1.1.2 Làng nghề a Khái niệm về làng nghề Để tìm hiểu về khái niệm làng nghề, chúng ta cần chú ý đến hai yếu tố cấu tạo nên làng nghề đó là làng và nghề Làng là khu vực địa lý, không gian lãnh thổ nhất định mà tồn tại những tập hợp dân cư cùng sinh sống, sản xuất và giữa họ có mối quan hệ khăng khít với nhau Nghề là khái niệm chỉ các hoạt động sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp diễn ra tại khu vực nông thôn nơi mà lao động trong các nghề này được tách ra từ nông nghiệp với mục tiêu tăng thu nhập.

Làng nghề đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối công nghiệp và nông nghiệp, nông thôn và thành phố, cũng như giữa truyền thống và hiện đại Đây là một yếu tố then chốt trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông thôn ở Việt Nam.

Làng nghề là khái niệm tương đối, phụ thuộc vào chính sách và quy định của từng địa phương Mỗi khu vực có tiêu chí nhận dạng làng nghề khác nhau, chịu ảnh hưởng bởi sự phát triển kinh tế, xã hội và tầm quan trọng của các hoạt động ngành nghề tại địa phương.

Như vậy, trong khuôn khổ luận văn, có thể định nghĩa làng nghề như sau:

Làng nghề là những cộng đồng được hình thành từ các thôn làng, chuyên sản xuất và kinh doanh các nghề thủ công truyền thống, tách biệt khỏi nông nghiệp, mang lại nguồn thu nhập chính cho người dân Qua thời gian, các làng nghề này đã phát triển thành những nghề nổi bật, với sản phẩm tinh xảo và mang tính nghệ thuật cao, nhờ vào đội ngũ thợ thủ công chuyên nghiệp có tay nghề cao Sản phẩm của làng nghề không chỉ có giá trị mỹ nghệ mà còn trở thành hàng hóa có sức cạnh tranh trên thị trường.

Làng nghề có mối liên hệ chặt chẽ với sản xuất nông nghiệp, hình thành từ những bí quyết truyền thống của từng địa phương Sự phát triển xã hội và đô thị hóa đã dẫn đến việc thu hẹp diện tích đất canh tác, tạo ra nhu cầu việc làm ngày càng cao trong nông thôn.

Làng nghề thường hình thành qua nhiều con đường, bao gồm sự truyền nghề từ nghệ nhân đến từ nơi khác, sự sáng tạo của các cá nhân trong gia đình, chính sách khuyến khích phát triển nghề truyền thống nhằm nâng cao đời sống nông thôn, và sự ảnh hưởng từ các làng nghề lân cận.

Sự phát triển của làng nghề gắn liền với sự tiến bộ của xã hội nông thôn, thể hiện mối quan hệ chặt chẽ với nông nghiệp về lao động, thị trường, nguyên liệu và đất đai Hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu vẫn là kinh tế hộ gia đình Các sản phẩm từ làng nghề thường là vật dụng thiết yếu cho cuộc sống hàng ngày, bao gồm thực phẩm nông sản, sản phẩm mây tre đan, thêu, dệt và chạm khắc, mang đậm bản sắc văn hóa và mỹ thuật của từng địa phương.

Nguyên liệu sản xuất tại các làng nghề thường được lấy từ nguồn tài nguyên sẵn có trong nông thôn, chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp, giúp tận dụng tiềm năng địa phương một cách hiệu quả và tiết kiệm Điều này không chỉ kết hợp sản xuất nông nghiệp với phi nông nghiệp mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững của làng nghề Công nghệ sản xuất chủ yếu là thủ công và mang tính đơn chiếc, mặc dù nhiều làng nghề đã đổi mới công nghệ, nhưng vẫn phụ thuộc vào sự khéo léo và sáng tạo của người thợ lành nghề.

Thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ các làng nghề không chỉ giới hạn trong nước mà còn được ưa chuộng trên toàn cầu Mặc dù nhu cầu về vốn ở các làng nghề không quá lớn, nhưng chúng đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút lao động, giải quyết việc làm trong thời gian nông nhàn và mang lại tiềm năng kinh tế lớn.

Hiện nay, Việt Nam có nhiều làng nghề truyền thống phong phú, phân bổ rộng rãi trên toàn quốc, với sự tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng Các làng nghề này có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau.

- Phân loại theo trình độ kỹ thuật bao gồm:

Nghề thủ công với kỹ thuật đơn giản như đan lát và chế biến lương thực, thực phẩm mang lại sản phẩm thiết yếu phục vụ nhu cầu hàng ngày của cư dân nông thôn.

Các nghề thủ công như đúc đồng, gốm sứ và chạm khảm đều có kỹ thuật phức tạp, đòi hỏi sự khéo léo và tinh tế từ người thợ.

- Phân loại theo tính chất kinh tế:

Loại nghề phụ thuộc vào nền kinh tế nông nghiệp tự nhiên: chế biến nông sản, sản xuất công cụ như: cày bừa, liềm, hái…

Vai trò quản lý nhà nước về phát triển làng nghề

Quản lý nhà nước là hoạt động do các cơ quan hành chính từ Trung ương đến địa phương thực hiện, đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức và điều hành các hoạt động phát triển kinh doanh Đặc biệt, sự quản lý nhà nước cũng cần thiết cho sự phát triển bền vững của các làng nghề.

Quản lý nhà nước về phát triển làng nghề bao gồm việc thực hiện các văn bản quản lý của Trung ương và triển khai tại địa phương Hoạt động này không thay thế chức năng kinh doanh của doanh nghiệp du lịch, mà sử dụng các công cụ quản lý vĩ mô để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nhiều thành phần kinh tế Mục tiêu của quản lý nhà nước là thúc đẩy ngành phát triển theo định hướng chung của tiến trình phát triển đất nước.

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI TRONG THỜI GIAN QUA

Một số nét khái quát về quản lý phát triển làng nghề trên địa bàn Hà Nội trong thời gian qua

2.1.1.Hiện trạng phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn Hà Nội thời gian qua a.Tổng quan về làng nghề ở Việt Nam

Làng nghề là nguồn tài nguyên quý giá của Việt Nam, với hơn 2000 làng nghề truyền thống thuộc 11 nhóm nghề chính như sơn mài, gốm sứ, và thêu ren Vùng đồng bằng Bắc Bộ có mật độ làng nghề cao nhất, chiếm 2/3 tổng số làng nghề cả nước, nổi bật với các sản phẩm như lụa Vạn Phúc, sơn mài Hạ Thái, và gốm Bát Tràng Công tác phát triển nghề và làng nghề tại Hà Nội đang được chú trọng để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống.

Quy mô làng ngh các qu n, huy n trên đ a bàn Hà N iề ở ậ ệ ị ộ

Phú Xuyên Thường Tín Chương Mỹ Ứng Hòa Thanh Oai Ba Vì Thanh Trì Gia Lâm Từ Liêm Các quận, huyện khác

Nguồn: Sở công thương Hà Nội, năm 2012 Biểu đồ 2.1 Quy mô các làng có nghề ở các quận, huyện trên địa bàn Hà Nội

Hiện nay, Thành phố có 1.350 làng nghề và làng có nghề chiếm gần 59% tổng số làng, trong đó 244 làng nghề truyền thống.(Xem biểu đồ 2.1)

Số lượng làng nghề ở Việt Nam phân bố không đều, chủ yếu tập trung tại các huyện như Phú Xuyên (124 làng), Thường Tín (125 làng), Chương Mỹ (174 làng), Ứng Hoà (113 làng), Thanh Oai (101 làng) và Ba Vì (91 làng) Ngược lại, một số huyện có ít làng nghề như Thanh Trì (24 làng), Gia Lâm (22 làng) và Từ Liêm (11 làng) Đến hết năm 2009, đã có 272 làng nghề được Uỷ ban nhân dân cấp bằng công nhận, trong đó 198 làng nghề truyền thống được công nhận Hiện nay, Trung tâm hợp tác nguồn nhân lực Việt Nam (JICA) tiếp tục đánh giá và phát triển các làng nghề này.

Thành phố Hà Nội, Việt Nam, nổi bật với 47 nghề trong tổng số 52 nghề của cả nước, bao gồm nhiều nhóm nghề đang phát triển mạnh mẽ như gốm sứ, dệt may, da giày, điêu khắc, khảm trai, thêu ren, sơn mài, mây tre đan, dát vàng bạc quỳ, đúc đồng, kim hoàn, và chế biến nông sản thực phẩm Trong số đó, gốm sứ, khảm trai, mây tre đan, sơn mài và điêu khắc là những ngành nghề có xu hướng phát triển nhanh nhất.

Cơ cấu phân bổ làng có nghề trên địa bàn Hà Nội theo ngành nghề năm 2010

Theo số liệu năm 2010, cơ cấu phân bổ các làng nghề tại Hà Nội không đồng đều, với ngành mây tre đan chiếm ưu thế nhất, có 176 làng nghề, tương đương 24,8% tổng số làng có nghề Ngành chế biến lương thực thực phẩm đứng thứ hai với 121 làng nghề, chiếm 17,06%.

Bảng 2.1: Cơ cấu phân bổ làng có nghề trên địa bàn Hà Nội theo ngành nghề năm 2010

STT Ngành nghề chính Số lượng làng có nghề

1 Ngành nghề chế biến lương thực, thực phẩm 121

Nguồn: Cục thống kê thành phố Hà Nội, năm 2010

Hiện nay, nhiều làng nghề tại Hà Nội như dệt len La Phù, cỏ tế Phú Túc, gốm sứ Bát Tràng, chẻ tăm hương Quảng Phú Cầu và xã Xuân Đỉnh đang thu hút lao động từ cả trong và ngoài địa phương, góp phần tăng giá trị kinh tế cho khu vực Sự phát triển này không chỉ thúc đẩy sản xuất mà còn kéo theo sự phát triển của các dịch vụ liên quan như vận chuyển, cung cấp nguyên liệu, kinh doanh hàng hóa và ẩm thực Từ năm 2005-2010, số lượng lao động tại các làng nghề nông thôn đã tăng nhanh chóng.

Biểu đồ 2.2 Số lượng lao động trong làng nghề qua các năm 2008-2012

Biểu đồ cho thấy lực lượng lao động tại các làng nghề đang gia tăng liên tục qua các năm, điều này chứng tỏ sức hấp dẫn của các làng nghề đối với người lao động là rất lớn Sự phát triển này đóng góp quan trọng vào việc giải quyết vấn đề việc làm cho lao động nông thôn.

Năm 2009, 1.350 làng nghề có giá trị sản xuất đạt 7.650,87 tỷ đồng, chiếm 26% tổng giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh và 8,4% giá trị sản xuất công nghiệp của Thành phố Đặc biệt, 272 làng nghề đóng góp 6.077,66 tỷ đồng vào giá trị sản xuất này.

Trong giai đoạn 2008-2012, giá trị sản xuất nông thôn liên tục tăng qua các năm, đặc biệt ghi nhận sự tăng trưởng kỷ lục vào năm 2011 và 2012 (xem bảng 2.2).

Bảng 2.2: Tổng giá trị ngành nghề nông thôn trên địa bàn Hà Nội giai đoạn

4 Nguồn:Quy hoạch tổng thể phát triển ngành nghề nông thôn Hà Nội năm 2011

Quy mô về giá trị sản xuất của một số làng nghề tiêu biểu của Hà Nội năm 2011

Các làng nghề tiêu biểu với giá trị sản xuất hàng năm cao bao gồm: Làng chế biến nông sản thực phẩm Dương Liễu (Hoài Đức) 95 tỷ đồng, Minh Khai (Hoài Đức) 179 tỷ đồng, Chàng Sơn (Thạch Thất) 282 tỷ đồng, Yên Trường (Chương Mỹ) 76 tỷ đồng, Vạn Điểm (Thường Tín) 240 tỷ đồng, La Dương và Ỷ La (Hà Đông) mỗi làng 416 tỷ đồng, gốm sứ Bát Tràng (Gia Lâm) 350 tỷ đồng, và làng dệt kim, sản xuất bánh kẹo La Phù (Hoài Đức) đạt 810 tỷ đồng.

LN ch ế b iến nô ng sả n t hự c p hẩ m Dư ơn g L iễu

LN ch ế b iến nô ng sả n M inh Kh ai

LN m ộc m ay đa n C hà ng Sơ n

LN m ây tre đa n Y ên Tr ườ ng

LN dệ t n hu ộm La Dư ơn g, Ỷ L a

LN gố m sứ Bá t T ràn g

LN bá nh kẹ o L a P hù

Giá trị sản xuất (Tỷ đồng/Năm)

Ngu ồn: Quy hoạch làng nghề Hà Nội 2010 – 2015, Sở Công Thương Hà Nội

Biểu đồ 2.3: Quy mô về giá trị sản xuất của một số làng nghề tiêu biểu của Hà Nội năm 2011

Năm 2009, giá trị xuất khẩu của kinh tế ngoài nhà nước đạt 754,9 triệu USD, chiếm hơn 11,86% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn Thành phố, với các mặt hàng chủ yếu như dệt may, mây tre đan, sơn mài, khảm trai, gốm sứ và giầy dép Những sản phẩm này nổi bật với tính độc đáo và truyền thống, có lợi thế cạnh tranh về giá cả, tạo ra nhiều tiềm năng cho xuất khẩu Tuy nhiên, thị trường xuất khẩu hiện nay còn hạn chế, nhiều doanh nghiệp phải phụ thuộc vào trung gian và chưa thâm nhập vào kênh phân phối hàng nhập khẩu nước ngoài Hơn nữa, hoạt động xúc tiến thương mại còn yếu, các cơ sở sản xuất chưa chú trọng đến giá trị thương hiệu, và nguồn cung cấp nguyên liệu vẫn thiếu tính ổn định.

Thực trạng quản lý phát triển làng nghề trên địa bàn Hà Nội

2.2.1 Thực trạng công tác xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển làng nghề trên địa bàn Hà Nội a Những thành công trong việc tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển làng nghề trên địa bàn Hà Nội.

Để phát triển kinh tế làng nghề theo quy hoạch đến năm 2030, Thành phố Hà Nội dự kiến đầu tư hơn 8.500 tỷ đồng cho việc phát triển các làng nghề.

Thành phố thực hiện bảo tồn và khôi phục 21 làng, đồng thời xây dựng 17 làng để gắn phát triển kinh tế với du lịch.

Hà Nội đặt mục tiêu tăng tỷ trọng sản xuất nghề và làng nghề trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp, với 8,4% vào năm 2015, 8,5% vào năm 2020 và 8,9% vào năm 2030.

Thành phố đang triển khai kế hoạch hạn chế mở rộng các làng nghề, di chuyển chúng vào các cụm công nghiệp tập trung để quản lý tốt môi trường và an ninh xã hội Hàng chục làng nghề sẽ được cải thiện môi trường và nâng cấp cơ sở hạ tầng, tạo việc làm ổn định cho khoảng 800.000 đến 1 triệu lao động nông thôn Dự kiến, sẽ có 200.000 lao động mới được tạo việc làm với mức thu nhập bình quân từ ngành nghề phấn đấu đạt 25-30 triệu đồng/năm vào năm 2015, 35-40 triệu đồng/năm vào năm 2020, và 50-60 triệu đồng/năm vào năm 2030.

Các ngành nghề truyền thống như thủ công mỹ nghệ, dệt lụa, thêu, ren, gốm sứ, da và giày sẽ được ưu tiên phát triển nhằm phục vụ cho quy hoạch du lịch làng nghề trong tương lai.

Thành phố chú trọng tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm bằng cách kết nối các làng nghề với hệ thống siêu thị, chợ và trung tâm thương mại, đồng thời triển khai chương trình đưa hàng về nông thôn Mối liên kết giữa các doanh nghiệp và làng nghề được hình thành, giúp các làng nghề trở thành vệ tinh cho doanh nghiệp Thành phố cũng tổ chức và hỗ trợ các làng nghề tham gia hội chợ triển lãm chuyên ngành để giới thiệu sản phẩm Hợp tác với các Trung tâm xúc tiến thương mại và các cơ quan đại diện thương mại Việt Nam tại nước ngoài nhằm quảng bá tiềm năng và sản phẩm của làng nghề ra thị trường quốc tế Ngoài ra, hỗ trợ các hiệp hội và làng nghề trong việc xây dựng và duy trì website để quảng bá thương hiệu sản phẩm trên Internet.

Lập kế hoạch xây dựng và phát triển thương hiệu cho các làng nghề, đặc biệt là làng nghề truyền thống, là rất quan trọng Cần tăng cường vai trò của các tổ chức Hội, Hiệp hội, chính quyền cấp xã, thôn và doanh nghiệp trong việc quảng bá và giới thiệu du lịch làng nghề tới khách hàng trong và ngoài nước Hỗ trợ các làng nghề trong việc phát triển thương hiệu sẽ góp phần nâng cao giá trị và tiềm năng du lịch của các địa phương.

Trong năm 2012, công tác khuyến công đã đạt được nhiều kết quả khả quan với tổng kinh phí lên tới 215 tỷ đồng, tăng 144,4% so với năm trước Trong đó, kinh phí khuyến công quốc gia là 80 tỷ đồng và kinh phí khuyến công địa phương đạt 135 tỷ đồng, tăng 53,43% so với năm 2011 Hơn 200 đề án khuyến công, chủ yếu do các Trung tâm Khuyến công tỉnh thực hiện, đã nhận được hỗ trợ từ kinh phí quốc gia Các đề án này tập trung vào đào tạo nghề, phát triển du lịch làng nghề, xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật, hỗ trợ ứng dụng máy móc hiện đại, và nâng cao năng lực quản lý cho các cơ sở công nghiệp nông thôn.

Sau khi các cơ chế chính sách được ban hành đồng bộ từ Trung ương đến Thành phố, Hà Nội đã đạt được những kết quả nổi bật trong phát triển nghề, với cơ cấu kinh tế và lao động chuyển dịch mạnh mẽ từ nông nghiệp sang công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Số lượng hộ và lao động tham gia sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tăng nhanh, cùng với sự hình thành và phát triển các điểm công nghiệp làng nghề Giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích đất liên tục tăng, chất lượng sản phẩm làng nghề được nâng cao và được thị trường trong nước cũng như quốc tế chấp nhận Hạ tầng kỹ thuật nông thôn và các làng nghề tiếp tục được đầu tư hiện đại hóa, thu hút lượng lớn khách du lịch Mặc dù có nhiều thành tựu, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế trong tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch và chính sách phát triển làng nghề tại Hà Nội.

Trong những năm gần đây, các làng nghề phát triển manh mún và tự phát, với người làm nghề chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển bền vững và khả năng tìm kiếm thị trường còn hạn chế Hỗ trợ từ nhà nước trong việc tìm kiếm thị trường vẫn chưa đủ, trong khi vai trò của các Hiệp hội chưa được phát huy tối đa Thiếu công ty đầu tàu trong làng nghề dẫn đến quy mô sản xuất phân tán Nhiều ngành nghề, như gốm Phú Sơn (Sơn Tây), đang bị mai một và chưa được khôi phục.

Tô Hiệu (Thường Tín), nghề dệt the La Khê (Hà Đông), cổ đô Ba Vì, nghề tranh dân gian Kim Hoàng (Hoài Đức), nghề ren Hạ Mỗ (Đan Phượng), giấy dó Bưởi và giấy sắc Nghĩa Đô là những làng nghề truyền thống đáng chú ý Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước về làng nghề và du lịch làng nghề hiện còn chồng chéo, với các chính sách hỗ trợ phát triển chưa hoàn chỉnh và chưa tác động mạnh mẽ đến các cơ sở sản xuất Các chính sách này chủ yếu tập trung vào nghĩa vụ của làng nghề mà chưa chú trọng đến quyền lợi của các cơ sở sản xuất.

Nghị định số 134/2004/NĐ-CP và Nghị định số 66/2006/NĐ-CP của Chính phủ chưa phân định rõ ràng chức năng và nhiệm vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực công nghiệp nông thôn giữa Bộ Công nghiệp (hiện là Bộ Công thương) và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cũng như giữa Sở Công nghiệp (nay là Sở Công thương).

Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tại các địa phương.

Các Thông tư hướng dẫn thực hiện của các Bộ, ngành hiện nay còn nhiều thiếu sót và bất cập Cụ thể, hướng dẫn về khuyến công và phát triển nghề, làng nghề vẫn mang tính chung chung, chưa xác định rõ ràng và cụ thể các nội dung cũng như hình thức thực hiện.

Các hạn chế của cơ chế chính sách sau khi ban hành đã bộc lộ qua việc triển khai chậm trễ và kết quả không đạt yêu cầu, thể hiện ở những vấn đề như phát triển làng nghề thiếu định hướng, ô nhiễm môi trường gia tăng, khó khăn trong việc cấp quyền sử dụng đất, cho thuê đất lâu dài, chuyển giao công nghệ, đào tạo cán bộ kỹ thuật và quản lý, cùng với việc miễn giảm thuế và cho vay lãi suất ưu đãi.

2.2.2 Thực trạng công tác quy hoạch phát triển làng nghề trên địa bàn Hà Nội a Những thành công trong công tác quy hoạch phát triển làng nghề

Theo quy hoạch phát triển tổng thể làng nghề Hà Nội đến năm 2020, tầm nhìn 2030, Sở Công thương nhấn mạnh sự cần thiết gắn kết quy hoạch làng nghề với quy hoạch sử dụng đất chung của thành phố Thành phố ưu tiên phát triển các nghề truyền thống như thủ công mỹ nghệ, chế biến lâm sản, dệt lụa, thêu, gốm sứ, và da giày Đồng thời, Hà Nội cũng tập trung quy hoạch các ngành nghề hỗ trợ sản xuất công nghiệp như dệt may, cơ khí, điện, và rèn dao kéo Công tác quy hoạch tại các địa phương đã đạt được nhiều thành công đáng kể.

Đánh giá chung

2.3.1 Ưu điểm và nguyên nhân

Trong những năm qua, Thành ủy và HĐND đã chú trọng đến phát triển nghề và làng nghề, đặc biệt là du lịch làng nghề UBND Thành phố đã tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra sát sao quá trình điều chỉnh nền kinh tế phù hợp với thực tiễn địa phương, khuyến khích doanh nghiệp và cơ sở sản xuất đầu tư mở rộng, đổi mới công nghệ và phát triển du lịch Đồng thời, UBND cũng đã áp dụng các chính sách có lợi cho nhân dân khi giải phóng mặt bằng, nhờ sự chỉ đạo đồng bộ từ Trung ương đến địa phương.

Công tác quy hoạch các vùng và lãnh thổ hiện nay đang được thực hiện với tầm nhìn chiến lược và hiện đại hơn, nhờ sự tham gia của nhiều cơ quan tư vấn trong và ngoài nước Những nỗ lực này đã đạt được thành công ban đầu trong các lĩnh vực như quy hoạch cơ sở hạ tầng làng nghề, quy hoạch chợ và khu đô thị, cũng như quy hoạch các khu xử lý rác thải.

Công tác đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực du lịch mang lại nhiều lợi ích, đặc biệt trong việc đào tạo nghề và hướng dẫn viên du lịch Đội ngũ nghệ nhân đông đảo, có tay nghề cao và trình độ sáng tạo, cùng với sự am hiểu sâu sắc về văn hóa địa phương, là những yếu tố quan trọng giúp nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch.

Hoạt động tổ chức và tham quan du lịch đã góp phần quan trọng trong việc phát triển các tour du lịch liên kết với đặc trưng của làng nghề, bao gồm các xưởng sản xuất và gian hàng trưng bày sản phẩm truyền thống, từ đó đáp ứng nhu cầu của du khách tham quan.

Hoạt động quản lý nhà nước tại các điểm du lịch làng nghề được đánh giá cao, đặc biệt trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống và trưng bày hàng lưu niệm Điều này xuất phát từ sự độc đáo của văn hóa ẩm thực mỗi miền quê, mang đến cho du khách những trải nghiệm khó quên mà không phải nơi nào cũng có.

2.3.2 Tồn tại và nguyên nhân

Hệ thống hạ tầng cơ sở hiện tại chưa đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch làng nghề, với đường giao thông chưa đạt tiêu chuẩn hoặc đã xuống cấp, cùng với tình trạng thiếu hụt điện, nước và vệ sinh Ngoài ra, việc trưng bày sản phẩm của làng nghề cũng chưa đủ hấp dẫn Nguyên nhân chủ yếu là do công tác quy hoạch chưa triệt để và nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng còn hạn chế.

Sự phát triển bền vững của làng nghề đang gặp nhiều thách thức, bao gồm việc thiếu mặt bằng sản xuất và kinh doanh, ô nhiễm môi trường tái diễn, cùng với hiệu quả thấp trong hoạt động đào tạo nhân lực và hướng dẫn viên Nguyên nhân chính là do nhận thức của người dân còn yếu kém, dẫn đến việc tham gia đào tạo một cách phong trào mà không có mục đích rõ ràng.

Hoạt động tuyên truyền và quảng bá hiện nay chưa đạt hiệu quả cao do sự phối hợp chưa đồng bộ giữa các cấp, ngành và doanh nghiệp Hơn nữa, kinh phí hạn hẹp đã ảnh hưởng đến khả năng tổ chức các sự kiện quảng cáo chuyên nghiệp trong và ngoài nước Công tác vận động người dân tham gia xây dựng môi trường cũng chưa được chú trọng đúng mức.

Việc xây dựng và thực hiện các cơ chế chính sách đầu tư phát triển hiện nay gặp nhiều khó khăn Nhiều địa phương vẫn thiếu các chính sách khuyến khích và ưu đãi đầu tư hiệu quả, do chưa có đủ cơ chế phù hợp để thu hút vốn đầu tư.

2.3.3 Những vấn đề đặt ra cần tập trung giải quyết

Trong bối cảnh hội nhập, làng nghề truyền thống ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong kinh tế, văn hóa và xã hội của đất nước Phát triển làng nghề không chỉ là giải pháp hiệu quả để xóa đói giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới, mà còn giúp quảng bá hình ảnh và thương hiệu quốc gia Ngoài việc mang lại lợi nhuận kinh tế và nâng cao thu nhập cho người dân, việc phát triển làng nghề còn góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống và giới thiệu đa dạng về các vùng miền trên toàn quốc.

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI TRONG THỜI GIAN TỚI 27 3.1.Mục tiêu, quan điểm, phương hướng tăng cường quản lý nhà nước đối với phát triển làng nghề trên địa bàn Hà Nội

Ngày đăng: 14/10/2021, 09:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ công thương, Các giải pháp phát triển làng nghề Việt Nam thời hội nhập, Tạp chí công nghiệp, 25/12/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp phát triển làng nghề Việt Nam thời hội nhập, Tạpchí công nghiệp
2. Đặng Kim Chi (2005), Làng nghề Việt Nam và môi trường, NXB Khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng nghề Việt Nam và môi trường
Tác giả: Đặng Kim Chi
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹthuật
Năm: 2005
5. Mai Thế Hởn (1998), Phát triển một số làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở vùng ven thủ đô, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển một số làng nghề truyền thống trong quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa ở vùng ven thủ đô
Tác giả: Mai Thế Hởn
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
6. Ngô Thắng Lợi (2006), Giáo trình Kế hoạch hóa phát triển kinh tế - xã hội, NXB Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kế hoạch hóa phát triển kinh tế - xã hội
Tác giả: Ngô Thắng Lợi
Nhà XB: NXBĐại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2006
7. Phan Văn Tú, 2010, Các giải pháp để phát triển làng nghề ở thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Đại Học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp để phát triển làng nghề ở thành phố Hội An,tỉnh Quảng Nam
8. Trần Thị Minh Nguyệt, 2008, Quản lý nhà nước với phát triển nghề và làng nghề Hà Tây giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sỹ, Trường đại học Thương Mại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước với phát triển nghề và làng nghềHà Tây giai đoạn hiện nay
3. Đỗ Quang Dũng (2004), Phát triển làng nghề trong quá trình CNH – HĐH nông thôn ở Hà Tây, NXB Khác
4. Lê Hải (2006), Môi trường làng nghề với việc phát triển du lịch bền vững, Tạp chí Du lịch Việt Nam Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

(Xem bảng 2.1) - Quản lý phát triển làng nghề trên địa bàn Hà Nội
em bảng 2.1) (Trang 17)
Theo bảng số liệu dưới đây, nhận thấy trong giai đoạn 2008-2012, giá trị sản xuất đều tăng liên tục qua các năm, tuy nhiên, năm 2011 và năm 2012 là hai năm có sự tăng lên kỷ lục của giá trị ngành nghề nông thôn (xem bảng 2.2). - Quản lý phát triển làng nghề trên địa bàn Hà Nội
heo bảng số liệu dưới đây, nhận thấy trong giai đoạn 2008-2012, giá trị sản xuất đều tăng liên tục qua các năm, tuy nhiên, năm 2011 và năm 2012 là hai năm có sự tăng lên kỷ lục của giá trị ngành nghề nông thôn (xem bảng 2.2) (Trang 18)
Bảng 2.2: Tổng giá trị ngành nghề nông thôn trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2008-2012 - Quản lý phát triển làng nghề trên địa bàn Hà Nội
Bảng 2.2 Tổng giá trị ngành nghề nông thôn trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2008-2012 (Trang 19)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w