1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đền hồng sơn với việc phát triển du lịch ở thành phố vinh nghệ an

71 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đền Hồng Sơn Với Việc Phát Triển Du Lịch Ở Thành Phố Vinh – Nghệ An
Tác giả Phạm Văn Phước
Người hướng dẫn Lê Thị Hải Lý
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Việt Nam Học (Chuyên Ngành: Du Lịch)
Thể loại khóa luận tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2012
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,01 MB

Cấu trúc

  • 1. Lí do chọn đề tài (7)
  • 2. Lịch sử nghiên cứu của đề tài (9)
  • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (11)
  • 4. Nhiệm vụ nghiên cứu (11)
  • 5. Mục đích của khóa luận (11)
  • 6. Nguồn tài liệu và phươn pháp nghiên cứu (11)
  • 7. Ý nghĩa thực tiễn và đóng góp của đề tài (12)
  • 8. Kết cấu của khóa luận (12)
  • CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA ĐỀN HỒNG SƠN (13)
    • 1.1. Lịch sử hình thành và quá trình xây dựng đền Hồng Sơn (13)
    • 1.2. Cấu trúc của Đền Hồng Sơn (14)
      • 1.2.1. Vị trí địa lý và đặc điểm kết cấu bên ngoài của đền Hồng Sơn (0)
      • 1.2.2. Đặc kết cấu bên trong của đền Hồng Sơn và hệ thống bài trí các điện thờ (0)
    • 1.3. Lễ hội Đền Hồng Sơn (26)
  • CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI ĐỀN HỒNG SƠN (28)
    • 2.1. Vị thế của đền Hồng Sơn đối với hoạt động du lịch ở tỉnh Nghệ An (28)
      • 2.1.1. Giá trị lịch sử - văn hóa của đền Hồng Sơn (0)
      • 2.1.2. Vai trò của đền Hồng Sơn trong đời sống tâm linh của người dân (0)
    • 2.3. Thực trạng hoạt động du lịch ở đền Hồng Sơn (32)
      • 2.3.1. Thực trạng hoạt động lễ hội trong việc phát triển du lịch ở đền Hồng Sơn (0)
      • 2.3.2. Thực trạng doanh thu và thị trường khác (35)
      • 2.3.3. Thực trạng cơ sở hạ tầng - cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch (0)
      • 2.3.4. Thực trạng nguồn nhân lực (0)
      • 2.3.5. Thực trạng công tác quản lý (42)
      • 2.3.6. Thực trạng hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch (0)
  • CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI ĐỀN HỒNG SƠN (50)
    • 3.1. Mục tiêu và định hướng phát triển (50)
    • 3.2. Một số giải pháp nhằm phát triển du lịch tại đền Hồng Sơn (51)
      • 3.2.1. Giải pháp đầu tư và quy hoạch (52)
      • 3.2.2. Giải pháp về nguồn nhân lực (0)
      • 3.2.3. Giải pháp tuyên truyền quảng bá du lịch (0)
      • 3.2.4. Thiết kế các tour du lịch có điểm đến là di tích lịch sử đền Hồng Sơn 52 3.2.5. Giải pháp liên quan đến vấn đề môi trường (0)
      • 3.2.6. Giải pháp bảo tồn – Quản lý (0)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (67)
  • PHỤ LỤC (69)

Nội dung

Lịch sử nghiên cứu của đề tài

Đền Hồng Sơn ở thành phố Vinh, Nghệ An là một đề tài được nhiều công trình và bài viết nghiên cứu, đăng tải trên các ấn phẩm địa phương và trung ương.

- Chu Trọng Huyến "Lịch sử Phường Hồng Sơn" nhà xuất bản Nghệ

Cuốn sách này tập trung vào việc đánh giá vị trí lịch sử và văn hóa của ngôi đền qua các thời kỳ, nhưng vẫn còn nhiều thiếu sót, đặc biệt là trong phần thời gian.

4 gian còn nhiều chỗ chưa chính xác như: thời gian ra đời và việc trùng tu của ngôi đền

Chu Trọng Huyến trong tác phẩm "Nghệ An di tích danh thắng" (NXB Sở Văn hóa Thông tin Nghệ An, 2-2001) đã khái quát đặc điểm kiến trúc nghệ thuật của đền Hồng Sơn và lễ hội liên quan, nhưng chưa đề cập cụ thể đến vị trí lịch sử và văn hóa của đền Hồng Sơn trong đời sống tâm linh của người dân địa phương.

Cuốn sách "Tục thờ thần và thần tích ở Nghệ An" của Ninh Viết Giao, xuất bản bởi NXB Sở Văn hóa Thông tin Nghệ An năm 2001, đã trình bày rõ nét các phong tục thờ cúng thần thánh tại Nghệ An Tác phẩm cũng khám phá tín ngưỡng phụng thờ các vị thánh tại các đền thờ trong khu vực này.

Hồng Sơn nhưng chỉ mang tính chất khái quát mà chưa nêu lên được vị trí lịch sử và kiến trúc ở đền Hồng Sơn

- Nguyễn Duy Đối "Đền Hồng Sơn đôi điều trao đổi và mong muốn"

NXB Sở văn hoá Thông tin Nghệ An (2001)

Nguyễn Trọng Phú và Kim Thanh Tuấn, trong bài viết "Đền Hồng Sơn - một di tích lịch sử cấp quốc gia", đã đóng góp cho nội san nhà sử học trẻ số 1 năm 2002 của Khoa Lịch sử, Đại học Vinh Bài viết tập trung vào giá trị lịch sử và văn hóa của Đền Hồng Sơn, khẳng định tầm quan trọng của di tích này trong di sản văn hóa Việt Nam.

- Đỗ Minh Nụ "Địa chỉ lễ hội Nghệ An" NXB Sở văn hoá Thông tin

Đền Hồng Sơn, được nhắc đến trong bài viết từ Nghệ An (2 - 2002), chỉ được đề cập đến khía cạnh lễ hội mà chưa cung cấp đầy đủ thông tin về nguồn gốc và kiến trúc của đền.

Các tác phẩm và tài liệu tạp chí hiện tại chưa phản ánh đầy đủ vị trí của đền Hồng Sơn trong tâm linh của người dân địa phương Chúng chỉ dừng lại ở mức độ khảo sát mà chưa đánh giá hết giá trị của di tích, bao gồm cả tiềm năng phát triển du lịch tâm linh Do đó, thực trạng và giải pháp phát triển cho di tích này vẫn chưa được đề cập.

Cho đến nay, chưa có tác phẩm nào nghiên cứu một cách khoa học về ngôi đền, mặc dù nó mang giá trị lịch sử, văn hóa và du lịch tâm linh quan trọng Việc thiếu sót này đã dẫn đến việc chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu nhằm làm rõ giá trị của ngôi đền cũng như thực trạng phát triển và các giải pháp cần thiết để thúc đẩy du lịch tại đây Điều này không chỉ góp phần vào việc bảo tồn văn hóa mà còn nâng cao giá trị du lịch của ngôi đền.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Khóa luận của tôi tập trung làm sáng tỏ những vấn đề sau:

- Đưa ra được các giá trị cơ bản như giá trị lịch sử, văn hóa, giá trị kiến trúc của ngôi đền

- Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch gắn với di tích đền Hồng Sơn.

Mục đích của khóa luận

Khóa luận tốt nghiệp này tập trung vào việc làm rõ các giá trị cốt lõi của di tích đền Hồng Sơn, bao gồm giá trị lịch sử - văn hóa và kiến trúc, đồng thời nhấn mạnh vai trò của di tích trong việc phục vụ đời sống tâm linh của người dân địa phương và du khách Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng liên kết các giá trị này với sự phát triển du lịch của địa phương và tỉnh Khóa luận sẽ phân tích thực trạng phát triển du lịch, chỉ ra những thuận lợi và khó khăn, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao giá trị du lịch của di tích Cuối cùng, nghiên cứu còn nhằm tuyên truyền hình ảnh di tích đến các địa phương khác và trên toàn quốc trong hoạt động du lịch.

Nguồn tài liệu và phươn pháp nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu được xây dựng dựa trên việc thu thập tài liệu từ thư viện tỉnh Nghệ An, thư viện trường Đại học Vinh và Sở Văn hóa – Thể thao.

Tỉnh Nghệ An, đặc biệt là thành phố Vinh, chú trọng vào việc phát triển du lịch thông qua các chính sách của Đảng và Nhà nước Các tài liệu liên quan và thông tin trên mạng internet cũng đóng vai trò quan trọng trong việc quảng bá văn hóa địa phương Đặc biệt, những nhân chứng sống từ ban quản lý di tích đền Hồng Sơn góp phần làm phong phú thêm thông tin và giá trị văn hóa của khu vực này.

- Phương pháp nghiên cứu: để thực hiện đề tài này trong quá trình nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

+ Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế

+ Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp tài liệu

Ý nghĩa thực tiễn và đóng góp của đề tài

Bài viết nhằm cung cấp tài liệu tham khảo cho sinh viên ngành Du lịch, với cái nhìn tổng quát về giá trị và thực trạng khai thác du lịch tại di tích lịch sử - văn hóa đền Hồng Sơn Kết quả nghiên cứu sẽ có ứng dụng thực tiễn tại phường Hồng Sơn và các địa phương khác trên cả nước, góp phần vào việc phát triển du lịch bền vững trong tương lai.

Khóa luận trình bày các ý tưởng và giải pháp nhằm khai thác tiềm năng, giá trị của di tích lịch sử - văn hóa đền Hồng Sơn, từ đó xây dựng một điểm du lịch hấp dẫn Mục tiêu là làm phong phú thêm hình ảnh du lịch tỉnh Nghệ An, phù hợp với định hướng phát triển du lịch của tỉnh và quốc gia.

Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận gồm 3 chương:

Chương 1 : Khái quát chung về đền Hồng Sơn

Chương 2: Thực trạng hoạt động du lịch tại đền Hồng Sơn

Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển du lịch tại đền Hồng Sơn

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA ĐỀN HỒNG SƠN

Lịch sử hình thành và quá trình xây dựng đền Hồng Sơn

Đền Hồng Sơn, nằm ở trung tâm thành phố Vinh, Nghệ An, là một di tích quý giá với quy mô và cảnh quan lý tưởng Công trình kiến trúc đẹp này thuộc thời Nguyễn, chiếm diện tích 6250 mét vuông, mang đến một không gian văn hóa và lịch sử độc đáo.

Theo sách “An tĩnh xưa”, đền Hồng Sơn, trước đây là võ miếu linh từ, được xây dựng từ thời Trần để thờ Quan văn Trường, một vị tướng tài ba và trung nghĩa thời Tam Quốc Ông đã giúp Lưu Bị xây dựng nhà Thục và được tôn vinh là vị Thánh Việt Nam, với tinh thần thượng võ và lòng trọng đạo lý, đã tôn thờ ông như người đứng đầu hàng võ quan thời bấy giờ.

Theo văn bia ( bên trái đi vào Tam quan ), mở đầu đã ghi lịch sử Đền,

Hoan Châu là vùng đất nổi tiếng với nhiều linh tích, đặc biệt là Đền Quan Phu Tử Thọ Đình Hầu, một gò thiêng cao vút được xây dựng vào năm Minh Mệnh 12 (1831) bởi quan Phiên trấn Nguyễn Đình Hưng Đền Hồng Sơn, còn gọi là đền Nhà Ông, nằm gần hội quán Hoa Kiều bên kia đường Nguyễn Công Trứ Trong khuôn viên hội quán có đền Nhà Bà thờ bà Lư Hậu, mẹ của Lưu Bị, nên người dân thường gọi là đền Nhà Ông để dễ phân biệt.

Sau những biến cố lớn của lịch sử, đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, nhân dân thành phố Vinh đã thực hiện tiêu thổ để bảo vệ quê hương.

Đền Hồng Sơn, mặc dù trải qua nhiều kháng chiến và bị tàn phá bởi bom đạn của đế quốc Mỹ, vẫn tồn tại và giữ nguyên dáng vẻ kiến trúc thời Nguyễn Đây là nơi hội tụ của các vị thần linh như vua, Mẫu, Phật, Thánh và các bách gia trăm họ từ các đền chùa trong thành phố Vinh và vùng lân cận đã bị hư hỏng Đền Hồng Sơn không chỉ là biểu tượng văn hóa mà còn phản ánh sự đa dạng trong quan niệm “Tam giáo đồng nguyên” trong tín ngưỡng dân gian của người Việt Nam.

Phường Hồng Sơn được thành lập vào năm 1982, và di tích Võ Miếu, đền Nhà Ông đã mang tên địa danh của phường, hình thành tên gọi Hồng Sơn Tên gọi của di tích này đã luôn thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử, phản ánh sự phát triển của địa phương.

Năm 1984, Đền Hồng Sơn tại phường Hồng Sơn, Thành phố Vinh được công nhận là Di tích cấp Quốc gia UBND tỉnh Nghệ An đã quyết định phân cấp cho Tỉnh, Thành phố và phường cùng quản lý di tích này.

Cấu trúc của Đền Hồng Sơn

1.2.1 Vị trí địa lý và đặc điểm kết cấu bên ngoài của đền Hồng Sơn

Ngày nay, đền Hồng Sơn thuộc địa phận khối 1- phường Hồng Sơn thành phố Vinh có vị trí địa lý như sau:

Phía Bắc giáp đại lộ Phan Đình Phùng và khu dân cư

Phía Nam giáp sông Vinh, bến Cửa Tiền và đường Hồng Sơn

Phía Đông giáp đường Tô Hiến Thành

Phía Tây giáp với khu vực cơ quan công ty ăn uống

Toàn bộ khu di tích có tường bao bọc

Đền Hồng Sơn, với diện tích 5.923,35m², là một công trình lớn được khởi công xây dựng vào năm 1831 dưới triều vua Minh Mệnh và hoàn thành vào năm 1837 với phần thượng điện và trung điện.

Hạ điện, tả vu, hữu vu, cổng tam quan, cột hoa biểu và hồ bán nguyệt xây dựng năm 1910

Năm 1968 toà hạ điện, tả vu, hữu vu bị bom Mỹ phá huỷ, đến năm

1990 nhà tả vu được bảo tàng Nghệ An phục hồi lại để làm phòng hội họp và tiếp khách

Hiện nay nhà hữu vu dùng để cho nhân dân soạn lễ, nghỉ ngơi, sửa sang tư trang lễ phục trước khi ra làm lễ tại đền

Tháng 5 năm 1998 nhà nước đầu tư xây dựng phục hồi lại nhà tả điện và hoàn thành vào ngày 25/09/1998 trả lại dáng vẻ uy nghiêm cổ kính cho đền

Trong những thập niên đầu thế kỷ XX đền Hồng Sơn có diện mạo như sau:

Bên trong đền được trang trí với đồ tế khí theo phong cách cổ điển, trong khi phía trước nổi bật với bức bình phong và hai cây cột nanh cao rực rỡ Ở bên trái sân vào, có một cái am nhỏ chứa tấm bia ghi chép các sự kiện quan trọng liên quan đến đền.

Quang cảnh gợi nét điển hình của kiểu kiến trúc đền đài thời Minh Mạng (1820 - 1840)

Trước bức bình phong của ngôi đền, hai khẩu súng thần công thời Gia Long Minh Mạng được đặt trang trọng Qua thời gian, ngôi đền đã trải qua nhiều lần tu sửa và nâng cấp, hiện nay sở hữu quang cảnh nguy nga, khang trang với quy mô đồ sộ, bao gồm 19 công trình kiến trúc hoàn hảo.

Tường rào, cổng, hồ bán nguyệt, tam quan, tắc môn và cột nanh là những công trình kiến trúc từ thời Nguyễn, trong khi các công trình khác được xây dựng sau này Bố trí các công trình tại đây tuân theo nguyên tắc đối xứng từng cặp và được nâng dần từ ngoài vào trong.

10 cao nhất, sâu nhất là nhà thượng điện tạo cho đền thế vững chắc và sự thâm nghiêm

Hồ nằm trong khuôn viên của đền, tạo nên một không gian đẹp và thanh tịnh, có tác dụng điều hòa không khí Với hòn non bộ bên trong, hồ không chỉ mang lại chiều sâu mà còn giúp thư giãn tâm hồn Hồ bán nguyệt có đường kính 15,25m và diện tích 90,6m, góp phần làm nổi bật vẻ đẹp của khu vực xung quanh.

Cột nanh đội đèn không chỉ là cột nanh mà còn là cột đăng, giúp người đi trên sông Cửa Tiền cảm nhận ánh sáng từ ngọn đèn, mang lại sự vững tâm giữa đêm tối mênh mông Để vào đền, du khách sẽ gặp tấm gương soi hồ bán nguyệt cùng ánh đèn soi tỏ, tạo nên một khung cảnh lung linh và huyền ảo.

Hồ bán nguyệt có đường kính 15,25m với diện tích 90,6m

Nền tam quan cao hơn mặt sân 0,65 m, tạo chiều sâu và nâng cao dần cho kiến trúc Thông thường, tam quan có ba cổng: một cổng chính giữa và hai cổng phụ hai bên Tuy nhiên, ở đây, tắc môn được xây tại vị trí cổng chính, nối liền hai cổng phụ, với thiết kế hai cánh cửa khép kín Do đó, việc ra vào đền chỉ có thể thực hiện qua hai cổng phụ.

Hai nhà bia ở hai bên đường của sân Ngự Uyển cách sân tiền án 2,5m Hai nhà bia đối diện nhau khoảng cách giữa hai nhà cách nhau 15m

Bia đá phía trước tam quan bên trái được đặt bằng đá xanh, khắc chữ Hán Trên trán bia, hoa văn lưỡng long chầu nguyệt được khắc tinh xảo, xung quanh được trang trí bằng hoa dây.

Trán cao 0,225m, chân bia cao 0,45m

Nội dung bia ghi việc trùng tu đền do án sát tỉnh Nghệ An Đào Phan Duân phụng soạn

Bia được làm vào năm Duy Tân thứ 3

- Bia đá đặt phía phải Tam quan (bia phải) cao 1,06m, rộng 0,69m, trán cao 0,23m, chân đế 0,62m

Nội dung: ghi chép việc trùng tu di tích ở mặt trước, mặt sau ghi tên người công đức Niên đại Bảo Đại năm thứ hai

Bên phải sân ngoài, có một giá treo chuông cố định với chuông đồng nặng 522 kg, đường kính đáy 0,715m và chiều cao thân chuông là 1m, chu vi 1,82m Quai chuông cao 0,42m, các núm chuông đã bị đánh lõm Trên thân chuông, có khắc nổi chữ Hán ghi rõ "Gia Long thập nhị niên, lục nguyệt thập nhị nhật ký" (ghi vào 22/6/1812), cùng với nội dung "Bản trấn đa sỹ tiễn tam bách nhị khoá nhất bách tam thập văn bản đồng chú thành chung, ngũ bách nhị thập nhị cân."

- Nghệ An tiến cửu đốc học Cốn Thanh Bá Bùi Dương Lịch thịnh soạn"

Dưới tường gắn bia đá, bia bằng đá xanh Thanh Hoá

Rộng 1,718m, cao 0,90m, trán cao 0,24m trán hình mặt nguyệt, xung quanh trang trí diềm hoa dây

Mặt trước của bia có nội dung:

Ghi chép việc trùng tu di tích, ở trán bia có dòng chữ Hán "Minh Mệnh thập bất niên, thập nguyệt thập các nhật (10/10 năm Minh Mệnh thứ 18)"

Nghệ An đốc học Nguyễn Đình Lập đã thực hiện việc thờ phân châm lập hướng cho đốc ông Hồ Văn Lưu, một nhân vật nổi bật trong lĩnh vực cường võ và bảo vệ danh tướng quân Công trình này được hoàn thành từ năm Minh Mệnh thứ 13 đến năm Minh Mệnh thứ 18, thể hiện sự tôn kính và tri ân đối với những đóng góp của ông Hồ Văn Lưu trong quân đội.

Gác phía trên treo trống đại, phía dưới tường gắn bia

Nội dung bia: Ghi tên những người công đức sau khi khánh thành di tích năm Minh Mệnh thứ 18

Linh quan và hữu linh tướng được đặt để bảo vệ đền, với hai pho tượng lớn mang vẻ oai vệ Quan văn mặc áo phượng và quan võ mặc áo hổ, thể hiện sự uy nghiêm và linh thiêng Khác với các di tích khác, tượng hộ môn không gắn vào tường mà được đặt ngay trong ngôi ngũ tháp cao, tượng trưng cho quyền lực và sự kiểm soát của hai vị, cho phép khách thập phương vào đền, thường bắt đầu từ việc thắp hương từ bên ngoài vào.

Về phần âm hai vị hộ pháp ngăn giữ các vong linh không được thờ phụng và ngũ quỷ không cho vào đền

Các nghệ nhân xứ Nghệ đã khéo léo kết hợp tài năng và sự sáng tạo để xây dựng một ngôi đền mang giá trị vật chất và văn hóa tinh thần Ngôi đền không chỉ là một di sản sống động mà còn là minh chứng lịch sử, thể hiện bản lĩnh mạnh mẽ và bản sắc văn hóa dân tộc độc đáo.

1.2.2 Đặc kết cấu bên trong của đền Hồng Sơn và hệ thống bài trí các điện thờ

Kiến trúc tổng thể của ngôi đền lớn được bố trí hài hòa từ bên ngoài đến kết cấu bên trong, với ba tòa nhà chính: hạ điện, trung điện và thượng điện, tạo nên vẻ đẹp ấn tượng và sự cân đối cho công trình.

Nhà Hạ Điện, được trùng tu hoàn chỉnh vào năm 1998, mang đậm phong cách kiến trúc thời Nguyễn với diện tích 273,91m² Công trình này có chiều cao nền cao hơn sân 0,40m và được xây dựng với chiều trung điện 3,58m, tạo nên vẻ đồ sộ và uy nghiêm.

13 Đây là một công trình được giới chuyên môn đánh giá là thành công nhất ở Nghệ An trong việc trùng tu di tích

Trên bờ nóc của nhà hạ điện, hoa văn rồng chầu mặt nguyệt được trang trí tinh xảo Cột nhà to cao, làm từ gỗ lim và sơn son hoạ rồng, tạo nên sự vững chãi cho ngôi đền Từ sân nhìn lên, mái đôi rồng chầu mặt trăng uốn lượn với các bờ dải hoạ tiết trang trí tỉ mỉ, rồng được tráng men ngũ sắc, mang đến vẻ đẹp độc đáo cho công trình.

Tại hạ điện có treo ba bức đại tự:

Lễ hội Đền Hồng Sơn

* Lễ hội đền Hồng Sơn là lễ hội vùng của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ

An Hàng năm đền Hồng Sơn có 3 lễ hội lớn diễn ra vào các ngày:

- Ngày 02 và ngày 03 tháng 3 âm lịch để tưởng nhớ Đức Thánh Mẫu

- Ngày 09 và ngày 10 tháng 3 âm lịch để tưởng nhớ đến vua Hùng

- Ngày 19 và ngày 20 tháng 8 âm lịch để tưởng nhớ đến Trần Hưng Đạo, người đã lãnh đạo nhân dân ta 3 lần đánh tan quân xâm lượng Nguyên Mông

* Giỗ Thánh Mẫu: Ngày 03 tháng 3 âm lịch

- Chiều 02 tháng 3 âm lịch: Lễ yết cáo

- Ngày 03 tháng 3 âm lịch: Đại tế lễ tại đền

*Giỗ tổ Hùng Vương: Ngày 10 tháng 3 âm lịch

- Chiều ngày 09 tháng 3 âm lịch: Lễ yết cáo

- Sáng ngày 10 tháng 3 âm lịch: Đại lễ tại đền

- Chiều ngày 10 tháng 3 âm lịch: Lễ tạ

*Giỗ Trần Hưng Đạo: Ngày 20 tháng 8 âm lịch

- Chiều ngày 19 tháng 8 âm lịch: Lễ yết cáo

- Sáng ngày 20 tháng 8 âm lịch:

+ Lễ mít tinh kỷ niệm rước kiệu từ địa điểm mít tinh về đền

+ Rước kiệu từ đền về các di tích

+ Chiều ngày 20 tháng 8 âm lịch: Lễ tạ

*Phần hội: Diễn ra từ ngày 19 tháng 8 âm lịch đến ngày 20 tháng 8 âm lịch

- Các trò chơi dân gian: chọi gà, cờ thẻ, cờ người

- Thể thao: Bóng chuyền, bóng bàn

- Văn hóa, văn nghệ: Hát chầu văn

- Tham quan di tích danh thắng: Chùa Cần Linh, di tích thành Phượng Hoàng Trung Đô

Trưng bày các loại sách ảnh về danh nhân được thờ tại đền Hồng Sơn, cùng với các ấn phẩm văn hóa liên quan đến di tích và danh thắng khác của tỉnh Nghệ An.

Đền Hồng Sơn, tọa lạc giữa trung tâm thành phố Vinh, Nghệ An, là một di tích quý hiếm với kiến trúc độc đáo thời Nguyễn, mang giá trị lịch sử và văn hóa sâu sắc Đây không chỉ là điểm đến hấp dẫn cho du khách trong và ngoài nước, mà còn là nơi thiêng liêng, thể hiện tâm linh của người dân thành phố Vinh và Nghệ An.

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI ĐỀN HỒNG SƠN

Vị thế của đền Hồng Sơn đối với hoạt động du lịch ở tỉnh Nghệ An

2.1.1 Giá trị lịch sử - văn hóa c ủa đền Hồng Sơn

Ngôi đền được thiết kế với hình dạng chữ V, kết hợp hệ thống lầu mái cong đa dạng về kích thước, tạo nên một vẻ đẹp sinh động và hài hòa, giúp giảm bớt sự nặng nề của kiến trúc khối lớn.

Hệ thống nhà đền được xây dựng bằng vật liệu cứng như đá và gạch, nhưng với thiết kế mềm mại và bố trí hài hòa, chúng vẫn mang lại vẻ nhẹ nhàng Trên bờ nóc, các chi tiết hoa rồng và hoa dây được khắc họa tinh xảo, tạo nên vẻ đẹp uy nghi cho ngôi đền, thể hiện lối kiến trúc cổ độc đáo với đường nét phong phú Những đề tài điêu khắc này không chỉ phản ánh sự khéo léo và trí tuệ của các nghệ nhân mà còn thể hiện sự sáng tạo và tính hài hước của họ.

Đền Hồng Sơn được xây dựng tại một vị trí đặc biệt, không có núi xanh nhưng lại có dòng nước biếc, thể hiện sự hài hòa giữa phong cách thể và hình khối kiến trúc.

Dòng sông Vinh không chỉ tạo thành đường viền phía Tây Nam thành phố mà còn là cửa ngõ của ngôi đền, được gọi là bến Cửa Tiền Trên sông, thuyền bè hoạt động suốt ngày đêm, thực hiện nhiệm vụ giao lưu hàng hóa với thành phố qua đường thủy.

Ngôi đền cổ kính soi bóng xuống dòng sông Vinh, tạo nên khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp và yên bình Sông Vinh không chỉ là sản phẩm của lao động của nhiều thế hệ mà còn là một công trình văn hóa vật chất có giá trị lịch sử hàng trăm năm.

Công trình văn hóa cổ này hòa quyện cùng thời gian và không gian, tạo nên sự hài hòa kiến trúc, làm tăng giá trị cho ngôi đền Hồng Sơn.

Vùng đất Nghệ An, từ thời tiền sử đến nay, luôn có sự hiện diện của con người, với nhiều hoạt động vật chất và tinh thần được bảo tồn Đặc biệt, đền Hồng Sơn là nơi lưu giữ một bộ sưu tập hiện vật phong phú, gồm 382 hiện vật với đa dạng hình thức và chất liệu.

Trong đó nhiều hiện vật quý như các sưu tập về tượng cổ bằng gỗ, đá, đồng, cẩm thạch có niên đại hàng trăm năm

Các chuông đồng, bia đá, khánh đá và sưu tập sắc phong từ các thời kỳ phong kiến, cùng với những tập sách kinh Phật và hệ thống hoành phi câu đối, bức đại tự có giá trị lịch sử văn hóa, đóng góp quan trọng vào việc nghiên cứu lịch sử và văn hóa con người Nghệ An qua thời gian.

Ngôi đền Hồng Sơn tọa lạc giữa trung tâm thành phố hiện đại, nổi bật giữa những tòa nhà cao tầng Với vẻ đẹp cổ kính và khung cảnh thiên nhiên xanh tươi, đền Hồng Sơn tạo nên bức tranh hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, giữ gìn giá trị văn hóa dân tộc đến ngày nay.

2.1.2 Vai trò của đền Hồng Sơn trong đời sống tâm linh của người dân

Ngôi đền Hồng Sơn từ lâu đã đóng vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân địa phương Là một phần không thể thiếu trong phong tục tín ngưỡng, ngôi đền không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tinh thần mà còn thể hiện ước vọng về sự yên bình và hạnh phúc của cộng đồng Tín ngưỡng phụng thờ tại đây đã làm phong phú thêm đời sống tâm linh, trở thành một phần phổ biến trong văn hóa của người dân nơi đây.

Tại đền Hồng Sơn, vào các ngày rằm và mồng một hàng tháng, đặc biệt là trong ba tháng đầu năm, người dân thường đến đông đảo để cầu tài lộc và giải hạn Đặc biệt, vào rằm tháng 7, người dân địa phương gửi gắm linh hồn đã khuất tại cửa đền, mong được thần thánh che chở, giúp cho người thân thanh thản và vững tâm hơn trong cuộc sống.

Ngôi đền được coi là biểu tượng uy linh trong tâm linh của người dân địa phương, nơi họ gửi gắm ước nguyện và niềm tin vào thần thánh Người dân tin rằng những điều lớn lao chưa thực hiện sẽ được thần linh phù hộ, giúp họ đạt được những mong muốn trong cuộc sống.

Ngôi đền, gắn liền với tín ngưỡng phụng thờ, đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tâm linh của người dân nơi đây Trước khi rời xa quê hương hay chuyển công tác, họ thường đến đền để thắp hương, cầu nguyện và sắp xếp lại hành lý trước khi chính thức lên đường.

Theo truyền thuyết, từ thời phong kiến, con cháu trong vùng thường đến đây để làm lễ tạ ơn sau khi đỗ đạt và trở thành quan Ngày nay, trước mỗi kỳ thi, học sinh trong phường và các khu vực lân cận đều đến đền Hồng Sơn để tiến hành lễ tế thần, cầu xin sự giúp đỡ của ngài cho mọi việc được thành công.

Theo truyền thống tín ngưỡng dân gian, đêm giao thừa đánh dấu sự khởi đầu của mùa lễ hội Vào đêm 30 Tết, người dân phường Hồng Sơn thường đến đền Hồng Sơn để thực hiện lễ tất niên, xin hương về cắm trên bàn thờ gia tiên và hái lộc đầu năm, với mong muốn gia đình sẽ thịnh vượng và hạnh phúc trong năm mới.

Thực trạng hoạt động du lịch ở đền Hồng Sơn

2.3.1 Thực trạng hoạt động lễ hội trong việc phát triển du lịch ở đền Hồng Sơn

Lễ hội là sự kiện văn hóa cộng đồng, thể hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh và phản ánh những ước mơ chưa đạt được Từ "Lễ" chỉ những hành vi tôn thờ, trong khi "Hội" đại diện cho các hoạt động văn hóa, tôn giáo và nghệ thuật, xuất phát từ nhu cầu sống của cộng đồng.

Lễ hội là hoạt động văn hóa thường niên của người dân Việt Nam, phản ánh giá trị lịch sử và văn hóa của đất nước Việt Nam có khoảng 7.966 lễ hội cổ truyền lớn nhỏ, trong đó 322 lễ hội mang tính chất lịch sử, diễn ra quanh năm Mỗi lễ hội đều có những nét đặc trưng và giá trị riêng, hướng tới các đối tượng linh thiêng như anh hùng chống ngoại xâm và những người có công trong việc dạy dỗ, cứu giúp cộng đồng Tinh thần "uống nước nhớ nguồn" thể hiện sự tri ân đối với những người đã đóng góp cho xã hội.

Ngày hội trồng cây không chỉ là dịp diễn ra sôi động với những sự tích và công trạng, mà còn là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, giúp thế hệ trẻ hiểu rõ hơn về công lao tổ tiên và tự hào về truyền thống quê hương Lễ hội ở Việt Nam gắn liền với làng xã, địa danh, và trở thành phần không thể thiếu trong đời sống cộng đồng Sự phong phú của các lễ hội không chỉ thể hiện nét đẹp văn hóa dân tộc mà còn là một trong những sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước.

Lễ hội đền Hồng Sơn là một sự kiện lịch sử mang đậm bản sắc văn hóa và tiềm năng du lịch, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế trong tổ chức, tương tự như các lễ hội khác ở Việt Nam Những hạn chế này làm giảm giá trị của lễ hội, khiến cho hoạt động du lịch không bền vững Lễ hội có quy mô nhỏ, chủ yếu là các lễ giỗ diễn ra trong ba ngày khác nhau trong năm, không đủ sức thu hút du khách lưu trú lâu dài Sự tham gia của người dân và du khách phụ thuộc vào tính linh thiêng và quy mô của lễ hội, nhưng với thời gian tổ chức ngắn và quy mô hạn chế, lễ hội không tạo được tiếng vang và sự chú ý từ xã hội, dẫn đến việc giảm tính linh thiêng của di tích.

Lễ hội tại Nghệ An thu hút ít khách du lịch, với chỉ 28 người tham gia, cho thấy sự phát triển du lịch còn hạn chế Trong khi đó, các lễ hội lớn như lễ hội đền Cờn và đền Cuông kéo dài 3 ngày đã thu hút đông đảo du khách và thúc đẩy du lịch tâm linh Thời gian tổ chức lễ hội đền Hồng Sơn có đặc điểm riêng, nhưng lại là một hạn chế trong phát triển du lịch Ngoài ra, phần hội của lễ hội đền Hồng Sơn còn thiếu sự đa dạng và sôi nổi, không có tính lịch sử và sự kiện, dẫn đến việc không thu hút được nhiều người xem và tham gia.

Yếu tố quy mô và thời gian tổ chức lễ hội tại đền Hồng Sơn chưa phát huy hết giá trị du lịch của ngôi đền Không gian tổ chức lễ hội đóng vai trò quan trọng, với diện tích 6250 mét vuông, nhưng diện tích sân lễ hội lại quá nhỏ, không đáp ứng được quy mô cần thiết Điều này dẫn đến số lượng người tham gia hạn chế, kéo theo doanh thu từ hoạt động du lịch tại đền cũng giảm sút.

Đền Hồng Sơn hiện đang đối mặt với vấn đề thiếu bãi đỗ xe cho du khách, đặc biệt trong các ngày lễ hội, dẫn đến tình trạng lộn xộn khi nhiều bãi đỗ xe tự phát xuất hiện ngay trong khuôn viên đền Điều này không chỉ làm tăng giá gửi xe mà còn ảnh hưởng đến mỹ quan của ngôi đền linh thiêng Ngoài ra, sự hiện diện của chợ trước đền gây ra tiếng ồn, làm mất đi sự yên tĩnh cần thiết và ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường xung quanh, như rác thải và mùi khó chịu.

Chính vì những lý do trên, đã làm dần mất đi giá trị linh thiêng, giá trị phát triển du lịch của ngôi đền

2.3.2 Thực trạng doanh thu và thị trường khác

Một điểm du lịch thành công cần thu hút khách từ nhiều nguồn, bao gồm khách địa phương, khách từ các tỉnh thành khác trong nước và khách quốc tế Doanh thu từ hoạt động du lịch tại các điểm đến này có thể đến từ nhiều nguồn như tiền vé vào tham quan, dịch vụ vui chơi giải trí và đóng góp tu bổ di tích Doanh thu này không chỉ giúp duy trì và nâng cấp cơ sở hạ tầng mà còn phát triển đội ngũ nhân viên tại điểm du lịch Chẳng hạn, tại khu du lịch Bà Nà ở Đà Nẵng, doanh thu chủ yếu đến từ vé cáp treo và dịch vụ nhà hàng, khách sạn Tương tự, tại chùa Yên Tử ở Quảng Ninh, doanh thu từ vé cáp treo và tiền công đức cũng góp phần vào việc tu bổ và xây dựng chùa.

Tìm hiểu thị trường khách du lịch bao gồm việc phân tích số lượng khách quốc tế và nội địa đến các điểm tham quan theo từng năm và giai đoạn Đồng thời, cần xác định mục đích chuyến đi của du khách, như nghiên cứu khoa học, tham quan, giải trí hay tâm linh, để có cái nhìn tổng quan và chính xác về nhu cầu của thị trường.

Đền Hồng Sơn, tọa lạc tại trung tâm thành phố Vinh, nổi bật với giá trị kiến trúc độc đáo và lịch sử văn hóa lâu đời Mỗi chi tiết và hoa văn của ngôi đền đều mang lại giá trị thẩm mỹ cao, thu hút du khách đến khám phá.

Cửa Ông, một di tích lịch sử văn hóa quốc gia được công nhận vào năm 1984, cùng với hệ thống đền chùa ở Nghệ An, đóng góp quan trọng vào sự phát triển du lịch tâm linh tại khu vực này.

Doanh thu du lịch từ đền Hồng Sơn chủ yếu đến từ tiền công đức của người dân địa phương, tổ chức, doanh nghiệp và du khách trên toàn quốc đến chiêm bái Số tiền này được sử dụng để xây dựng và cải thiện cơ sở hạ tầng của đền, đồng thời là nguồn kinh phí cho các lễ hội diễn ra vào các ngày giỗ lễ.

Bảng thực trạng doanh thu - chi công đức của đền Hồng Sơn trong giai đoạn 2000 đến tháng 7/2006

(Với phương châm lấy di tích nuôi di tích)

Thu kiểm kê hòm công đức

Thu phát sinh vận động ghi sổ(100% phường sử dụng)

Tổng chi tại ban QLDT

Ngoài việc đóng góp tài chính, nhiều nhà hảo tâm, doanh nghiệp, tổ chức và du khách cũng đã tích cực tham gia đóng góp công đức bằng hiện vật cho Đền.

Doanh thu của đền Hồng Sơn đã tăng qua các năm, nhưng vẫn còn khiêm tốn do công tác tuyên truyền, quảng bá và quản lý chưa hiệu quả.

Thị trường khách tham quan đền Hồng Sơn chủ yếu là người dân địa phương và du khách trong nước đến tìm hiểu và trải nghiệm du lịch tâm linh Theo BQLDT, hàng ngày có hàng trăm lượt người dân vào đền để tham quan và chiêm bái Đền Hồng Sơn đã trở thành điểm đến du lịch tâm linh quen thuộc cho người dân phường Hồng Sơn cũng như các khu vực lân cận.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI ĐỀN HỒNG SƠN

Ngày đăng: 16/09/2021, 19:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Phan Thuận An “Kiến trúc có đố Huế”, NXB Thuận Hoá (2001) [2]. Phan Kế Bính " Việt Nam phong tục", NXB TP Hồ Chí Minh (1990) [3]. Vũ Kim Biên “Giới thiệu khu di tích lịch sử đền Hùng”, NXB Sở văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến trúc có đố Huế”, NXB Thuận Hoá (2001) [2]. Phan Kế Bính " Việt Nam phong tục", NXB TP Hồ Chí Minh (1990) [3]. Vũ Kim Biên “Giới thiệu khu di tích lịch sử đền Hùng
Nhà XB: NXB Thuận Hoá (2001) [2]. Phan Kế Bính " Việt Nam phong tục"
[4]. Nguyễn Duy Đối “Đền Hồng Sơn đôi điều trao đổi và mong muốn” NXB sở văn hoá thông tin Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đền Hồng Sơn đôi điều trao đổi và mong muốn”
Nhà XB: NXB sở văn hoá thông tin Nghệ An
[5]. Ninh Viết Giao "Tục thờ thần và thần tích Nghệ An", NXB sở văn hoá thông tin Nghệ An (2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục thờ thần và thần tích Nghệ An
Nhà XB: NXB sở văn hoá thông tin Nghệ An (2001)
[6]. Chu Trọng Huyến “Lịch sử phường Hồng Sơn”, NXB Nghệ An (1993) [7]. Chu Trọng Huyến “Nghệ An di tích danh thắng”, NXB sở văn hoáthông tin Nghệ An thể thao Phú Thọ (2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử phường Hồng Sơn”", NXB Nghệ An (1993) [7]. Chu Trọng Huyến “"Nghệ An di tích danh thắng”
Nhà XB: NXB Nghệ An (1993) [7]. Chu Trọng Huyến “"Nghệ An di tích danh thắng”
[8]. Nguyễn Văn Hường, Ngyễn ánh Hoà “Hồ sơ di tích lịch sử đền Hồng Sơn” (1983) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ sơ di tích lịch sử đền Hồng Sơn”
[9]. Bùi Dương Lịch “Nghệ An ký” NXB KHXH Hà Nội (1993) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ An ký
Nhà XB: NXB KHXH Hà Nội (1993)
[10]. Phan Ngọc "Văn hoá Việt Nam và cách tiếp cận mới", NXB Văn hoá Thông tin Hà Nội (1994) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Việt Nam và cách tiếp cận mới
Nhà XB: NXB Văn hoá Thông tin Hà Nội (1994)
[11]. Đỗ Minh Nụ “Lễ hội Đền Hồng Sơn”, NXB Sở văn hoá Thông tin Nghệ An (2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lễ hội Đền Hồng Sơn”
Nhà XB: NXB Sở văn hoá Thông tin Nghệ An (2001)
[12]. Đinh Gia Khánh "Văn hóa dân gian Việt Nam với sự phát triển của xã hội Việt Nam", NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội (1995) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian Việt Nam với sự phát triển của xã hội Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội (1995)
[13]. Nguyễn Trọng Phú “Đền Hồng Sơn một di tích lịch sử cấp quốc gia” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đền Hồng Sơn một di tích lịch sử cấp quốc gia
[14]. Phạm Quỳnh Phương “Bằng phương pháp nghiên cứu định lượng thử tìm hiểu vấn đề tín ngưỡng trong ca dao người Việt”, NXB trung tâm KHXH & NV Quốc gia (1997) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bằng phương pháp nghiên cứu định lượng thử tìm hiểu vấn đề tín ngưỡng trong ca dao người Việt”
Nhà XB: NXB trung tâm KHXH & NV Quốc gia (1997)
[15]. Lê Văn Sáng “Mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội về các anh hùng”, NXB quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội về các anh hùng”
Nhà XB: NXB quốc gia Hà Nội
[16]. Trần Ngọc Thêm “Cơ sở văn hoá Việt Nam” NXB Trường Đại KHXH&NV (thuộc Đại học Quốc gia thành phố Hồ CHí Minh) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hoá Việt Nam”
Nhà XB: NXB Trường Đại KHXH&NV (thuộc Đại học Quốc gia thành phố Hồ CHí Minh)
[17]. Hồ Đức Thọ “Đền Cờn với địa lịch sử- văn hoá trung tâm thức dân gian”, NXB văn hoá dân tộc Hà Nội (2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đền Cờn với địa lịch sử- văn hoá trung tâm thức dân gian”
Nhà XB: NXB văn hoá dân tộc Hà Nội (2001)
[18]. Nguyễn Tài Thư "Lịch sử Phật giáo Việt Nam", NXB Khoa học - xã hội Hà Nội (1998) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Phật giáo Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học - xã hội Hà Nội (1998)
[19]. Lê Trung Vũ "Lễ hội cổ truyền", NXB Khoa học - xã hội Hà Nội (1992) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội cổ truyền
Nhà XB: NXB Khoa học - xã hội Hà Nội (1992)
[20]. Cục lưu trử quốc gia, phòng tư liệu bản đồ: Các bản đồ vùng Vinh (1893, 1907) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thực trạng doanh thu - chi công đức của đền Hồng Sơn trong giai đoạn 2000 đến tháng 7/2006  - Đền hồng sơn với việc phát triển du lịch ở thành phố vinh   nghệ an
Bảng th ực trạng doanh thu - chi công đức của đền Hồng Sơn trong giai đoạn 2000 đến tháng 7/2006 (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w