Nước cấp là nguồn nước sau xử lý tại nhà máy hoặc các trạm chuyên xử lý lý cấp xã cấp huyện. Từ các trạm cung cấp cho người dân nhằm mục đích ăn uống và dùng trong sinh hoạt. Nước cấp chính là nước đã được xử lý tại các nhà máy xử lý nước. Đã được làm sạch bằng các công nghệ hiện đại sau đó chuyển đến người tiêu dùng.
TỔNG QUAN VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC
TỔNG QUAN
1.1.1 Khái niệm tài nguyên nước
Nước là yếu tố thiết yếu trong hệ sinh thái, cần thiết cho mọi sự sống trên trái đất và đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động sản xuất kinh tế Tại Việt Nam, với nền nông nghiệp lúa nước phát triển, nhu cầu nước cho nông nghiệp rất cao Tài nguyên nước có nhiều khái niệm khác nhau, phản ánh sự đa dạng và giá trị của nguồn tài nguyên này.
Tài nguyên nước mặt bao gồm nước trên bề mặt trái đất như đại dương, sông, hồ, ao và đầm lầy Những nguồn nước này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ điều kiện khí hậu và các hoạt động kinh tế của con người Nước mặt có nguy cơ ô nhiễm cao và thành phần hóa lý của nó dễ dàng thay đổi Đặc biệt, khả năng phục hồi của trữ lượng nước mặt diễn ra nhanh nhất ở những khu vực có lượng mưa dồi dào.
Theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 của luật tài nguyên nước thì nước mặt là nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo
1.1.2 Sự hình thành của nước trên trái đất
Nước đã tồn tại trên trái đất từ xa xưa, nhưng nguồn gốc của nó vẫn chưa được nghiên cứu rõ ràng Trong các bài báo khoa học về quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên nước, khái niệm "Vòng tuần hoàn nước" được nhắc đến, giúp giải thích sự tồn tại và vận động của nước trong môi trường Nước luôn chuyển động, chuyển từ thể lỏng sang hơi, từ hơi sang rắn và ngược lại Hiện nay, ngành thiên văn học đang tìm kiếm các hành tinh tương tự như trái đất, trong đó sự tồn tại của nước là yếu tố quan trọng để duy trì sự sống.
2 khẳng định con người không thể sống thiếu nước, mọi hoạt động sản xuất – sinh hoạt đều cần đến nước
Hình 1 Vòng tuần hoàn của nước
Vòng tuần hoàn nước bắt đầu từ các đại dương, nơi mặt trời làm nóng nước, dẫn đến hiện tượng bốc hơi Hơi nước được mang vào khí quyển, nơi nó ngưng tụ thành mây khi gặp nhiệt độ thấp Các đám mây di chuyển khắp toàn cầu, va chạm và kết hợp với nhau, tạo ra giáng thủy dưới dạng mưa hoặc tuyết Tuyết tích tụ thành núi tuyết và băng hà, giữ nước trong hàng nghìn năm Khi mùa xuân đến, tuyết tan chảy, tạo thành dòng chảy trên mặt đất, đôi khi gây ra lũ lụt Phần lớn giáng thủy rơi xuống đại dương hoặc trên mặt đất, nhờ trọng lực trở thành dòng chảy mặt.
Dòng chảy mặt chảy vào sông qua các thung lũng trong khu vực, với dòng chảy chính dẫn ra đại dương Nước mặt và nước thấm được tích lũy trong các hồ nước ngọt, nhưng không phải tất cả đều chảy vào sông; một lượng lớn nước thấm xuống đất, trong khi một phần nhỏ được giữ lại ở lớp đất sát mặt và thấm ngược trở lại dưới dạng dòng chảy ngầm Nước ngầm tầng nông được cây cối hấp thụ và thoát hơi qua lá, trong khi nước tiếp tục thấm vào lớp đất sâu hơn, bổ sung cho tầng nước ngầm sâu, nơi lưu trữ một lượng lớn nước ngọt trong thời gian dài Quá trình này vẫn diễn ra, với nước có thể quay trở lại đại dương, nơi mà vòng tuần hoàn nước "kết thúc" và lại bắt đầu.
Một số khái niệm liên quan đến tài nguyên nước
1.2.1 Ô nhiễm nước Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý – hoá học – sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật Làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất Ô nhiễm nước xảy ra khi nước bề mặt chảy qua rác thải sinh hoạt, nước rác công nghiệp, các chất ô nhiễm trên mặt đất, rồi thấm xuống nước ngầm (Theo Lê Thị Thuỷ và ctv, 2009) Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã (Theo hiến chương châu Âu,
1.2.2 Suy thoái – cạn kiện tài nguyên nước
Suy thoái nguồn nước là hiện tượng giảm sút về số lượng và chất lượng nước so với trạng thái tự nhiên hoặc so với các số liệu quan trắc trong quá khứ Điều này được quy định trong Luật Tài nguyên nước năm 2012.
Việt Nam, với bờ biển dài và tiềm năng phát triển, đang đối mặt với tình trạng suy thoái tài nguyên nước do quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa Những năm qua, chủ trương này đã ảnh hưởng sâu sắc đến tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là nước, gây ra nhiều thách thức cho môi trường và sự phát triển bền vững của đất nước.
Khai thác quá mực tài nguyên nước và một số dạng tài nguyên có liên quan như đất, rừng khiến cho tài nguyên nước bị suy giảm
Các hồ chứa, đập thuỷ điện chỉ có mục địch phát điện đã làm ảnh hưởng đến dòng chảy ở hạ lưu
Chất thải từ các nhà máy, xí nghiệp và khu công nghiệp chưa được quản lý chặt chẽ, dẫn đến tình trạng xả thải trái phép, gây ra sự suy thoái nghiêm trọng cho nguồn nước.
Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu
Công tác kiểm tra, quản lý bảo vệ tài nguyên nước còn hạn chế, chưa nghiêm ngặt, khắt khe
Cạn kiệt nguồn nước là hiện tượng giảm sút nghiêm trọng về số lượng nước, dẫn đến việc nguồn nước không còn khả năng đáp ứng nhu cầu khai thác, sử dụng và bảo vệ hệ sinh thái thủy sinh, theo quy định của Luật Tài nguyên nước năm 2012.
1.2.3 Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật tài nguyên nước Ở các nước phát triển nói chung và nước đang phát triển nói riêng đều có ban hành luật tài nguyên nước Mỗi quốc gia có một quy định riêng phù hơp với tình hình địa lý, phân bố tài nguyên nước Việt Nam cũng vậy, theo Luật Tiêu chuẩn, Quy chuẩn Kỹ thuật (TCQCKT) xác định như sau:
Tiêu chuẩn là quy định về đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý, được sử dụng để phân loại và đánh giá sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội Mục tiêu của tiêu chuẩn là nâng cao chất lượng và hiệu quả của các đối tượng này Tiêu chuẩn thường được công bố bởi một tổ chức dưới dạng văn bản và áp dụng một cách tự nguyện.
Quy chuẩn kỹ thuật là những quy định về mức giới hạn của đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý mà sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội phải tuân thủ Mục tiêu của quy chuẩn này là đảm bảo an toàn, vệ sinh và sức khỏe con người, bảo vệ động vật, thực vật, môi trường, cũng như bảo vệ lợi ích và an ninh quốc gia, quyền lợi của người tiêu dùng Quy chuẩn kỹ thuật được ban hành bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền dưới dạng văn bản để bắt buộc áp dụng.
1.2.4 Quan trắc tài nguyên nước
Quan trắc tài nguyên nước mặt là quá trình giám sát liên tục về số lượng và chất lượng nguồn nước, thông qua việc đo đạc, thu thập, phân tích và đánh giá các chỉ tiêu như mực nước, lưu lượng, nhiệt độ và thành phần hóa học Kết quả của quá trình này cung cấp thông tin quan trọng về nguồn tài nguyên nước mặt, hỗ trợ công tác quản lý tài nguyên nước và góp phần vào phát triển kinh tế xã hội.
Các mục tiêu cụ thể của quan trắc môi trường gồm:
Cung cấp các đánh giá về diễn biến chất lượng môi trường trên quy mô quốc gia, phục vụ việc xây dựng báo cáo hiện trạng môi trường
Cung cấp đánh giá về diễn biến chất lượng môi trường tại các vùng trọng điểm được quan trắc, nhằm đáp ứng kịp thời các yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường.
Cảnh báo kịp thời các diễn biến bất thường hay các nguy cơ ô nhiễm, suy thoái môi trường
Xây dựng một cơ sở dữ liệu chất lượng môi trường nhằm mục đích lưu trữ, cung cấp và trao đổi thông tin cả trong nước và quốc tế.
Tình hình tài nguyên nước tại Việt Nam
Việt Nam có địa hình chủ yếu là đồi núi, chiếm khoảng 75% diện tích lãnh thổ, tập trung tại các vùng Đông Bắc, Tây Bắc và miền Trung Phần còn lại là châu thổ và đồng bằng phù sa, chủ yếu ở Đồng Bằng Sông Hồng (ĐBSH) và Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, Việt Nam có lượng mưa trung bình khoảng 1.940 mm/năm, nhưng do địa hình đồi núi, lượng mưa không phân bố đồng đều và có sự biến đổi mạnh theo thời gian, ảnh hưởng lớn đến trữ lượng và phân bố tài nguyên nước.
Việt Nam có hơn 2.360 con sông dài từ 10 km trở lên, trong đó có 109 sông chính Toàn quốc có 16 lưu vực sông (LVS) với diện tích lớn hơn 2.500 km2, trong đó 10/16 lưu vực có diện tích trên 10.000 km2 Tổng diện tích các LVS trên cả nước đạt hơn 1.167.000 km2, với 72% diện tích lưu vực nằm ngoài lãnh thổ quốc gia (Theo Cục Quản lý Tài nguyên Nước, 2012).
Lưu vực sông Việt Nam được chia thành 2 loại:
Các lưu vực sông có diện tích lớn hơn 10.000 km² bao gồm: sông Hồng (Thái Bình), sông Mã, sông Bằng Giang – Kỳ Cùng, sông Cả, sông Ba, sông Srê Pốk, sông Vu Gia – Thu Bồn, sông Mê Cung, sông Đồng Nai và sông Sê San.
Các lưu vực sông có diện tích nhỏ hơn 10000 km 2 bao gồm : Gianh, Thạch Hãn, Kôn, Trà Khúc, Hương và một số lưu vực sông vùng Đông Nam Bộ
Hình 2 Bản đồ ranh giới lưu vực sông Việt Nam
1.3.2 Đặc điểm tài nguyên nước mặt
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên đặc thù của Việt Nam dẫn đến việc khoảng 60% lượng nước của cả nước tập trung ở lưu vực sông Mê Công, 16% ở lưu vực sông Hồng - Thái Bình, và khoảng 4% ở lưu vực sông Đồng Nai, trong khi các lưu vực sông lớn khác chỉ chiếm một phần nhỏ còn lại.
Tổng lượng nước mặt tại Việt Nam không đồng đều giữa các mùa, chủ yếu do lượng mưa phân bố không đều về thời gian và không gian, dẫn đến tình trạng lũ lụt và khô hạn kéo dài Mùa khô ở miền Bắc bắt đầu từ tháng 11 và tháng 12, trong khi miền Trung và miền Nam bắt đầu muộn hơn vào tháng 1, kéo dài từ 6 đến 9 tháng với lượng nước chỉ chiếm 20 - 30% tổng lượng nước cả năm Trong thời gian này, khoảng một nửa trong số 15 lưu vực sông chính bị thiếu nước Tổng lượng nước mặt của các lưu vực sông ở Việt Nam khoảng 830 - 840 tỷ m3/năm, trong đó 37% là nước nội sinh và 63% là nước chảy từ các nước láng giềng Chẳng hạn, lưu vực sông Hồng có 50% nước ngoại lai, còn lưu vực Mê Công lên đến 90% Dựa trên tiêu chuẩn quốc tế, trong mùa khô, chỉ có 4 lưu vực (Mê Công, Sê San, Vu Gia - Thu Bồn và Gianh) có đủ nước, trong khi các lưu vực khác như Hương và Ba ở mức gần đủ, còn Đông Nam Bộ và Đồng Nai thường xuyên thiếu nước Lưu vực Mã và Kôn cũng đang tiến gần đến tình trạng thiếu nước.
Việt Nam, với dân số gần 88 triệu người, có tổng lượng nước bình quân đầu người khoảng 9.560 m3/năm, thấp hơn mức chuẩn 10.000 m3/người/năm của các quốc gia có tài nguyên nước trung bình theo Hiệp hội Nước quốc tế (IWRA).
Việt Nam hiện đạt khoảng 4.000 m3 nước nội sinh/người/năm, nhưng dự kiến sẽ giảm xuống còn 3.100 m3 vào năm 2025 Nếu các quốc gia thượng nguồn không chia sẻ công bằng và sử dụng hợp lý nguồn nước trên các dòng sông liên quốc gia, Việt Nam sẽ phải đối mặt với nguy cơ khan hiếm nước, đe dọa phát triển kinh tế, xã hội và an ninh lương thực Mực nước và lưu lượng trên các con sông từ năm 2006 đến nay có xu hướng giảm Các hồ chứa, đập dâng và công trình thủy lợi là phần thiết yếu trong các lưu vực sông, với tổng dung tích hữu ích khoảng 37 tỷ m3, chiếm 4,5% tổng lượng nước mặt trung bình năm Trong đó, hơn 45% nằm trong lưu vực Hồng – Thái Bình, 22% ở lưu vực Đồng Nai và 5-7% ở lưu vực Cả, Ba và Sê San Đặc biệt, lưu vực Đồng Nai có dung tích hữu ích của các hồ chứa chiếm 23% tổng lượng nước trung bình năm của cả lưu vực.
12 LVS ở mức dưới 10% (Theo cục quản lý tài nguyên nước, 2012)
1.3.3 Hệ thống hồ chứa, đập thuỷ lợi trên các lưu vực sông
Lưu vực sông Hồng – Thái Bình có 29 hệ thống thuỷ nông, 900 hồ chứa lớn và nhỏ,
Lưu vực sông Hương có 100 hồ chứa được xây dựng tại các vùng trung du, miền núi và vùng cát, trong khi lưu vực sông Đồng Nai sở hữu 911 công trình, bao gồm 406 hồ chứa, 371 đập dâng và cống, cùng 134 trạm bơm và hệ thống thủy lợi Đối với lưu vực sông Mê Công, kế hoạch phát triển 15 bậc thang thủy điện đang được triển khai, với 12 công trình đề xuất ở hạ lưu, chủ yếu nằm ở phía thượng lưu không thuộc lãnh thổ Việt Nam.
Cục quản lý tài nguyên nước, 2012)
Trong những năm gần đây, tình trạng thiếu nước và khan hiếm nguồn nước tại hạ lưu các lưu vực sông ngày càng gia tăng, chủ yếu do hoạt động điều phối của các nhà máy thủy điện Điều này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất.
Tình trạng ô nhiễm môi trường và suy giảm tài nguyên nước ở Việt Nam đang gia tăng nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến hệ sinh thái các dòng sông và làm giảm tính bền vững của tăng trưởng kinh tế, xoá đói giảm nghèo và phát triển xã hội Nhu cầu sử dụng nước trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và thuỷ điện đang gia tăng, trong khi khả năng quản lý tài nguyên nước lại yếu kém Hệ sinh thái rừng tự nhiên, vốn là nguồn cung cấp nước quan trọng từ thượng nguồn, cũng bị suy thoái do nạn phá rừng, canh tác nông nghiệp, khai khoáng và xây dựng cơ sở hạ tầng.
STT Lưu vực sông Số lượng/hồ chứa Tên hồ chứa
Sơn La, Hoà Bình, Thác Bà, Tuyên Quang, Huổi Quảng, Bản Chát, Nậm
2 Mã 5 Cửa Đạt, Hủa Na, Trung Sơn, Pa Ma và Huổi Tạo
3 Cả 4 Bản Vẽ, Khe Bố, Bản Mồng và Ngàn
Bình Điền, Hương Điền, Tả Trạch và
A lưới ( trên sông A Sáp thuộc lưu vực sông Sê Kông )
A Vương, Đắk Mi 4, Sông Tranh 2, Sông Bung 2, Sông Bung 4 và Đắk Mi
6 Trà Khúc 2 Đak Đrinh và Nước Trong
Vĩnh Sơn A – Vĩnh Sơn B, Bình Định và Núi Một
Sông Ba Hạ, Sông Hinh, Krông Hnăng, Ayun Hạ và cụm hồ An Khê -
9 Srêpốk 6 Buôn Tua Srah, Buôn Kuốp, Srêpốk
3, Srêpốk 4, Đức Xuyên và Srêpốk 7
Dầu tiếng, Trị An, Thác Mơ, Đơn Dương, Hàm Thuận – Đa Mi – Cầu Đơn, Đại Ninh, Đồng Nai 2, Đồng Nai 3, Đồng Nai 4, Srok Phu Miêng và Phước Hoà
(Theo Cục Quản lý Tài nguyên nước, 2012)
Hình 3 Đập thuỷ điện Trị An
Hình 4 Đập thuỷ điện Hoà Bình
Hình 5 Đập Thuỷ Điện Đăk Mi 4
Tình hình khai khác và quản lý nước tại Việt Nam
Trong những thập kỷ qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong phát triển đất nước, với sự tăng trưởng kinh tế và an sinh xã hội được quốc tế ghi nhận cao Đóng góp lớn từ tài nguyên nước không thể bị phủ nhận, vì nước đóng vai trò thiết yếu trong việc đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ sinh hoạt và sản xuất, đồng thời góp phần giảm thiểu tình trạng hạn hán.
Địa hình đồi núi và hệ thống lưu vực sông phức tạp tạo ra thách thức cho việc quản lý và hoạch định chính sách nhằm phát triển bền vững nguồn tài nguyên nước Hiện tại, cả nước có nhiều công trình thủy lợi phục vụ nông nghiệp và công nghiệp, như tưới tiêu và sản xuất điện, nhưng không phải tất cả đều đạt hiệu quả tối ưu.
1.4.1 Tình hình khai thác sử dụng trong hoạt động kinh tế
Việt Nam dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về đầu tư cho lĩnh vực thủy lợi, với 75 hệ thống thủy nông trải dài khắp cả nước Tổng cộng, cả nước có 660 công trình thủy lợi, góp phần quan trọng vào việc quản lý và phát triển nguồn nước.
Việt Nam hiện có 14 hồ và đập lớn, 3500 đập nhỏ, cùng với 1000 cống tiêu và hơn 2000 trạm bơm lớn nhỏ, với hơn 10.000 máy bơm có khả năng cung cấp từ 60-70 tỷ m³ nước mỗi năm Tuy nhiên, sau một thời gian sử dụng, các hệ thống thủy nông này đã xuống cấp nghiêm trọng, chỉ còn đáp ứng được 50-70% công suất thiết kế ban đầu.
Trong nông nghiệp, lượng nước sử dụng hàng năm ước tính khoảng 93 tỷ m³, trong khi công nghiệp và dịch vụ tiêu thụ lần lượt là 17,3 tỷ m³ và 2 tỷ m³ Dự báo đến năm 2030, cơ cấu sử dụng nước sẽ thay đổi với nông nghiệp chiếm 75% và công nghiệp 16% Biến đổi khí hậu đã làm gia tăng lượng nước trên các lưu vực sông, nếu biết khai thác hiệu quả nguồn nước này, sẽ giúp giải quyết vấn đề thiếu nước vào mùa hè cho sinh hoạt và sản xuất Theo thống kê từ Cục Quản lý Tài nguyên Nước, việc sử dụng nguồn nước hợp lý là rất cần thiết.
Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết cả nước có 1 triệu hecta diện tích nước ngọt và 400.000 hecta diện tích nước lợ, tạo ra lợi thế lớn cho ngành nuôi trồng thủy sản.
1.4.2 Tình hình khai thác sử dụng nước trong khu vực thành thị
Nước đóng vai trò quan trọng trong sinh hoạt hàng ngày, với thống kê tại Tp.HCM năm 2015 cho thấy mỗi người cần từ 1 đến 2 lít nước mỗi ngày Trung bình, nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt dao động từ 30 đến 215 lít/ngày, chủ yếu phục vụ cho các hoạt động vệ sinh cá nhân như tắm, giặt giũ và ăn uống, trong đó cần khoảng 20 đến 50 lít nước.
Việt Nam hiện có 708 đô thị, bao gồm 86 thành phố và thị xã, cùng với 617 thị trấn, phục vụ nhu cầu sử dụng nước của người dân Trên toàn quốc, có hơn 240 nhà máy cấp nước đô thị với tổng công suất thiết kế đạt 3.42 triệu m³/ngày Nguồn cung cấp nước được chia thành hai loại: khoảng 1.95 triệu m³/ngày từ nước mặt và 1.47 triệu m³/ngày từ nước ngầm Để đáp ứng nhu cầu, một số địa phương như Hà Nội, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Quảng Ngãi, Bình Định, Sóc Trăng và Bạc Liêu đã khai thác 100% nguồn nước dưới đất.
1.4.3 Tình hình khai thác sử dụng nước trong khu vực nông thôn
Việt Nam, một quốc gia nông nghiệp, đã từ lâu tận dụng nguồn nước thiên nhiên cho sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa và phát triển nông thôn mới đã ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước mặt và nước ngầm Theo thống kê của Cục quản lý nước - Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2014, khoảng 36.7 triệu người dân nông thôn được cấp nước sạch, với tỷ lệ cao nhất thuộc về vùng Nam Bộ (66.7%), tiếp theo là đồng bằng Sông Hồng (65.1%) và Sông Cửu Long (62.1%) Các tỉnh ven biển như Trà Vinh, Kiên Giang, Long An, Bến Tre chịu tác động lớn từ biến đổi khí hậu, dẫn đến xâm nhập nước biển và ảnh hưởng đến nguồn nước ngọt Nguồn nước sinh hoạt chủ yếu của người dân tại đây phụ thuộc vào các con sông, rạch, ao hồ Trong những năm như 2016, tình trạng thiếu nước ngọt đã buộc người dân phải sử dụng nước ngầm thay thế, với khoảng 80% dân số ở bốn tỉnh Trà Vinh, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau sử dụng nguồn nước này cho sinh hoạt.
TP Cà Mau tỷ lệ người dân trên địa bàn xã sử dụng nước ngầm đạt trên 90% Việc quá
16 phục thuộc vào nguồn nước dưới đất đã khiến cho cấu tạo tầng nước ngầm bị tụi giảm nghiêm trọng từ 12 đến 16m tại tỉnh Trà Vinh
Hình 6 Người dân khoan giếng ngầm tại Miền Tây
CÁC GIẢI PHÁP BẢO VỆ TÀI NGUYÊN NƯỚC
Áp dụng các hành vi nghiêm cấm tại điều 9 luật tài nguyên nước
2.1.1 Đổ chất thải, rác thải, đổ hoặc làm rò rỉ các chất độc hại vào nguồn nước và các hành vi khác gây ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước
Trong những năm gần đây, sự phát triển nhanh chóng của các khu chế xuất và công nghiệp trên toàn quốc đã góp phần tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tuy nhiên, sự phát triển này cũng gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường, chủ yếu do chất thải và rác thải từ các công ty, ảnh hưởng trực tiếp đến tài nguyên nước.
Nghiên cứu của các chuyên gia môi trường cho thấy, các chất thải nguy hiểm như chất phóng xạ, phốt pho, thuốc trừ sâu, dầu nhờn và chất thải y tế có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người thông qua hành vi chôn lấp Cụ thể, thuốc trừ sâu khi chôn lấp sẽ lan truyền vào tầng nước ngầm, nguồn nước mà người dân hiện đang sử dụng cho sinh hoạt, từ đó có nguy cơ gây ung thư Theo thống kê của Chi cục Bảo vệ môi trường TPHCM năm 2015, thành phố này phát sinh từ 250 đến 500 tấn chất thải nguy hại mỗi ngày, chưa kể khoảng 100 – 150 tấn chất thải từ các địa phương lân cận đưa về để xử lý.
2.1.2 Xả nước thải, đưa các chất thải vào vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt; xả nước thải chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật vào nguồn nước
Theo thống kê của Bộ Y tế năm 2017, chỉ khoảng 60% trong số gần 13.000 cơ sở y tế, bao gồm bệnh viện, phòng khám và trạm y tế trên toàn quốc, đáp ứng tiêu chuẩn về hệ thống xử lý nước thải y tế.
Giá của các chuyên gia trong lĩnh vực môi trường hiện nay vẫn còn thấp, cho thấy môi trường sống, đặc biệt là môi trường nước, đang đối mặt với nhiều nguy cơ rủi ro cao, ảnh hưởng đến nguồn nước ngầm và nước mặt Để ngăn chặn và giảm thiểu tình trạng xả thải không đạt tiêu chuẩn, chính phủ đã ban hành nghị định số 117/2009/NĐ-CP nhằm xử lý vi phạm pháp luật trong bảo vệ môi trường Mức xử phạt được chia thành hai loại, trong đó đối với hành vi xả nước thải vượt tiêu chuẩn kỹ thuật dưới 2 lần sẽ có các biện pháp xử lý cụ thể.
Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng trong trường hợp thải lượng nước thải nhỏ hơn 10m3/ngày (24 giờ)
Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng trong trường hợp thải lượng nước thải từ 10m3/ngày (24 giờ) đến dưới 50m3/ngày (24 giờ)
Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng trong trường hợp thải lượng nước thải từ 50m3/ngày (24 giờ) đến dưới 500m3/ngày (24 giờ)
Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng trong trường hợp thải lượng nước thải từ 500m3/ngày đến dưới 2.000m3/ngày (24 giờ)
Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng trong trường hợp thải lượng nước thải từ 2.000m3/ngày đến dưới 5.000m3/ngày (24 giờ)
Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng trong trường hợp thải lượng nước thải từ 5.000m3/ngày đến dưới 10.000m3/ngày (24 giờ)
Hành vi xả thải nước thải từ 10.000m3/ngày trở lên sẽ bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng Ngoài ra, nếu xả nước thải vượt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật từ 2 lần trở lên, cũng sẽ bị xử lý nghiêm khắc.
Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng trong trường hợp thải lượng nước thải nhỏ hơn 10m3/ngày (24 giờ)
Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng trong trường hợp thải lượng nước thải từ 10m3/ngày (24 giờ) đến dưới 50m3/ngày (24 giờ)
Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng trong trường hợp thải lượng nước thải từ 50m3/ngày (24 giờ) đến dưới 500m3/ngày (24 giờ)
Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng trong trường hợp thải lượng nước thải từ 500m3/ngày đến dưới 2.000m3/ngày (24 giờ)
Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng trong trường hợp thải lượng nước thải từ 2.000m3/ngày đến dưới 5.000m3/ngày (24 giờ)
Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng trong trường hợp thải lượng nước thải từ 5.000m3/ngày đến dưới 10.000m3/ngày (24 giờ)
Hành vi xả thải nước vượt quá tiêu chuẩn kỹ thuật từ 5 lần trở lên có thể bị phạt tiền từ 150.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng nếu lượng nước thải đạt từ 10.000m3/ngày (24 giờ) trở lên.
Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng trong trường hợp thải lượng nước thải nhỏ hơn 10m3/ngày (24 giờ)
Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng trong trường hợp thải lượng nước thải từ 10m3/ngày (24 giờ) đến dưới 50m3/ngày (24 giờ)
Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng trong trường hợp thải lượng nước thải từ 50m3/ngày (24 giờ) đến dưới 500m3/ngày (24 giờ)
Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng trong trường hợp thải lượng nước thải từ 500m3/ngày đến dưới 2.000m3/ngày (24 giờ)
Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng trong trường hợp thải lượng nước thải từ 2.000m3/ngày đến dưới 5.000m3/ngày (24 giờ)
Phạt tiền từ 150.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng trong trường hợp thải lượng nước thải từ 5.000m3/ngày đến dưới 10.000m3/ngày (24 giờ)
Phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng trong trường hợp thải lượng nước thải từ 10.000m3/ngày (24 giờ) trở lên
20 Đối với hành vi xả nước thải vượt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật từ 10 lần trở lên thì:
Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng trong trường hợp thải lượng nước thải nhỏ hơn 10m3/ngày (24 giờ)
Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng trong trường hợp thải lượng nước thải từ 10m3/ngày (24 giờ) đến dưới 50m3/ngày (24 giờ)
Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng trong trường hợp thải lượng nước thải từ 50m3/ngày (24 giờ) đến dưới 500m3/ngày (24 giờ)
Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng trong trường hợp thải lượng nước thải từ 500m3/ngày đến dưới 2.000m3/ngày (24 giờ)
Phạt tiền từ 150.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng trong trường hợp thải lượng nước thải từ 2.000m3/ngày đến dưới 5.000m3/ngày (24 giờ)
Phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng trong trường hợp thải lượng nước thải từ 5.000m3/ngày đến dưới 10.000m3/ngày (24 giờ)
Phạt tiền từ 250.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng trong trường hợp thải lượng nước thải từ 10.000m3/ngày (24 giờ) trở lên
2.1.3 Xả khí thải độc hại trực tiếp vào nguồn nước; xả nước thải vào lòng đất thông qua các giếng khoan, giếng đào và các hình thức khác nhằm đưa nước thải vào trong lòng đất; gian lận trong việc xả nước thải
Tầng nước ngầm đóng vai trò quan trọng trong đời sống tự nhiên và xã hội, đặc biệt ở những khu vực khí hậu khô hạn, nơi mà mực nước mặt giảm nhanh vào mùa hè, dẫn đến tình trạng thiếu nước Trong những thời điểm này, nước ngầm trở thành nguồn cung cấp thiết yếu cho sinh hoạt và sản xuất, đặc biệt trong nền nông nghiệp lúa nước của Việt Nam Tuy nhiên, sự phát triển của các nhà máy và xí nghiệp theo chủ trương nông thôn mới đang gây áp lực lên chất lượng nguồn nước ngầm, làm giảm hiệu quả của nguồn tài nguyên quý giá này.
Hiện nay, một số cá nhân và tổ chức không tuân thủ quy trình xả thải, vi phạm quy định của nhà nước Điển hình là công ty tinh bột Gensun tại Đắk Nông đã bị phát hiện xả thải vượt quy định vào nguồn nước ngầm Để xử lý tình trạng này, chính phủ đã ban hành Nghị định 142/2013/NĐ-CP, quy định tại khoản 8 điều 14 rằng hành vi xả nước thải vào lòng đất qua các giếng khoan sẽ bị phạt tiền từ 220.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng.
2.1.4 Đặt vật cản, chướng ngại vật, xây dựng công trình kiến trúc, trồng cây trái phép gây cản trở thoát lũ, lưu thông nước ở các sông, suối, hồ, kênh, rạch
Việt Nam hiện đang đứng trong top 11 quốc gia có chất lượng cuộc sống tốt theo bảng xếp hạng của Ngân hàng Thế giới, nhờ vào sự chú trọng phát triển kinh tế và cải thiện cảnh quan đô thị Tuy nhiên, các dự án này, nhằm mục đích kinh tế, đã ảnh hưởng tiêu cực đến tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là nguồn nước Dự án "Cải tạo cảnh quan và phát triển đô thị ven sông Đồng Nai", hay còn gọi là "dự án lấn sông Đồng Nai", đã gặp phải sự phản đối mạnh mẽ từ các nhà khoa học thuộc mạng lưới sông ngòi Việt Nam (VRN) Theo VRN, dự án này do công ty Cổ Phần Toàn Thịnh Phát làm chủ đầu tư đã vi phạm 5 luật quan trọng, bao gồm Luật tài nguyên nước, Luật bảo vệ môi trường, Luật đê điều, Luật phòng chống thiên tai và Luật xây dựng Do đó, vào tháng 9/2015, dự án đã bị thẩm định lại và buộc phải dừng lại Chính phủ cũng đã quy định mức xử phạt cho hành vi lấn sông, cản trở hệ thống thoát lũ, với mức phạt tiền từ 200.000 đồng.
500.000 đồng đối với hành vi đặt vật cản, chướng ngại vật, trồng cây gây cản trở thoát lũ, lưu thông nước ở các sông, suối, hồ, kênh rạch”
2.1.5 Khai thác trái phép cát, sỏi trên sông, suối, kênh, rạch, hồ chứa; khai thác khoáng sản, khoan, đào, xây dựng nhà cửa, vật kiến trúc, công trình và các hoạt động khác trong hành lang bảo vệ nguồn nước gây sạt, lở bờ sông, suối, kênh, rạch, hồ chứa hoặc gây ảnh hưởng nghiêm trọng, uy hiếp đến sự ổn định, an toàn của sông, suối, kênh, rạch, hồ chứa
Sông Hồng là một trong những lưu vực lớn nhất Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt Tuy nhiên, trong những năm qua, tình trạng khai thác cát trái phép trên lưu vực sông Hồng đã gia tăng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chế độ dòng chảy và dẫn đến sạt lở đất Vào tháng 11 năm 2016, Công an Hà Nội đã bắt giữ Phạm Thị Nguyệt Nga vì khai thác cát trái phép với số lượng lớn, gây thiệt hại cho môi trường Theo Nghị định 142/2013/NĐ-CP, việc khai thác cát trái phép được quy định rõ ràng và nghiêm cấm.
Các giải pháp do tác giả đề xuất
Nước là tài nguyên quý giá, thiết yếu cho sự sống và phát triển của con người Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế nhanh chóng của các quốc gia đã ảnh hưởng đến cả lượng và chất của nguồn nước Để quản lý và sử dụng nước một cách bền vững, cần chú trọng đến các yếu tố quan trọng.
Nâng cao giáo dục về bảo vệ tài nguyên nước trong trường học thông qua các hoạt động ngoại khóa và kiến thức liên quan đến nước Tăng cường tổ chức các buổi tiếp xúc và gặp gỡ cộng đồng để tuyên truyền và vận động mọi người tham gia bảo vệ nguồn tài nguyên nước.
Chúng tôi liên tục cải thiện, hỗ trợ và đào tạo đội ngũ cán bộ tại các địa phương nhằm nâng cao kiến thức về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên nước.
Đẩy mạnh mô hình bảo vệ tài nguyên nước dựa vào cộng đồng là cách hiệu quả để giao trách nhiệm và nghĩa vụ cho người dân Điều này không chỉ giúp nâng cao kiến thức cho cộng đồng mà còn tạo ra nguồn thu nhập bổ sung, góp phần cải thiện đời sống hằng ngày.
Áp dụng các nghiên cứu khoa học vào lĩnh vực nước giúp nâng cao hiệu quả trong việc quản lý và bảo vệ tài nguyên nước Việc sử dụng các mô hình dự báo và ước lượng tài nguyên nước là cần thiết để đảm bảo sự bền vững cho nguồn tài nguyên quý giá này.
Hình 7 Đoàn thanh niên kết hợp người dân làm sạch môi trường hai bên sông