1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hiện tượng phi logic trong tiếng việt

116 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,12 MB

Cấu trúc

  • 1. Lí do chọn đề tài (8)
  • 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài (9)
  • 3. Ý nghĩa của đề tài (10)
  • 4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề (10)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (11)
  • 6. Kết cấu của luận văn (12)
  • Chương 1: TÍNH QUY ƯỚC CỦA NGÔN NGỮ, MỐI QUAN HỆ GIỮA NGÔN NGỮ VÀ LOGIC 1.1. Tính quy ước của các loại kí hiệu (0)
    • 1.1.1. Khái quát về các loại kí hiệu (13)
      • 1.1.1.1. Khái niệm kí hiệu (13)
      • 1.1.1.2. Kí hiệu ngôn ngữ (14)
      • 1.1.1.3. Tính quy ước của các loại kí hiệu (16)
    • 1.2. Tính quy ước của ngôn ngữ (18)
      • 1.2.1. Tính quy ước của các kí hiệu ngôn ngữ (từ vựng) (18)
        • 1.2.1.1. Tính quy ước của từ (18)
        • 1.2.1.2. Tính biểu trưng của các cụm từ cố định (21)
      • 1.2.2. Sự quy ước trong cách kết hợp từ (cú pháp) (24)
        • 1.2.2.1. Sự quy ước trong cách kết hợp để tạo cụm từ (25)
        • 1.2.2.2. Sự quy ước trong cách kết hợp để tạo câu (27)
    • 1.3. Quan hệ giữa logic và ngôn ngữ (29)
      • 1.3.1. Về kí hiệu (30)
      • 1.3.2. Về đơn vị (30)
      • 1.3.3. Về cú pháp (30)
      • 1.3.4. Về quy luật (32)
  • Chương 2: MỘT SỐ HIỆN TƯỢNG “PHI LOGIC” TRONG TIẾNG VIỆT 2.1. Sự “phi logic” của một số từ ghép (tổ hợp) chính phụ (34)
    • 2.1.1. Cấu tạo và ý nghĩa của từ ghép (tổ hợp) chính phụ (0)
    • 2.1.2. Sự “phi logic” của một số từ ghép chính phụ (36)
    • 2.2. Sự “phi logic” của một số thành ngữ (38)
      • 2.2.1. Cấu tạo của thành ngữ (38)
      • 2.2.2. Một số thành ngữ “vi phạm” tính logic (40)
    • 2.3. Sự “phi logic” của một số kết hợp từ (0)
      • 2.3.1. Những kết hợp từ chỉ cảm giác (41)
      • 2.3.2. Những kết hợp từ chỉ tư duy, ý chí và tình cảm (43)
    • 2.4. Từ Hán Việt và những kết hợp “dư” trong tiếng Việt (44)
      • 2.4.1. Nguồn gốc của việc hình thành lớp từ Hán Việt (44)
      • 2.4.2. Từ Hán Việt - hệ quả của sự tiếp xúc ngôn ngữ Hán và Việt (45)
      • 2.4.3. Các yếu tố Hán Việt, cấu tạo của từ Hán Việt (48)
      • 2.4.4. Hiện tượng “dư” trong một số cụm từ (52)
  • Chương 3: SỰ HỢP LÍ CỦA NHỮNG HIỆN TƯỢNG “PHI LOGIC” TRONG TIẾNG VIỆT 3.1. Sự hợp lí của những từ “phi logic” (0)
    • 3.1.1. Con đường từ vựng hóa của các từ ghép (56)
    • 3.1.2. Tác dụng khu biệt nghĩa từ của các yếu tố phụ (0)
    • 3.1.3. Sự hợp lí của những từ “phi logic” (0)
    • 3.2. Sự hợp lí của những thành ngữ “phi logic” (65)
      • 3.2.1. Tính đối ứng của các yếu tố ở vị trí 1-3 và 2-4 của thành ngữ đối ứng 4 âm tiết (0)
      • 3.2.2. Nghĩa biểu trưng của các cặp đối ưng = nghĩa của thành ngữ (0)
      • 3.2.3. Sự hợp lí của những thành ngữ “phi logic” (0)
    • 3.3. Sự hợp lí của những kết hợp từ “phi logic” (0)
      • 3.3.1. Những kết hợp từ chỉ cảm giác (84)
        • 3.3.1.1. Nghe và thấy trong tâm thức của người Việt (84)
        • 3.3.1.2. Sự ngữ pháp hóa của các từ nghe, thấy và sự hợp lí của những kết hợp từ “phi logic” (0)
      • 3.2.2. Những kết hợp từ chỉ tư duy, ý chí và tình cảm (90)
        • 3.2.2.1. Sự biểu trưng hóa “lục phủ ngũ tạng” trong tư duy người Việt (0)
        • 3.2.2.2. Sự hợp lí của những kết hợp từ “phi logic” (0)
    • 3.4. Sự “vừa đủ” của các kết hợp “dư” trong tiếng Việt (94)
      • 3.4.1. Những hệ quả trong việc sử dụng từ vay mượn (94)
        • 3.4.1.1. Hiện tượng mờ nghĩa của các yếu tố Hán Việt (94)
        • 3.4.1.2. Hiện tượng kết hợp hai yếu tố đồng nghĩa với nhau (99)
      • 3.4.2. Sự “vừa đủ” của các kết hợp “dư” (104)
  • KẾT LUẬN (108)

Nội dung

Ý nghĩa của đề tài

Đề tài này củng cố luận điểm về tính quy ước của đơn vị ngôn ngữ, cho thấy ngôn ngữ có khả năng chuyển đổi từ những điều "sai" thành "đúng" và từ "phi chuẩn" thành "chuẩn" khi chúng trở thành thói quen trong cộng đồng.

Đề tài này sẽ làm sáng tỏ một số hiện tượng "phi logic" trong tiếng Việt, từ đó giúp giải thích những hiện tượng "bất thường" phổ biến trong ngôn ngữ này Nó cung cấp cho người học tiếng Việt một cái nhìn sâu sắc và nguyên lý về các hiện tượng ở các cấp độ khác nhau, giúp tránh những thắc mắc không cần thiết.

Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Các hiện tượng ngôn ngữ được đề cập trong bài viết này bao gồm từ, cụm từ cố định và cụm từ tự do, đã được nhiều tác giả nghiên cứu kỹ lưỡng Một ví dụ tiêu biểu là công trình "Logic và tiếng Việt" của Nguyễn Đức Dân (1999), cung cấp cái nhìn toàn diện về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và logic Đặc biệt, tác giả đã dành một chương riêng (chương XV) để thảo luận sâu về những hiện tượng này.

“phi logic” trong tiếng Việt

Năm 2003, nhà xuất bản Trẻ phát hành cuốn sách "Nỗi oan thì, là, mà là", tập hợp các bài viết của Nguyễn Đức Dân, được đăng trên nhiều báo và tạp chí qua các năm Cuốn sách bao gồm nhiều bài luận giải sâu sắc về những hiện tượng "khác thường" trong tiếng Việt.

Trước và sau Nguyễn Đức Dân, nhiều tác giả đã thảo luận về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và logic, đặc biệt là những hiện tượng “phi logic” trong tiếng Việt.

- Phan Khôi với Việt ngữ nghiên cứu (1955)

- Hồ Lê với Vấn đề logic ngữ nghĩa và tính thông tin trong lời

- Nguyễn Quý Thành, Về ba thành ngữ: con ông cháu cha, cao chạy xa bay và nhường cơm sẻ áo (Ngôn ngữ số 1/1981)

- Hoàng Phê với Logic ngôn ngữ học (1989)

- Lê Đình Khẩn với Từ vựng gốc Hán trong tiếng Việt (2002)

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài này áp dụng một số phương pháp nghiên cứu để phân tích các hiện tượng "phi logic" trong tiếng Việt Đầu tiên, phương pháp thống kê được sử dụng để thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn tài liệu như sách, báo, tạp chí và ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày Tiếp theo, phương pháp so sánh giúp so sánh ngôn ngữ với logic, từ ghép với cụm từ cố định, cụm từ cố định với cụm từ tự do, và từ thuần Việt với từ Hán Việt Cuối cùng, phương pháp phân tích được áp dụng để làm rõ các kết quả nghiên cứu.

Qua những ngữ liệu thu thập được, đề tài tiến hành phân tích từng hiện tượng một d Ph ươ ng pháp t ổ ng h ợ p

Qua phân tích từng hiện tượng, đề tài rút ra những kết luận cho từng phần và kết luận chung của đề tài.

Kết cấu của luận văn

Ngoài phần D ẫ n nh ậ p và phần K ế t lu ậ n , phần chính của luận văn được chia thành 3 chương như sau:

Ch ươ ng 1 : Tính quy ước của ngôn ngữ, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và logic

Ch ươ ng 2 : Một số hiện tượng “phi logic” trong tiếng Việt

Ch ươ ng 3 : Sự hợp lí của những hiện tượng “phi logic” trong tiếng Việt

TÍNH QUY ƯỚC CỦA NGÔN NGỮ, MỐI QUAN HỆ GIỮA NGÔN NGỮ VÀ LOGIC 1.1 Tính quy ước của các loại kí hiệu

Khái quát về các loại kí hiệu

Theo quan niệm của F Saussure thì kí hiệu là những thực thể vật chất mà qua nó ta có thể tri nhận được một cái gì khác ngoài nó

Thực thể vật chất biểu đạt mối quan hệ giữa hình thức và nội dung, trong đó "cái gì khác" chính là cái được biểu đạt.

Hai mặt này có quan hệ khăng khít, gắn bó với nhau như “hai mặt của một tờ giấy” [67]

Theo lý thuyết của Ferdinand de Saussure, các kí hiệu tạo ra nghĩa trong một hệ thống trừu tượng và mang tính hình thức Nghĩa của từ không chỉ dựa vào quy chiếu mà chủ yếu được xác định qua cấu trúc và mối quan hệ với các từ khác Tương tự như các quân cờ trên bàn cờ, giá trị của mỗi từ phụ thuộc vào vị trí và mối quan hệ của nó với các từ khác trong ngữ cảnh.

Kí hiệu chỉ có thể được gọi là "kí hiệu" khi nó được sử dụng trong hoạt động giao tiếp Kí hiệu có các đặc điểm chủ yếu sau:

- Tính hai mặt: Kí hiệu là một chỉnh thể bao gồm cái biểu đạt

(hình thức) và cái được biểu đạt (nội dung) Hình thức của kí hiệu phải là một thực thể vật chất

Tính võ đoán trong ngôn ngữ thể hiện mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt của kí hiệu, được xác lập dựa trên quy ước xã hội Điều này cho thấy không tồn tại sự tương quan bên trong giữa chúng.

- Tính hệ thống: Giá trị của một kí hiệu bao giờ cũng được xác định trong mối quan hệ giữa nó với các kí hiệu khác của hệ thống

Trong thực tế, chúng ta sử dụng rất nhiều hệ thống kí hiệu nhằm mục đích giao tiếp, nhưng phổ biến nhất là hai dạng kí hiệu sau:

* Hệ thống kí hiệu bằng âm thanh (nhận biết bằng thính giác): lời nói, tiếng trống, tiếng kẻng, tiếng còi, tiếng chuông, tiếng đàn, tiếng sáo …

Hệ thống ký hiệu bằng hình vẽ và màu sắc, được nhận biết qua thị giác, bao gồm chữ viết, các bản mật mã, hệ thống đèn giao thông, chỉ dẫn giao thông trên đường bộ, đường sắt và đường thủy, cũng như các ký hiệu hóa học, toán học, vật lý, các bức tranh, hình vẽ và màu sắc.

Ngôn ngữ được coi là một hệ thống ký hiệu hoàn chỉnh, với đầy đủ các đặc điểm của ký hiệu Đặc biệt, ngôn ngữ khác biệt so với các hệ thống ký hiệu khác nhờ vào những tính năng độc đáo mà nó sở hữu.

Những đặc điểm của kí hiệu ngôn ngữ:

Do con người tạo ra, ngôn ngữ có mặt thể chất cụ thể khiến ta tri giác được Thể chất của ngôn ngữ là âm thanh và chữ viết

Âm thanh và chữ viết chứa đựng thông tin quan trọng theo quy ước xã hội Kí hiệu không mang ý nghĩa tự thân mà được tạo ra để truyền đạt thông tin khác.

Hai mặt của ký hiệu ngôn ngữ có tính chất võ đoán, vì không thể xác định mối liên hệ giữa âm thanh và ý nghĩa của các ký hiệu này.

Kí hiệu ngôn ngữ không chỉ được sử dụng một lần mà đã được khái quát hóa, thể hiện qua nội dung của từng câu nói Mỗi câu chứa đựng nhiều khái quát võ đoán của ngôn ngữ, bao gồm mô hình câu, cấu trúc ngữ pháp và ý nghĩa của từng từ.

Hệ thống ngôn ngữ phản ánh thế giới khách quan mà con người nhận thức qua các thế hệ Mỗi yếu tố trong hệ thống được định hình thành khái niệm qua các kí hiệu, cho thấy rằng mỗi kí hiệu đại diện cho một sự vật hoặc hiện tượng Do đó, toàn bộ các kí hiệu tạo thành một hệ thống phản ánh những sự vật và hiện tượng của thế giới xung quanh chúng ta.

Chuỗi kí hiệu của ngôn ngữ tự nhiên được tri giác theo trục thời gian, vì vậy quy tắc kết hợp các yếu tố trong chuỗi này diễn ra theo trật tự thời gian khi được phát ra.

- Tính rời rạc (theo cách gọi của Saussure)

Nghĩa là kí hiệu này phân lập với kí hiệu kia, không bao giờ tồn tại một gam liên tục những giá trị trung gian giữa hai kí hiệu

Tính phân chiết hai tầng, theo cách gọi của Martinet, là đặc điểm nổi bật giúp phân biệt kí hiệu ngôn ngữ với các loại kí hiệu khác Trong ngôn ngữ, tầng thứ nhất phân tích từ thành hình vị, và tầng thứ hai phân tích hình vị thành âm vị Điều này cho thấy ngôn ngữ là mã tối ưu, khi chỉ cần vài chục âm vị có thể tạo ra hàng chục ngàn hình vị, từ đó hình thành hàng triệu thông báo khác nhau Các hệ thống kí hiệu giao tiếp khác thường thiếu đặc điểm này, chỉ có một lớp phân chiết, làm cho chúng trở nên nghèo nàn hơn.

1.1.1.3 Tính quy ướ c c ủ a các lo ạ i kí hi ệ u

Kí hiệu luôn bao gồm hai thành phần: cái biểu đạt và cái được biểu đạt Hai mặt này có mối quan hệ võ đoán, tức là không có lý do cụ thể nào để giải thích sự liên kết giữa chúng.

Màu sắc, như màu đỏ, có ý nghĩa khác nhau tùy thuộc vào hệ thống mà nó được đặt trong và sự đồng thuận của cộng đồng Trong hệ thống đèn giao thông, màu đỏ biểu thị "phải dừng lại", trong khi ở các phương tiện như xe máy hay xe cấp cứu, nó lại có nghĩa là "xin đường" Do đó, mối quan hệ giữa màu đỏ và các ý niệm mà nó biểu đạt không phải là điều hiển nhiên, mà là kết quả của sự quy ước trong một cộng đồng nhất định.

Âm /ban 2/ hay chữ viết "bàn" trong tiếng Việt chỉ đồ dùng thường làm bằng gỗ, có mặt phẳng và chân đứng, dùng để bày đồ đạc, thức ăn hoặc làm việc Tuy nhiên, từ này không có giá trị khi nằm ngoài hệ thống từ vựng tiếng Việt.

Trong môi trường học đường và trong các đội sản xuất, âm thanh như tiếng trống và tiếng kẻng đóng vai trò quan trọng trong việc thông báo thời gian Khi nghe tiếng trống, cả thầy giáo và học sinh đều nhận biết đó là dấu hiệu cho giờ vào lớp, giờ ra chơi hay giờ nghỉ Tương tự, tiếng kẻng cũng báo hiệu thời gian làm việc, nghỉ giải lao hoặc kết thúc buổi làm việc Những âm thanh này mang ý nghĩa thông tin rõ ràng nhờ vào sự quy ước giữa các thành viên trong tập thể, giúp mọi người biết được hành động cần thực hiện trong từng khoảng thời gian cụ thể.

Tính quy ước của ngôn ngữ

1.2.1 Tính quy ướ c c ủ a các kí hi ệ u ngôn ng ữ (t ừ v ự ng)

Khi ngôn ngữ mới xuất hiện, số lượng từ vựng còn hạn chế và không thể xác định chính xác những từ nào ra đời đầu tiên Theo các nhà ngôn ngữ học lịch sử, những từ đầu tiên thường là lớp từ căn bản, liên quan đến những sự vật, hiện tượng và hoạt động gần gũi với con người Ví dụ, trong tiếng Việt, các từ như trời, đất, nước, sông, núi, cây, chân, tay, mặt, mũi, đi, đứng, chạy, nằm, ngồi, nói, cười, khóc là những từ tiêu biểu cho lớp từ này.

Các từ đơn xuất hiện đầu tiên thường là từ gốc, từ đó phát sinh ra nhiều từ đa tiết khác.

Những từ đơn thường là những từ mang tính võ đoán tuyệt đối

Người ta không thể tìm thấy lí do trong quan hệ giữa âm thanh (cái biểu đạt) và ý nghĩa (cái được biểu đạt) của nó Chẳng hạn trong tiếng

Âm thanh "nhà" và định nghĩa về công trình xây dựng với mái, tường vách, phục vụ cho việc ở hoặc sử dụng, không rõ ràng liên kết giữa âm thanh và ý nghĩa Tuy nhiên, khi âm thanh này vang lên, nó mang lại những cảm xúc và ý nghĩa sâu sắc cho những người sử dụng ngôn ngữ.

Việt là một khái niệm dễ hiểu, phản ánh sự quy ước của cộng đồng người Việt trong một giai đoạn nhất định Những người kế tiếp thường "bắt chước" và tiếp thu khái niệm này một cách tự nhiên, mà không cần tìm hiểu lý do đằng sau.

Hành động phân phối tên gọi cho sự vật được thực hiện nhằm kết hợp khái niệm với hình ảnh âm thanh Mỗi xã hội chỉ có thể tiếp nhận ngôn ngữ như một sản phẩm kế thừa từ các thế hệ trước và phải chấp nhận nó nguyên vẹn.

Một số người sử dụng các từ tượng thanh và từ cảm thán để phản biện nguyên lý tính võ đoán của các ký hiệu ngôn ngữ mà Saussure đã nêu Tuy nhiên, số lượng các từ này rất ít so với hệ thống ký hiệu ngôn ngữ đồ sộ, và lý do cho sự tồn tại của chúng cũng không rõ ràng Do đó, những lập luận này không đủ sức thuyết phục để bác bỏ quan điểm của Saussure.

Kí hiệu mang tính chất võ đoán vì nó không tuân theo quy luật nào khác ngoài quy luật của truyền thống Chính nhờ vào nền tảng truyền thống này mà tính võ đoán của kí hiệu mới được hình thành.

Khi có sự vật, hiện tượng mới xuất hiện, ngôn ngữ cần phải tạo ra tên gọi cho chúng Tuy nhiên, ngôn ngữ không thể liên tục sản sinh từ mới do giới hạn trong khả năng kết hợp các yếu tố ngữ âm, trong khi đó, số lượng sự vật và hiện tượng trong thế giới là vô hạn.

Trong bối cảnh hiện nay, ngôn ngữ cần áp dụng quy luật tiết kiệm để giải quyết mâu thuẫn giữa sự biểu đạt hạn chế và khái niệm vô hạn Một trong những phương pháp hiệu quả là kết hợp các từ có sẵn để tạo ra từ mới, nhằm diễn đạt các khái niệm mới Kết quả của quá trình này thường được gọi là từ ghép.

Trong tiếng Việt, căn cứ vào quan hệ giữa hai yếu tố kết hợp trong các từ ghép, ta có từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ

Khi ngôn ngữ kết hợp các từ có sẵn để đặt tên cho sự vật, hiện tượng mới, các kí hiệu này không hoàn toàn võ đoán Ví dụ, kí hiệu "máy bay" có lý do nhất định vì nó kết hợp từ hai kí hiệu "máy" và "bay", trong khi đó, hai kí hiệu này lại hoàn toàn võ đoán Những kí hiệu mới được tạo ra từ các kí hiệu trước đó có cơ sở tương đối, nhưng bản thân các kí hiệu tạo nên chúng vẫn mang tính võ đoán tuyệt đối.

Hệ thống ngôn ngữ dựa trên nguyên lý bất duy lý của tính võ đoán của ký hiệu, nguyên lý này có thể dẫn đến sự phức tạp nếu không được kiểm soát Tuy nhiên, trí tuệ con người đã áp dụng nguyên lý trật tự và đều đặn vào một số phần của hệ thống ký hiệu, thể hiện vai trò quan trọng của nguyên do tương đối trong việc tổ chức ngôn ngữ.

Trong thực tế, một số cụm từ đã trở thành từ vựng hoá hoàn toàn, trong khi có những hiện tượng trung gian giữa từ ghép và cụm từ Các từ ghép vẫn giữ tính chất của cụm từ do cấu trúc của chúng còn lỏng lẻo.

Việc phân biệt từ ghép và cụm từ tự do không phải lúc nào cũng rõ ràng Từ ghép thường là kết quả của việc cố định hóa cụm từ, dẫn đến sự biến đổi về mặt nghĩa hoặc khái quát hóa Điều này có thể khiến nghĩa của từ ghép khác với nghĩa của các thành phần tạo nên nó, hoặc thậm chí một trong hai yếu tố có thể mất đi nghĩa ban đầu.

1.2.1.2 Tính bi ể u tr ư ng c ủ a các c ụ m t ừ c ố đị nh

Cụm từ cố định xuất phát từ cụm từ tự do, với cụm từ tự do là tiền thân của nó Qua thời gian, những cụm từ này được sử dụng thường xuyên, trở thành một chỉnh thể ổn định và quen thuộc trong giao tiếp Hiện tượng này cho thấy rằng các đơn vị ngôn ngữ được tái sử dụng, dần dần biến đổi nghĩa, dẫn đến việc hình thành những cụm từ có nghĩa mới.

Chính hiện tượng này đã làm nên đặc trưng ngữ nghĩa của cụm từ cố định

Việc tái sử dụng các cụm từ tự do không làm thay đổi nhiều về cấu trúc ngữ pháp, nhưng mỗi từ trong tổ hợp đó bị hình thái hoá, khiến mối quan hệ cú pháp giữa các yếu tố trở nên mờ nhạt Kết quả là, các cụm từ vốn tự do giờ đây trở thành cố định, không còn khả năng co lại hay dãn ra Điều này có nghĩa là các cụm từ tự do đã mất đi ngữ nghĩa ban đầu và mang một nét nghĩa mới, với các đặc điểm ngữ nghĩa – cú pháp đã nhường chỗ cho một chỉnh thể mới.

Quan hệ giữa logic và ngôn ngữ

Ngôn ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn là công cụ tư duy, là đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực như ngôn ngữ học và logic học Logic học nghiên cứu ngôn ngữ để hiểu về tư duy thông qua việc trừu tượng hóa các yếu tố giao tiếp và tình huống, nhằm đạt được ngôn ngữ phản ánh trực tiếp tư duy Nó phi ngữ cảnh hóa các lời nói để tạo ra những câu có giá trị chân lý và các mệnh đề Đối tượng của logic hình thức là cấu trúc và quy luật tư duy, từ đó xây dựng các khái niệm, phán đoán và phương pháp suy luận Ngôn ngữ là điều kiện thiết yếu cho tư duy, với khái niệm được thể hiện bằng từ ngữ, phán đoán bằng câu và suy luận qua chuỗi câu, do đó, ngôn ngữ là công cụ quan trọng nhất để giao tiếp.

Giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin, trong đó con người không chỉ thông báo mà còn biểu đạt tư tưởng, thuyết phục, lập luận và chất vấn Điều này cho thấy sự liên kết giữa giao tiếp và tư duy, dẫn đến việc hình thành các quy luật ngôn từ để phản ánh và tiếp nhận thông tin hiệu quả.

Logic và ngôn ngữ đều là những hệ thống kí hiệu Chúng có nhiều điểm giống nhau nhưng cũng có nhiều điểm khác biệt

- Kí hiệu logic: Là những kí hiệu nhân tạo và hình thức Vì vậy nó là những kí hiệu thuần nhất, đơn trị và bất biến

Kí hiệu ngôn ngữ là những dấu hiệu tự nhiên, không đồng nhất và không cố định Chúng chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố như thời gian, không gian, giới tính, nghề nghiệp và trình độ văn hóa.

Logic và ngôn ngữ chia sẻ những đơn vị cơ bản, trong đó khái niệm và phán đoán trong logic tương ứng với từ và câu trong ngôn ngữ Ngoài ra, ngôn ngữ còn bao gồm âm vị và hình vị Khái niệm thường được thể hiện qua từ, nhưng một số khái niệm cần sử dụng cụm từ để diễn đạt Có những lớp từ không biểu hiện khái niệm nào, chẳng hạn như hư từ Phán đoán chỉ tương ứng với câu tường thuật, trong khi ngôn ngữ còn có nhiều loại câu khác như câu cầu khiến, câu cảm thán, câu nghi vấn, câu đặc biệt và câu tỉnh lược.

Logic sử dụng các tác tử logic, hay còn gọi là liên từ logic, để tạo ra các phán đoán mới từ một hoặc nhiều phán đoán đã biết Trong logic mệnh đề, các tác tử này bao gồm phủ định, tuyển, hội và kéo theo, giúp xây dựng các mối quan hệ và kết luận từ thông tin có sẵn.

Cú pháp của logic mệnh đề được xây dựng trên nền tảng của các phán đoán Một phán đoán phức bao gồm ít nhất hai phán đoán đơn, được kết nối với nhau bằng một liên từ logic.

- Ngôn ngữ cũng có những liên từ tương ứng và có chức năng tương tự như các liên từ logic

Sự khác nhau căn bản giữa logic và ngôn ngữ ở những điểm sau:

Trong logic, giá trị chân lí của phán đoán được xác định bởi giá trị chân lí của các phán đoán thành phần Các liên từ logic được định nghĩa thông qua bảng giá trị chân lí cho các khả năng tổ hợp của hai phán đoán Ngược lại, trong ngôn ngữ tự nhiên, một câu không chỉ cần tuân thủ quy tắc cú pháp mà còn phải chính xác về mặt ngữ nghĩa.

Trong logic, hình thức cấu tạo đóng vai trò quan trọng, dẫn đến việc xây dựng các quy ước cho các biểu thức logic đơn trị về cấu trúc.

Ngôn ngữ tự nhiên cho phép diễn đạt cùng một nội dung qua nhiều cách khác nhau, tạo ra các sắc thái nghĩa đa dạng thông qua từ đồng nghĩa và câu đồng nghĩa Đồng thời, có những biểu thức giống nhau nhưng lại mang ý nghĩa khác nhau, như từ đồng âm và câu mơ hồ Điều này cho thấy cấu trúc ngôn ngữ có tính đa trị phong phú.

Chúng ta lấy hiện tượng phủ định làm ví dụ Xét phán đoán P và phán đoán phủ định của nó – P:

Trong logic, sự phủ định của một phán đoán được xác định theo quy tắc: "Nếu P đúng thì -P sai, còn nếu P sai thì -P đúng" Tuy nhiên, trong tiếng Việt, có nhiều cách diễn đạt để phủ định một câu, mỗi cách mang ý nghĩa và mục đích riêng biệt.

(2) a Cô ta không đẹp b Cô ta đâu có đẹp c Cô ta nào có đẹp d Cô ta mà đẹp! e Cô ta thì đẹp gì? g Sao bảo cô ta đẹp?

Những quy luật, quy tắc của logic là những quy luật, quy tắc hình thức, phổ quát và cố định

Ngôn ngữ không chỉ tuân theo các quy luật và quy tắc hình thức mà còn phụ thuộc vào nội dung Ngoài những quy tắc phổ quát áp dụng cho mọi ngôn ngữ, còn tồn tại những quy tắc đặc thù cho từng nhóm hoặc ngôn ngữ riêng biệt Những quy tắc này không cố định và có thể thay đổi theo thời gian và không gian.

Phép suy luận trong logic chủ yếu dựa vào hình thức, trong khi suy luận trong ngôn ngữ không chỉ dựa vào hình thức mà còn liên quan đến từ ngữ, tình huống, tri thức và kinh nghiệm.

VD: Cô ta mà đẹp! Ở câu trên, nhờ có từ mà mà ta suy ra rằng, cô ta không đẹp

Ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu, vì vậy nó cũng có những đặc điểm chung với những hệ thống kí hiệu khác, trong đó có logic

Tuy nhiên, ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu đặc biệt, vì vậy nó lại có những điểm riêng biệt mà không hệ thống kí hiệu nào có

Chương 1 đã chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt của hệ thống ngôn ngữ so với các hệ thống ký hiệu khác, đồng thời cung cấp cái nhìn toàn diện về nguyên lý quy ước của ngôn ngữ Mặc dù tính quy ước phải dựa trên các cơ sở logic và ngữ nghĩa nhất định, ngôn ngữ vẫn có những quy luật riêng Điều này sẽ được làm rõ hơn trong các chương tiếp theo của luận văn.

MỘT SỐ HIỆN TƯỢNG “PHI LOGIC” TRONG TIẾNG VIỆT 2.1 Sự “phi logic” của một số từ ghép (tổ hợp) chính phụ

Sự “phi logic” của một số từ ghép chính phụ

Trong phần 2.1.1, chúng ta nhận thấy rằng các từ được kết hợp theo một trật tự quen thuộc và tuân theo một "logic" nhất định Cụ thể, các yếu tố phụ thường đứng sau và thể hiện mục đích, tác dụng, cũng như đặc tính, tính chất hoặc đối tượng mà yếu tố chính tác động hoặc hỗ trợ.

(sự vật, hành động) đi trước Và nếu như vậy, ta có thể sử dụng các phụ từ chỉ “mục đích” trước thành tố phụ Chẳng hạn, nói:

- Thuốc bổ là thuốc uống cho bổ

- Thuốc ngủ là thuốc uống để ngủ

- Áo ấm là áo mặc cho ấm

- Áo tắm là áo mặc để tắm

- Dưỡng sức là dưỡng cho lại sức

- Dưỡng thai là dưỡng cho thai nhi khỏe mạnh

- Cứu nước là cứu cho đất nước khỏi bị xâm lăng

- Cứu dân là cứu cho nhân dân khỏi bị lầm than

Nhưng thực tế trong tiếng Việt lại có trường hợp một số từ ghép chính phụ không tuân theo cái “logic” trên Chẳng hạn:

Nhiều người đặt câu hỏi tại sao trong thời tiết lạnh vẫn cần mặc áo rét, hay khi trời mưa lại phải sử dụng áo mưa Họ cũng thắc mắc về việc đã ho hay cảm cúm mà vẫn uống thuốc ho và thuốc cảm Điều này khiến người ta tự hỏi tại sao không chỉ tập trung vào việc trị bệnh mà lại phải dưỡng bệnh, hay tại sao không chỉ dập lửa mà còn phải cứu hỏa.

Bởi vì nếu suy luận theo các trường hợp trên thì ta sẽ được:

- Áo rét là áo mặc cho rét

- Áo lạnh là áo mặc cho lạnh

- Áo mưa là áo mặc cho mưa

- Áo gió là áo mặc cho gió

- Thuốc ho là thuốc uống để ho

- Thuốc cảm là thuốc uống để cảm

- Dưỡng bệnh là dưỡng cho tiếp tục bệnh

- Cứu hỏa là cứu cho hỏa tiếp tục cháy

Thực tế, người Việt hiểu các tổ hợp trên như thế nào? Liệu nó có phải là những từ được cấu tạo một cách phi logic?

Sự “phi logic” của một số thành ngữ

Thành ngữ là một loại cụm từ cố định đặc trưng, thường được sử dụng trong ngôn ngữ Khái niệm về thành ngữ và cụm từ cố định thường không được phân biệt rõ ràng, và chúng có thể được xem là tương đồng trong nhiều trường hợp.

Cụm từ cố định bao gồm thành ngữ và quán ngữ, nhưng chúng khác nhau về ý nghĩa và mức độ cố định Thành ngữ có tính biểu trưng cao và cấu trúc chặt chẽ, trong khi quán ngữ gần gũi với cụm từ tự do, không có tính biểu trưng và có cấu trúc lỏng lẻo Quán ngữ là những cụm từ lặp lại trong lời nói, giúp rào đón, dẫn dắt và chuyển ý Để phục vụ cho việc phân tích, chúng tôi đưa ra một định nghĩa về thành ngữ.

Thành ngữ là cụm từ cố định, thường có từ hai âm tiết trở lên, với cấu trúc chặt chẽ và biểu đạt khái niệm một cách hình tượng và biểu trưng.

Mắt nai xanh, nhanh như cắt, và dai như đỉa, thể hiện sự nhanh nhẹn và tinh ranh Hình ảnh chuột chạy cùng sào và mèo thấy mỡ gợi lên sự khéo léo và linh hoạt Tính cách cứng đầu cứng cổ, bầm gan tím ruột cho thấy sự kiên cường, trong khi lừ đừ như ông từ vào đền phản ánh sự chậm chạp Cuối cùng, câu "ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng" nhấn mạnh sự gắn bó và trách nhiệm trong công việc.

Các thành ngữ tiếng Việt thường có cấu trúc từ hai tiếng trở lên, với độ dài tối đa có thể lên tới 7-8 tiếng hoặc hơn Chúng có kết cấu vững chắc và các yếu tố trong thành ngữ thường kết hợp theo một trật tự logic và ngữ nghĩa nhất định.

Một số trường hợp có thể thay đổi thứ tự từ mà không làm mất đi ý nghĩa, chẳng hạn như: "bầm gan tím ruột" có thể được viết lại thành "tím ruột bầm gan" hoặc "tím gan bầm ruột"; "cứng đầu cứng cổ" có thể đổi thành "cứng cổ cứng đầu"; và "trong ấm ngoài êm" có thể thay đổi thành "trong êm ngoài ấm".

Theo Bùi Khắc Việt (1981) thì có đến hơn 70% thành ngữ tiếng

Việt là thành ngữ 4 âm tiết

Trong văn hóa Việt Nam, nhiều thành ngữ và câu ca dao phản ánh sâu sắc tâm tư và triết lý sống Ví dụ, "đầu trâu mặt ngựa" biểu thị sự mạnh mẽ, trong khi "giận cá chém thớt" thể hiện sự tức giận không đúng chỗ Các câu như "buôn phấn bán hương" và "mua thù chuốc oán" nhấn mạnh đến những mối quan hệ xã hội phức tạp Hình ảnh "đầu trộm đuôi cướp" và "lòng lang dạ sói" cho thấy sự gian xảo trong con người Những câu như "gan vàng dạ ngọc" hay "mình đồng da sắt" thể hiện phẩm chất kiên cường Ngoài ra, "gieo gió gặt bão" nhắc nhở về hậu quả của hành động Những thành ngữ này không chỉ làm phong phú ngôn ngữ mà còn truyền tải những bài học quý giá trong cuộc sống hàng ngày.

Quan sát các thành ngữ trên, chúng ta thấy sự kết hợp giữa các yếu tố thường tuân theo những quy luật nhất định

Các yếu tố trong thế xen kẽ (1-3 và 2-4) thường có mối liên hệ logic - ngữ nghĩa như gần nghĩa, đồng nghĩa hoặc trái nghĩa Chúng không bao giờ xuất hiện liền nhau mà được tách ra, ví dụ như “đầu, mặt” và “trâu, ngựa” trong cụm từ “đầu trâu mặt ngựa”, hay “buôn, bán” và “phấn, hương” trong “buôn phấn bán hương” Tương tự, “ghi, tạc” và “lòng, dạ” trong “ghi lòng tạc dạ”, “giấy, mực” và “trắng, đen” trong “giấy trắng mực đen”, cũng như “gieo, gặt” và “gió, bão” trong “gieo gió gặt bão”.

+ Nếu xét các yếu tố theo vế (1-2 và 3-4)), ta vẫn nhận thấy, chúng thường kết hợp với nhau theo trật tự tuyến tính và đảm bảo được tính logic

Trong tiếng Việt, nhiều cụm từ mang ý nghĩa sâu sắc thông qua sự kết hợp giữa các từ, như "đầu trâu mặt ngựa" thể hiện sự mạnh mẽ, "buôn phấn bán hương" gợi lên hình ảnh của nghề buôn bán sắc đẹp, hay "đêm tàn trăng lụi" diễn tả sự tàn phai của thời gian Những cụm từ như "đi đợi về chờ" thể hiện sự mong mỏi, "giấy trắng mực đen" nhấn mạnh sự rõ ràng trong thông tin, và "gieo gió gặt bão" cảnh báo về hậu quả của hành động Cuối cùng, "chân chậm tay run" mô tả sự lo lắng, tạo nên một bức tranh sinh động về cuộc sống và tâm trạng con người.

2.2.2 M ộ t s ố thành ng ữ “vi ph ạ m” tính logic

Phân tích cấu tạo của các thành ngữ 4 âm tiết cho thấy các yếu tố trong thành ngữ thường có mối quan hệ logic và ngữ nghĩa chặt chẽ với nhau.

(1-3 và 2-4) và thường kết hợp với nhau theo nguyên tắc tuyến tính (1-2 và

Nhưng trong thực tế, tình hình có vẻ không phải lúc nào cũng như vậy khi chúng ta gặp một số thành ngữ như:

Sự “phi logic” của một số kết hợp từ

Nhiều người đặt câu hỏi về sự hợp lý của các thành ngữ như “con của ông”, “cháu của cha” hay “chạy mà lại cao”, “bay lại xa” Họ thắc mắc liệu ông cha ta có “sai” khi tạo ra những thành ngữ dường như vi phạm nguyên tắc tuyến tính Các cụm từ như “sẻ áo”, “chăn êm” và “nệm ấm” cũng khiến người nghe cảm thấy khó hiểu, tạo ra sự tò mò về nguồn gốc và ý nghĩa thực sự của chúng.

“ruồi bu”, “kiến đậu”? Sao lại là “hòn tên”, “mũi đạn”?

Khi gặp những thành ngữ mâu thuẫn, nhiều người thường cho rằng cần phải sửa đổi để chúng trở nên chính xác hơn.

“hợp logic” Phải chăng đây là những thành ngữ phi logic?

2.3 Sự “phi logic” trong một số kết hợp từ

Trong các cơ quan cảm giác, thị giác và thính giác là hai cơ quan quan trọng nhất, đóng vai trò nhận biết các ký hiệu ngôn ngữ Thị giác giúp nhận diện hình ảnh, trong khi thính giác nhận biết âm thanh Các cơ quan cảm giác khác cũng có chức năng tương ứng, như việc xem bức tranh, xem ti vi, nhìn cô gái hay nghe tiếng đàn, nghe đài, nghe tiếng nói.

Trong tiếng Việt, đặc biệt là trong khẩu ngữ và văn chương nghệ thuật, có một hiện tượng phổ biến là sự kết hợp giữa các từ chỉ những trung khu cảm giác khác nhau, tạo ra những cụm từ mà nếu ai để ý sẽ thấy rất vô lý Ví dụ, chúng ta thường nghe những cách diễn đạt như vậy.

- Hôm nay bắt đầu thấy nóng/lạnh rồi (thị giác - xúc giác)

- Tôi nghe nóng/lạnh quá (thính giác - xúc giác)

- Thấy thơm rồi (thị giác - khứu giác)

- Mùi gì nghe thơm quá (thính giác - khứu giác)

- Tôi thấy nhạt quá (thị giác - vị giác)

- Tôi nghe đăng đắng (thính giác - vị giác)

- Mùi gì nghe mặn chát (khứu giác - thính giác - vị giác)

Người Việt thường sử dụng những cụm từ quen thuộc trong giao tiếp hàng ngày mà ít ai để ý đến sự đặc biệt của chúng Khi có ai đó chú ý đến những cách kết hợp này, họ sẽ cảm thấy ngạc nhiên và tự hỏi: "Tại sao lại như vậy nhỉ?"

Hiện tượng này thường được sử dụng trong văn chương như một phương tiện tu từ nghệ thuật Trong tu từ học, nó được gọi là ẩn dụ bổ sung hoặc ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, với định nghĩa cụ thể về cách thức hoạt động của nó trong việc tạo ra hình ảnh và cảm xúc cho người đọc.

Ẩn dụ bổ sung, hay còn gọi là ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, là phương pháp thay thế một cảm giác này bằng một cảm giác khác trong nhận thức và diễn đạt ngôn ngữ.

Vậy đứng trên phương diện logic ngôn ngữ học, chúng ta sẽ lý giải như thế nào về những kết hợp “bất thường” này?

2.3.2 Nh ữ ng k ế t h ợ p t ừ ch ỉ t ư duy, ý chí và tình c ả m

Ngoài những kết hợp từ chỉ cảm giác, còn nhiều kết hợp từ khác gây ngạc nhiên từ góc độ logic Tư duy, ý chí và tình cảm luôn diễn ra trong đầu con người, cụ thể là ở bộ não Để có thể tư duy và suy nghĩ, cần sự hỗ trợ từ các cơ quan trong cơ thể, nhưng bộ não được xem là trung tâm thần kinh, nơi mọi suy nghĩ đều diễn ra.

Trong quan niệm truyền thống của người Việt, tư duy và suy nghĩ không chỉ diễn ra trong đầu mà còn được thể hiện qua các bộ phận như lòng, tim, gan, và ruột Điều này phản ánh cách mà người Việt xưa cảm nhận và diễn đạt cảm xúc, suy nghĩ của mình.

- suy bụng ta ra bụng người

- hình ảnh … đã chiếm trọn trái tim

Những kết hợp trên, nếu để ý thì ai cũng thấy là nó trái với lẽ thường Nhưng sao mà chúng ta nghe nó vẫn cứ quen thuộc thế!

Liệu những kết hợp này có phải là những kết hợp phi logic?

Từ Hán Việt và những kết hợp “dư” trong tiếng Việt

Trong tiếng Việt, có một bộ phận rất lớn các từ ngữ Hán Việt

Để hiểu rõ về từ Hán Việt, cần nghiên cứu sự giao thoa ngôn ngữ giữa Hán và Việt trong bối cảnh xã hội qua hàng nghìn năm lịch sử.

2.4.1 Ngu ồ n g ố c c ủ a vi ệ c hình thành l ớ p t ừ Hán Vi ệ t

Sự tiếp xúc giữa ngôn ngữ Hán và Việt bắt đầu từ những thế kỷ trước Công Nguyên, ban đầu chỉ mang tính chất lẻ tẻ Tuy nhiên, sự ảnh hưởng trở nên sâu sắc từ khi Triệu Đà xâm lược Âu Lạc vào năm 179 trước Công Nguyên và đặc biệt là khi nhà Hán thiết lập chế độ đô hộ tại Giao Chỉ và Cửu Chân vào năm 111 trước Công Nguyên, kéo dài cho đến năm 938 khi Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán, khôi phục độc lập cho đất nước Đây là thời kỳ thống trị của phong kiến phương Bắc đối với Việt Nam.

Trong suốt một nghìn năm Bắc thuộc, các triều đại phong kiến phương Bắc đã ra sức thực hiện các chính sách đồng hóa đối với người

Trong thời kỳ triều đại nhà Đường, Việt Nam đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của bộ máy cai trị đến cấp xã, với nhiều lớp học chữ Hán và tiếng Hán được mở ra để giáo dục con em người Việt Qua đó, các tác phẩm về Nho, Phật, Đạo và nhiều thư tịch cổ đã được truyền bá rộng rãi vào đất nước.

Sau thời kỳ Bắc thuộc, Việt Nam bước vào thời kỳ độc lập và tự chủ, trải qua nhiều triều đại phong kiến, mặc dù có một số giai đoạn ngắn bị phong kiến phương Bắc xâm chiếm Dù độc lập, Việt Nam vẫn duy trì mối quan hệ bang giao với Trung Quốc về chính trị, kinh tế và văn hóa.

Hán và tiếng Hán vẫn giữ vai trò chính thống trong hành chính, giáo dục, khoa cử và cả trong sáng tác văn chương

Trải qua hàng nghìn năm lịch sử với nhiều biến cố xã hội, sự tiếp xúc giữa ngôn ngữ Hán và tiếng Việt vẫn diễn ra liên tục, để lại những dấu ấn và hệ quả rõ nét trong tiếng Việt.

2.4.2 T ừ Hán Vi ệ t - h ệ qu ả c ủ a s ự ti ế p xúc ngôn ng ữ Hán và

Sự tiếp xúc lâu dài giữa ngôn ngữ Hán và Việt đã tạo ra một lớp từ Hán Việt phong phú trong tiếng Việt Để hiểu rõ về từ Hán Việt, trước tiên cần nắm bắt cách đọc Hán Việt, vì đây là “kênh” cho phép từ Hán được mượn và tích hợp vào tiếng Việt, hình thành nên lớp từ Hán Việt hiện nay.

Chữ Hán, một loại chữ tượng hình có lịch sử lâu dài, có nhiều cách đọc khác nhau tùy theo từng địa phương Qua các giai đoạn lịch sử, cách đọc chữ Hán tại Trung Quốc đã thay đổi do sự biến đổi của hệ thống ngữ âm tiếng Hán Trong bối cảnh Bắc thuộc, tiếng Hán ở Giao Châu có thể được xem như một phương ngữ của tiếng Hán, bị ảnh hưởng bởi tiếng Việt Mặc dù có sự "méo mó" do ảnh hưởng của ngôn ngữ địa phương, nhưng trong thời kỳ này, tiếng Hán ở Giao Châu vẫn gắn bó chặt chẽ với tiếng Hán ở Trung Quốc, phản ánh sự phát triển đồng thời của cả hai ngôn ngữ.

Vào thế kỷ VIII và IX, cách đọc chữ Hán ở Giao Châu phản ánh hệ thống ngữ âm của tiếng Hán giai đoạn sau của tiếng Hán Trung cổ Đến thế kỷ X, khi Việt Nam trở thành quốc gia độc lập, tiếng Hán tại đây đã hoàn toàn tách biệt khỏi tiếng Hán bên kia biên giới do lý do chính trị Sau thế kỷ X, qua các triều đại Nguyên, Minh, Thanh, tiếng Hán tiếp tục phát triển theo hướng riêng biệt.

Tiếng Hán ở Việt Nam đã không còn chịu tác động trực tiếp từ những diễn biến bên kia biên giới như trước đây Kể từ đầu thế kỷ X, tiếng Hán tại Việt Nam đã bị ảnh hưởng bởi tiếng Việt, và nếu có sự thay đổi, nó diễn ra trong khuôn khổ quy luật ngữ âm và lịch sử ngữ âm của tiếng Việt.

Cách đọc chữ Hán đã thay đổi theo thời gian, chịu ảnh hưởng từ ngữ âm và lịch sử ngữ âm của tiếng Việt Điều này đã dẫn đến sự khác biệt rõ rệt giữa cách đọc của người Hán và cách đọc của người Việt, được gọi là cách đọc Hán Việt.

Cách đọc Hán Việt là kết quả của sự giao thoa ngôn ngữ giữa Hán và Việt trong thời kỳ độc lập và tự chủ của đất nước Nó đã được hình thành, phát triển và vẫn tồn tại cho đến ngày nay.

Với cách đọc Hán Việt, người dùng có thể phiên âm và đọc được nhiều từ Hán, tuy nhiên, không phải tất cả các từ đều có thể được phiên âm theo cách này, mà chỉ một số từ nhất định.

Hán đọc theo âm Hán Việt được mượn vào tiếng Việt Những từ mượn gốc Hán theo cách đọc Hán Việt được gọi là từ Hán Việt

Cần phân biệt giữa từ Hán Việt và những từ mượn gốc Hán không đọc theo cách Hán Việt Những từ gốc Hán này được đưa vào tiếng Việt trước khi xuất hiện cách đọc Hán Việt.

Hán Việt (trước thế kỷ X) Lớp từ này thường được gọi là tiền Hán

Việt hay cổ Hán Việt” [45]

VD: Chè (THV) tương đương với trà (HV) Chữ tự cởi giải, căn gian tết tiết, tuổi tuế tìm tầm Rồng long, sen liên, bùa phù, múa vũ, mây vân Muộn vãn, buồng phòng, chém trảm, đuổi truy.

2.4.3 Các y ế u t ố Hán Vi ệ t, c ấ u t ạ o c ủ a t ừ Hán Vi ệ t

Yếu tố Hán Việt là yếu tố gốc Hán, một âm tiết, phát âm theo cách đọc Hán Việt, dùng để cấu tạo từ

VD: thiên - trời, địa - đất, sơn – núi, thuỷ - nước …

Yếu tố Hán Việt có thể chia thành 2 loại:

Yếu tố Hán Việt trong tiếng Việt được sử dụng như những từ độc lập, bao gồm các từ như hoa, quả, đông, tây, nam, bắc, phúc, lộc, thọ, thắng, và bại.

- Yếu tố Hán Việt được dùng với cương vị một thành tố cấu tạo từ như: thiên (trời), địa (đất), ngưu (trâu), mã (ngựa), độc(đọc), khán

Khi xét các yếu tố Hán Việt, ta cần lưu ý tới hiện tượng đồng nghĩa giữa yếu tố Hán Việt và yếu tố thuần Việt

VD: thiên - trời, địa - đất, cử - cất, tồn – còn, tử - con, tôn – cháu …

SỰ HỢP LÍ CỦA NHỮNG HIỆN TƯỢNG “PHI LOGIC” TRONG TIẾNG VIỆT 3.1 Sự hợp lí của những từ “phi logic”

Ngày đăng: 16/09/2021, 09:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN