1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chính sách đối ngoại của ấn độ với khu vực nam á giai đoạn 1991 2006

150 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính sách đối ngoại của Ấn Độ với khu vực Nam Á giai đoạn 1991 – 2006
Tác giả Dương Thị Thúy Hiền
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Ngọc Dung
Trường học Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Châu Á học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 1,46 MB

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (5)
  • 2. Mục đích nghiên cứu (7)
  • 3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề (7)
  • 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (10)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu (11)
    • 5.1. Phương pháp nghiên cứu (11)
    • 5.2. Nguồn tài liệu (12)
  • 6. Bố cục của luận văn (12)
  • 7. Đóng góp của luận văn (13)
  • Chương 1 Khu vực Nam Á trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ (0)
    • 1.1. Vài nét khái quát về khu vực Nam Á (14)
      • 1.1.1. Về điều kiện tự nhiên (14)
      • 1.1.2. Về kinh tế – chính trị – xã hội (15)
      • 1.1.3. Ấn Độ – nước lớn của khu vực Nam Á (18)
    • 1.2. Những mục tiêu và những nguyên tắc trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ (21)
      • 1.2.1. Những mục tiêu (22)
      • 1.2.2. Những nguyên tắc (24)
    • 1.3. Khái quát về chính sách đối ngoại của Ấn Độ với khu vực Nam Á trước năm 1991 (28)
  • Chương 2 Chớnh sỏch đối ngoại của Ấn Độọ với khu vực Nam Á từ năm 1991 đến năm 2000 (0)
    • 2.2. Những tiền đề trong nước cho chính sách Nam Á của Ấn Độ giai đoạn 1991-2000 (0)
    • 2.3. Chính sách của Ấn Độ với 5 nước ở khu vực Nam Á (Nepal, Bhutan, Bangladesh, Maldives và Sri lanka) (51)
      • 2.3.1. Chính sách của Ấn Độ với Nepal và Bhutan (51)
      • 2.3.2. Chính sách của Ấn Độ với Bangladesh (55)
      • 2.3.3. Chính sách của Ấn Độ với Maldives và Sri Lanka (57)
    • 2.4. Chính sách của Ấn Độ với Pakistan (60)
    • 2.5. Chính sách của Ấn Độ với Hiệp hội hợp tác Nam Á (SAARC) (67)
  • Chương 3 Chớnh sỏch đối ngoại của Ấn Độọ với khu vực Nam Á từ năm 2001 đến năm 2006 (0)
    • 3.1. Những thay đổi của tình hình thế giới và khu vực Nam Á (74)
    • 3.2. Những nét mới trong chính sách Nam Á của Ấn Độ (77)
    • 3.3. Những đặc điểm trong chính sách Nam Á của Ấn Độ (86)
    • 3.4. Chính sách Nam Á của Ấn Độ trong những thập niên tới (91)
  • KẾT LUẬN (100)

Nội dung

Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu chính sách đối ngoại của Ấn Độ với khu vực Nam Á trong giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2006 nhằm mục đích:

- Làm rõ nhu cầu ngoại giao của Ấn Độ đối với các nước láng giềng và vai trò của Ấn Độ trong việc thúc đẩy hợp tác khu vực

Bài viết này sẽ khái quát và giải quyết những vấn đề gây tranh cãi trong quan hệ giữa Ấn Độ và các nước láng giềng, đặc biệt là Pakistan, liên quan đến vấn đề Kashmir Đồng thời, nó cũng sẽ làm sáng tỏ các quan niệm mới về độc lập, chủ quyền, an ninh và toàn vẹn lãnh thổ trong bối cảnh quốc tế hiện nay.

- Tìm ra những nét đặc thù của chính sách Nam Á trong chính sách đối ngoại chung của Ấn Độ

- Phân tích, đánh giá vai trò của chính sách Nam Á trong việc góp phần đưa trở thành một cường quốc Châu Á và thế giới.

Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Khi nghiên cứu chính sách đối ngoại của một quốc gia, đặc biệt trong thời gian gần đây, chúng ta thường gặp nhiều khó khăn do nhiều chính sách chưa được công khai Tuy nhiên, chính sách đối ngoại của Ấn Độ, đặc biệt là mối quan hệ với Nam Á, đã thu hút sự quan tâm lớn từ giới nghiên cứu cả trong và ngoài nước Một số công trình tiêu biểu đã được thực hiện để phân tích sâu hơn về vấn đề này.

Cuốn sách "Foreign Policy of India" của V.N Khan, xuất bản bởi Vikas Publishing House năm 2001, cung cấp cái nhìn tổng quát về chính sách đối ngoại của Ấn Độ, bao gồm mối quan hệ với các tổ chức, khu vực và cường quốc toàn cầu Tuy nhiên, chính sách Nam Á chỉ được đề cập một cách khái quát, thiếu sự phân tích sâu sắc và cái nhìn toàn diện Đặc biệt, tác phẩm chủ yếu tập trung vào giai đoạn Chiến tranh Lạnh, chưa phản ánh đầy đủ sự phát triển của chính sách Nam Á hiện nay.

Cuốn sách "India and South Asia" của James H.K Norton, xuất bản năm 2004, gồm nhiều bài viết ngắn, cung cấp cái nhìn tổng quan về đời sống ở các quốc gia Nam Á Đồng thời, tác phẩm cũng đề cập đến chính sách đối ngoại của Ấn Độ đối với các nước trong khu vực, đặc biệt là mối quan hệ với Pakistan.

Bài viết "Sự điều chỉnh chính sách của Cộng hoà Ấn Độ từ 1991 – 2000" của tác giả Trần Thị Lý, xuất bản năm 2002, đã phân tích chính sách của Ấn Độ đối với các nước láng giềng Nam Á, với trọng tâm chính là mối quan hệ giữa Ấn Độ và Pakistan Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ giới hạn trong khoảng thời gian đến năm 2000.

- Ấn Độ hôm qua và hôm nay của tác giả Đinh Trung Kiên xuất bản năm

Năm 1995, tài liệu đã dành khoảng 10 trang (từ trang 135 đến trang 145) để phác họa những nét khái quát về mục tiêu và nguyên tắc trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ sau khi giành độc lập.

Trong bài viết "Quan hệ quốc tế những năm đầu thế kỉ XXI: vấn đề sự kiện và quan điểm" do Trình Mưu và Vũ Quang Vinh đồng chủ biên xuất bản năm 2005, tác giả đã đề cập đến mối quan hệ giữa Ấn Độ và Pakistan, tập trung vào những vấn đề xung đột và quan điểm của hai quốc gia này.

5 đề Kashmir Cuốn sách này phần nào đã đi vào phân tích xu hướng đối thoại giữa hai nước Ấn Độ và Pakistan

- Chính sách ngoại thương Ấn Độ thời kì cải cách của Lê Nguyễn Hương

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội đã phát hành một ấn phẩm vào năm 2005, trong đó đề cập đến một phần nhỏ về hoạt động ngoại thương của Ấn Độ đối với một số quốc gia trong khu vực Nam Á và mối quan hệ với Hiệp hội hợp tác Nam Á.

Luận văn Thạc sỹ khoa học Lịch sử mang tên “Vấn đề Kashmir trong quan hệ Ấn Độ – Pakistan từ 1947 đến nay” của tác giả Hà Thị Lịch đã được bảo vệ vào năm 2005 Nghiên cứu này tập trung vào những diễn biến lịch sử và tác động của vấn đề Kashmir đối với mối quan hệ giữa Ấn Độ và Pakistan suốt hơn 70 năm qua.

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã nghiên cứu sâu về nguyên nhân xung đột giữa Ấn Độ và Pakistan, biểu hiện của cuộc xung đột, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến việc giải quyết xung đột Bài nghiên cứu cũng đưa ra một số giải pháp nhằm giải quyết tình trạng xung đột kéo dài này Mặc dù công trình phản ánh chính sách của Ấn Độ đối với Pakistan, nhưng chủ yếu tập trung vào lĩnh vực chính trị và quân sự.

Cuốn sách "Đánh giá chiến lược các điểm nóng và cơ cấu lực lượng thế giới" của Viện Khoa học Công an, xuất bản năm 1998, không chỉ mô tả và phân tích các cuộc xung đột toàn cầu mà còn tập trung vào xung đột giữa Ấn Độ và Pakistan Nội dung cuốn sách cung cấp cái nhìn sâu sắc về các điểm nóng trên thế giới, đồng thời làm rõ nguyên nhân và diễn biến của cuộc xung đột này.

Cuốn sách "Quan hệ Mỹ với các nước lớn khu vực Châu Á – Thái Bình Dương" của Học viện quan hệ quốc tế, xuất bản năm 2003, chủ yếu nghiên cứu mối quan hệ giữa Mỹ và Ấn Độ Tuy nhiên, tác giả cũng đã đề cập đến mối quan hệ giữa Ấn Độ và Pakistan, cùng với quan điểm của Mỹ về vấn đề Kashmir, nơi diễn ra nhiều mâu thuẫn giữa hai quốc gia Nam Á này.

Ngoài ra, có một số lượng lớn tạp chí chuyên ngành và tài liệu tham khảo đặc biệt từ Thông tấn xã Việt Nam, liên quan đến nội dung của đề tài.

Các tài liệu và tư liệu cần thiết để có cái nhìn tổng thể và sâu sắc về đề tài, đóng vai trò quan trọng trong việc hoàn thành nghiên cứu Tuy nhiên, việc xử lý, phân tích và tổng hợp các tư liệu này để đáp ứng yêu cầu của đề tài không phải là điều dễ dàng Đặc biệt, hiện tại ở Việt Nam chưa có công trình nào chuyên sâu và hệ thống về chính sách đối ngoại của Ấn Độ đối với Nam Á trong giai đoạn cuối thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI.

Luận văn không chỉ kế thừa những thành tựu của các học giả trước đây mà còn nỗ lực lấp đầy những khoảng trống trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ đối với các nước láng giềng Nam Á kể từ sau chiến tranh lạnh cho đến hiện tại.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết vấn đề nghiên cứu, chúng tôi áp dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm nền tảng phương pháp luận Cụ thể, các phương pháp được sử dụng bao gồm phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp thống kê, cùng với tổng hợp và phân tích dữ liệu.

Bài viết này phác thảo một bức tranh chân thực và khách quan về chính sách đối ngoại của Ấn Độ đối với Nam Á trong giai đoạn hiện tại, thông qua 8 tích, so sánh và phương pháp liên ngành Chính sách này phản ánh sự đa dạng và phức tạp trong quan hệ quốc tế, đồng thời nhấn mạnh vai trò quan trọng của Ấn Độ trong việc định hình môi trường an ninh và phát triển kinh tế trong khu vực.

Nguồn tài liệu

Tài liệu tiếng Việt về Ấn Độ bao gồm các cuốn sách chuyên khảo, công trình nghiên cứu và báo cáo khoa học từ các tác giả và trung tâm nghiên cứu, tập trung vào các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và ngoại giao trong giai đoạn mà luận văn quan tâm Ngoài ra, các tạp chí như Nghiên cứu Quốc tế, Nghiên cứu Đông Nam Á và Nghiên cứu Lịch sử cũng cung cấp nhiều thông tin hữu ích Đặc biệt, tài liệu tham khảo từ Thông tấn xã Việt Nam là nguồn tài liệu quý giá cho nghiên cứu.

- Các ấn phẩm nước ngoài và một số trang web.

Bố cục của luận văn

Ngoài phần dẫn luận , phụ lục và tài liệu tham khảo , nội dung của luận văn goàm ba chửụng

Chương 1 của luận văn tập trung vào khu vực Nam Á trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ, nhằm tìm hiểu bản chất và sự nhận thức của Ấn Độ về khu vực này để đánh giá lợi ích của mình Đồng thời, luận văn cũng khám phá các vấn đề lý luận như nguyên tắc và mục tiêu trong chính sách đối ngoại, cũng như việc cụ thể hóa các mục tiêu và nguyên tắc đó trong chính sách đối với Nam Á Cuối cùng, luận văn sẽ tóm lược những đặc điểm chính trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ với Nam Á trước khi kết thúc Chiến tranh Lạnh.

Chương 2: Chính sách đối ngoại của Ấn Độ với khu vực Nam Á từ năm

Từ năm 1991 đến 2000, tình hình thế giới và khu vực đã ảnh hưởng đáng kể đến việc xây dựng và thực thi chính sách Nam Á của Ấn Độ Trong giai đoạn này, Ấn Độ đã đối mặt với nhiều thách thức và cơ hội từ môi trường quốc tế, đồng thời cần xem xét nội lực của đất nước để đảm bảo khả năng thực hiện chính sách này Việc đánh giá các yếu tố bên ngoài và nội tại sẽ giúp làm rõ hơn về hiệu quả và định hướng của chính sách đối ngoại của Ấn Độ trong khu vực Nam Á.

Trong giai đoạn hiện nay, Ấn Độ đã có những thay đổi đáng kể trong quan hệ với các nước Nam Á so với trước đây Nước này đang chú trọng hơn đến việc xây dựng mối quan hệ với các quốc gia trong khu vực, thể hiện tầm quan trọng của Nam Á trong chính sách đối ngoại của mình Đồng thời, Ấn Độ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tổ chức Hợp tác khu vực Nam Á, nhằm tăng cường sự hợp tác và phát triển bền vững trong khu vực.

Chương 3: Chính sách đối ngoại của Ấn Độ với khu vực Nam Á từ năm

Từ năm 2001 đến 2006, bài viết sẽ phân tích sự thay đổi trong chính sách của Ấn Độ đối với Nam Á, phản ánh những điều chỉnh lớn về nội bộ và đối ngoại do ảnh hưởng của tình hình thế giới đầu thế kỷ Bên cạnh đó, sẽ xem xét các đặc điểm nổi bật trong chính sách Nam Á của Ấn Độ, nhằm làm rõ sự khác biệt so với chính sách đối ngoại tổng thể của nước này Dựa trên những hiểu biết về chính sách Nam Á trong suốt 15 năm qua, luận văn sẽ đánh giá vai trò của nó trong việc đưa Ấn Độ trở thành một cường quốc tại Châu Á và trên thế giới, đồng thời dự đoán triển vọng của chính sách này trong tương lai.

Phần kết luận sẽ tóm tắt các luận điểm chính của luận văn và chỉ ra những vấn đề có thể được xem như bài học tham khảo.

Đóng góp của luận văn

Theo suy nghĩ chủ quan của chính bản thân người thực hiện đề tài, luận văn này có những đóng góp:

- Hệ thống hoá tư liệu về chính sách Nam Á của Ấn Độ

Bài viết này sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan và khách quan về chính sách đối ngoại từ sau chiến tranh lạnh đến nay, giúp người đọc hiểu rõ chính sách này là gì, diễn ra như thế nào, cách thức thực thi ra sao, hiệu quả đạt được và các nhân tố chi phối chính sách đó.

Đề tài này có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình học tập và giảng dạy các chuyên đề liên quan đến Ấn Độ trong giai đoạn hiện đại.

Khu vực Nam Á trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ

Vài nét khái quát về khu vực Nam Á

1.1.1 Về điều kiện tự nhiên

Khu vực không chỉ được xác định qua bản đồ mà còn dựa trên các tiêu chí như hệ thống quan hệ đặc trưng của cộng đồng văn hóa và các quốc gia dân tộc có sự tương đồng về lịch sử, thách thức và nguyện vọng phát triển Dựa vào những tiêu chí này, khu vực Nam Á hiện nay bao gồm bảy quốc gia: Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Sri Lanka, Nepal, Bhutan và Maldives.

Khu vực Nam Á có diện tích khoảng 4,7 triệu km², được bao bọc bởi dãy Himalaya ở phía Bắc và các đại dương ở ba phía còn lại Phía Tây giáp vịnh Pecxích, nổi tiếng với nguồn dầu lửa phong phú; phía Đông là vịnh Bengal, một tuyến đường giao thông quan trọng giữa Đông và Tây; và phía Nam là Ấn Độ Dương Với vị trí địa lý này, Nam Á mang ý nghĩa chiến lược quan trọng Khí hậu ở đây rất đa dạng, từ khí hậu ôn đới ở phía Bắc, khí hậu đại dương ở Đông và Tây, đến khí hậu nhiệt đới ở phía Nam, cùng với gió mùa và mưa theo mùa, ảnh hưởng lớn đến đời sống của người dân.

Nam Á là khu vực có sự phụ thuộc lớn vào thời tiết và khí hậu, với hệ động thực vật phong phú bao gồm nhiều loại cây gỗ quý và động vật quý hiếm Địa hình đa dạng, từ núi cao đến đồng bằng và cao nguyên, đã góp phần vào sự phát triển đa mặt của khu vực này Tuy nhiên, sự đa dạng này cũng dẫn đến nhiều thiên tai, khiến một số vùng phải đối mặt với lũ lụt nghiêm trọng trong khi những nơi khác lại trải qua hạn hán khốc liệt, gây khó khăn cho hàng triệu người dân.

Nam Á, với vị trí địa lý thuận lợi và đa dạng, bao gồm cả vùng lục địa và đại dương rộng lớn, sở hữu nhiều tài nguyên thiên nhiên phong phú như quặng sắt, than, đồng, vàng, magie và dầu mỏ Chính vì vị trí chiến lược quan trọng này, Nam Á đã từ lâu trở thành yếu tố then chốt trong các chiến lược của các cường quốc toàn cầu, ảnh hưởng sâu sắc đến lịch sử và vận mệnh của từng quốc gia trong khu vực cũng như toàn bộ khu vực.

1.1.2 Về kinh tế – chính trị – xã hội

Nam Á, với dân số khoảng 1,4 tỷ người vào năm 2002, không chỉ đông đúc mà còn phức tạp về chủng tộc, đa dạng về ngôn ngữ và khác biệt về tôn giáo.

Từ thiên niên kỷ thứ II TCN, Nam Á đã trải qua nhiều đợt di cư của người Arya, tiếp theo là sự xâm nhập của người Hy Lạp, người Ả Rập, người Mông Cổ và thực dân phương Tây Những cuộc xâm nhập này đã tạo nên sự pha trộn về huyết thống của người Dravida bản địa Sự đa dạng về chủng tộc đã dẫn đến việc hình thành nhiều ngôn ngữ khác nhau, đặc biệt là ở Ấn Độ.

Hiện nay, Việt Nam có tới 1.652 ngôn ngữ và thổ ngữ được sử dụng trên khắp cả nước Để tạo thuận lợi cho giao tiếp và trao đổi buôn bán trong khu vực, tiếng Anh đã được nhiều nước Nam Á công nhận là ngôn ngữ chính thức và khuyến khích sử dụng rộng rãi, thay thế cho nhiều ngôn ngữ khác trong các lĩnh vực đời sống.

Nam Á là quê hương của nhiều tôn giáo lớn, với 80% dân số Ấn Độ và 90% dân số Nepal theo đạo Hindu Hồi giáo là quốc giáo của Pakistan (90% dân số), Bangladesh (83% dân số) và Maldives (90% dân số) Đạo Phật chỉ chiếm khoảng 1,8% dân số tiểu lục địa, nhưng lại là tôn giáo chính ở Bhutan và Sri Lanka Ngoài ra, còn có các cộng đồng tôn giáo nhỏ hơn như Jain, Sikhs và Thiên Chúa giáo.

Sự phức tạp về chủng tộc, ngôn ngữ và tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong đời sống người dân Nam Á, tạo nên các nhóm xã hội với địa vị và đẳng cấp khác nhau Những khác biệt này không dễ dàng hòa hợp, và đôi khi trở thành nguồn gốc xung đột giữa các tộc người trong khu vực.

Trước Chiến tranh thế giới II, các nước Nam Á đều là thuộc địa của Anh Sau chiến tranh, nhờ cuộc đấu tranh của nhân dân, Anh buộc phải rút quân nhưng vẫn tìm cách duy trì ảnh hưởng qua chính sách “đi mà ở”, “chia để trị” Chính sách này đã làm gia tăng rạn nứt giữa các tôn giáo và tộc người, để lại hậu quả khó khắc phục cho đến nay, ảnh hưởng lớn đến an ninh và hòa bình khu vực Nam Á.

Kể từ khi giành độc lập, hầu hết các nước Nam Á đã chuyển sang chính thể cộng hòa, ngoại trừ Nepal và Bhutan vẫn duy trì chế độ quân chủ Tình hình chính trị ở Nam Á rất phức tạp, với các cuộc xung đột nội bộ diễn ra thường xuyên tại Pakistan, Nepal và Bangladesh, cùng với cuộc nội chiến kéo dài ở Sri Lanka Sự bất ổn chính trị này đã cản trở sự phát triển kinh tế và hạn chế vai trò của các quốc gia trong khu vực trên trường quốc tế Thêm vào đó, trong thời kỳ chiến tranh lạnh, sự lôi kéo của các siêu cường đã tạo ra cục diện đối đầu Đông – Tây, dẫn đến nhiều cuộc chiến tranh "nóng", đặc biệt giữa Ấn Độ và Pakistan.

Sự thống trị và khai thác thuộc địa của Anh ở Nam Á trong hai thế kỷ đã để lại hậu quả nặng nề, với nền công nghiệp yếu kém và hơn 70% dân số phụ thuộc vào nông nghiệp Thu nhập bình quân đầu người ở mức thấp, chỉ khoảng 300 USD/năm, cùng với nợ nước ngoài ngày càng gia tăng, phản ánh tình trạng kinh tế khó khăn của khu vực này.

Khắc phục những khó khăn kinh tế là yêu cầu cấp bách của các chính phủ Nam Á, nơi hầu hết đều xây dựng nền kinh tế dựa trên kế hoạch hóa và ưu tiên phát triển nông nghiệp Các chính phủ này không ngừng áp dụng những thành tựu khoa học – kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, giúp tăng sản lượng nông nghiệp đáng kể, như Ấn Độ đã thành công trong việc đẩy lùi nạn đói từ những năm 1970 và không còn phải nhập khẩu lương thực Họ cũng tiến hành quốc hữu hóa các ngành kinh tế quan trọng và kiểm soát ngoại thương để đảm bảo sự phát triển bền vững.

Sau chiến tranh lạnh, các nước Nam Á đã chuyển mình theo hướng tự do hóa và hội nhập kinh tế toàn cầu Họ tập trung vào cải cách cơ cấu kinh tế, nâng cấp hạ tầng, tối ưu hóa hệ thống tài chính ngân hàng, và gia tăng đầu tư vào các lĩnh vực tạo ra nhiều việc làm.

Sau hơn 50 năm phát triển, khu vực Nam Á, bao gồm Ấn Độ, Pakistan và Sri Lanka, đã đạt được một số thành tựu nhưng vẫn bị coi là kém phát triển so với nhiều nước khác Sự đa dạng về địa hình, phức tạp về chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ, cùng với bất ổn chính trị và kinh tế, đã tạo ra nhiều thách thức cho sự liên kết và phát triển trong khu vực Tuy nhiên, bất chấp những khó khăn này, các nước Nam Á đã đoàn kết lại, tạo nên một khu vực độc đáo với những nét văn hóa và bản sắc riêng biệt.

1.1.3 Ấn Độ – nước lớn của khu vực Nam Á

Những mục tiêu và những nguyên tắc trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ

1.2 Những mục tiêu và những nguyên tắc trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ

Chính sách đối ngoại được hiểu là một hệ thống các quan hệ dưới hình

Chính sách đối ngoại của một quốc gia bao gồm 18 lĩnh vực như kinh tế, an ninh, chính trị, quân sự, và văn hóa - xã hội, nhằm điều chỉnh quan hệ với các nước khác Mục tiêu của chính sách này là thúc đẩy hợp tác hoặc răn đe, đồng thời sử dụng các biện pháp đa dạng để bảo vệ lợi ích quốc gia, ngăn chặn các hành động có hại và nâng cao vị thế quốc tế Qua đó, có thể thấy rằng chính sách đối ngoại phản ánh các mục tiêu và phương hướng mà quốc gia theo đuổi trong từng giai đoạn lịch sử để thực hiện lợi ích quốc gia.

Dựa trên hiểu biết về chính sách đối ngoại, bài viết sẽ phân tích các mục tiêu và nguyên tắc trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ.

Ngay sau khi giành độc lập, Ấn Độ nhanh chóng định hình chính sách đối ngoại của mình nhờ vào di sản phong phú từ quá khứ.

Trong lịch sử Ấn Độ, hai trường phái ngoại giao đối lập đã xuất hiện: trường phái Hiện thực (Positivistic) do tể tướng Chanakya Kautilya đại diện và trường phái Lý tưởng (Moralistic) với tư tưởng của vua Ashoka Trường phái Hiện thực nhấn mạnh rằng để tồn tại, một vị vua cần tuân theo luật Matsya nyaya, tức là "cá lớn nuốt cá bé" và luôn có khát vọng chinh phục Ngược lại, trường phái Lý tưởng ủng hộ tư tưởng hòa bình, từ bỏ chiến tranh xâm lược nhưng vẫn chấp nhận các biện pháp quân sự khi cần thiết.

19 mục đích tự vệ chính đáng” [27, tr.47-48] Hai trường phái này chi phối đường lối đối ngoại của Ấn Độ nhiều thế kỷ sau đó

Trong cuộc đấu tranh giành độc lập, Đảng Quốc Đại đã đóng vai trò lãnh đạo quan trọng tại Ấn Độ, thể hiện lập trường kiên quyết chống đế quốc, ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc và nỗ lực vì hòa bình, độc lập cho dân tộc.

Chính sách đối ngoại độc lập của Ấn Độ là sự tiếp nối và phát triển từ các chính sách đã hình thành qua nhiều thế kỷ, đặc biệt trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập Sau khi đạt được độc lập, Ấn Độ đã xác định rõ ràng các mục tiêu trong chính sách đối ngoại của mình.

Ấn Độ nỗ lực vì hòa bình và ổn định không chỉ cho chính mình mà còn cho các quốc gia và dân tộc khác, vì hòa bình đối với Ấn Độ không chỉ là một khát vọng mãnh liệt mà còn là một nhu cầu cấp thiết.

Ấn Độ đang nỗ lực mạnh mẽ trong việc loại bỏ vũ khí hạt nhân và giảm thiểu vũ khí thông thường, đồng thời ủng hộ các phong trào giành độc lập dân tộc và chống phân biệt chủng tộc Để đạt được những mục tiêu này, Ấn Độ cần thực hiện một chính sách đối ngoại độc lập, không phụ thuộc vào các cường quốc.

Ấn Độ đang nỗ lực giải quyết các mối bất đồng với Pakistan và các nước láng giềng khác, đồng thời tích cực tham gia vào các tổ chức quốc tế nhằm phát triển nền kinh tế Ngoài ra, Ấn Độ hợp tác chặt chẽ với Khối thịnh vượng Anh để mang lại lợi ích cho quốc gia và các thành viên khác, đồng thời tranh thủ sự viện trợ từ nước ngoài.

Ấn Độ duy trì mối quan hệ thân thiện với các quốc gia trên toàn cầu, đặc biệt là các nước láng giềng, và theo đuổi chính sách không liên kết để xây dựng một chính sách đối ngoại độc lập Trong bối cảnh mới sau chiến tranh lạnh, Ấn Độ nhận thức rõ tầm quan trọng của việc giữ vững sự tự chủ trong quan hệ quốc tế.

Cần xác định lại vai trò của phong trào không liên kết và hợp tác Nam – Nam, điều chỉnh một số mục tiêu để phù hợp với giai đoạn mới Những mục tiêu hiện tại thiên về nội dung kinh tế và mang tính thực tiễn hơn, trong đó Ấn Độ nhấn mạnh tầm quan trọng của các mục tiêu này.

- Bảo vệ độc lập chủ quyền, an ninh quốc gia

- Tạo môi trường hoà bình, ổn định cho phát triển kinh tế

Tăng cường và mở rộng quan hệ hợp tác với các cường quốc và trung tâm kinh tế toàn cầu là cần thiết để thu hút vốn đầu tư và công nghệ tiên tiến.

- Đẩy nhanh quá trình hội nhập khu vực và hội nhập toàn cầu

Nâng cao vai trò và vị thế của Ấn Độ là mục tiêu quan trọng nhằm biến Ấn Độ thành một cường quốc hàng đầu tại Châu Á và thế giới trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI Điều này không chỉ giúp Ấn Độ đạt được vị trí xứng đáng trong trật tự thế giới mới mà còn củng cố ảnh hưởng của quốc gia này trong khu vực và toàn cầu.

Hiến pháp mới của Cộng hòa Ấn Độ, được thông qua vào tháng 1 năm 1950, xác định các nguyên tắc cơ bản bao gồm "độc lập, trung lập, hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc."

Trong quá trình triển khai chính sách đối ngoại, Ấn Độ kiên định với các nguyên tắc đã đề ra và bổ sung thêm những nguyên tắc mới như ủng hộ Liên hợp quốc, cùng tồn tại hòa bình, giải quyết tranh chấp quốc tế bằng phương pháp hòa bình, không liên kết, và Học thuyết Gujral Một số nguyên tắc này cũng được công pháp quốc tế công nhận trong quan hệ quốc tế Bài viết sẽ đi sâu vào phân tích một số nguyên tắc tiêu biểu.

Khái quát về chính sách đối ngoại của Ấn Độ với khu vực Nam Á trước năm 1991

Khi phân tích chính sách đối ngoại của Ấn Độ tại khu vực Nam Á trong bối cảnh chiến tranh lạnh, ta nhận thấy rằng khu vực này luôn là tâm điểm trong cuộc đối đầu Đông – Tây Để tránh bị ảnh hưởng bởi Mỹ và Liên Xô, Ấn Độ đã chọn con đường "đi ở giữa", khẳng định vai trò lãnh đạo của mình trong thế giới thứ ba Tuy nhiên, Ấn Độ vẫn có xu hướng gần gũi với Liên Xô, giữ khoảng cách với Mỹ và duy trì mối quan hệ căng thẳng với Trung Quốc.

Sự can thiệp của các siêu cường, đặc biệt là Trung Quốc và Mỹ, đã tác động mạnh mẽ đến chính sách Nam Á của Ấn Độ, khi họ ủng hộ các quốc gia trong khu vực, đặc biệt là Pakistan, nhằm gây sức ép lên Ấn Độ Tuy nhiên, chính sách Nam Á của Ấn Độ trong giai đoạn này vẫn duy trì những đặc thù riêng của mình.

Trong mối quan hệ với Nepal và Bhutan, Ấn Độ nhận thấy lợi ích chiến lược, lịch sử và tôn giáo rõ ràng Hai quốc gia này nằm giữa Ấn Độ và Trung Quốc, không có lối ra biển, và con đường bộ để giao thương gặp nhiều khó khăn.

Hai quốc gia này phải đối mặt với nhiều khó khăn trong việc mở ra 25 hướng ra bên ngoài, chủ yếu do phải vượt qua dãy Himalaya hiểm trở Họ gần như hoàn toàn phụ thuộc vào Ấn Độ cho các hoạt động thương mại quốc tế, đặc biệt là trong việc xuất nhập khẩu qua cảng Calcutta.

An ninh của Ấn Độ gắn bó chặt chẽ với Nepal và Bhutan thông qua các hiệp ước song phương như Hiệp ước Ấn Độ – Bhutan năm 1949 và Hiệp ước Ấn Độ – Nepal năm 1950, nhằm bảo vệ lãnh thổ và duy trì mối quan hệ láng giềng tốt đẹp Để nâng cao sức mạnh phòng thủ, Nepal và Bhutan nhập khẩu vũ khí từ Ấn Độ, đồng thời Ấn Độ thiết lập 17 chốt kiểm tra tại các đèo chiến lược Ấn Độ cũng hỗ trợ huấn luyện quân đội cho cả hai nước Mối quan hệ này được củng cố thêm qua các Hiệp định thương mại, trong đó các bên thực hiện ưu đãi thuế quan cho hàng hóa và Ấn Độ cam kết tạo điều kiện phát triển kinh tế cho Nepal và Bhutan, trở thành đối tác thương mại chính của họ.

Vào năm 1960, khoảng 95% kim ngạch thương mại của Nepal tập trung vào Ấn Độ, nhưng đến năm 1984-1985, con số này giảm xuống còn 52% Tình hình bất ổn tại Nepal luôn khiến Ấn Độ lo ngại, vì điều này có thể tạo cơ hội cho các cường quốc, đặc biệt là Trung Quốc, can thiệp vào khu vực Một số nhà lãnh đạo Nepal có tư tưởng thân Trung Quốc và chống Ấn Độ, nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của Ấn Độ tại đây.

Chính sách đối ngoại của Ấn Độ đối với Nepal và Bhutan tập trung vào việc duy trì mối quan hệ chặt chẽ với hai nước này, nhằm ngăn chặn sự can thiệp của các cường quốc khác vào khu vực Nam Á Mặc dù có những tranh chấp và xung đột giữa các bên, Ấn Độ luôn chủ động giải quyết các mâu thuẫn để bảo vệ lợi ích chiến lược của mình.

Sri Lanka và Maldives, hai đảo quốc nằm trên Ấn Độ Dương, không có biên giới chung với Ấn Độ Vị trí chiến lược của hai nước này, nằm trên tuyến đường vận chuyển dầu mỏ và nguyên liệu từ Trung Đông đến Nhật Bản và Mỹ, khiến Ấn Độ phải tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác với họ để đảm bảo an ninh hàng hải.

Quan hệ giữa Ấn Độ và Sri Lanka gặp khó khăn do vấn đề dân tộc thiểu số Tamil, với chính phủ Sri Lanka thực hiện chính sách kiềm chế cộng đồng này để tránh mất ổn định Chính sách này nhận được sự ủng hộ từ Trung Quốc và Mỹ, nhằm tạo ra hiềm khích giữa Ấn Độ và Sri Lanka, dẫn đến phản ứng mạnh mẽ từ phía Ấn Độ.

Năm 1953, Ấn Độ và Sri Lanka đã ký kết thỏa thuận đầu tiên nhằm giải quyết vấn đề tộc người Tamil, với sự tham gia của Thủ tướng Nerhu và Thủ tướng Kotelawala Theo thỏa thuận, Sri Lanka cam kết bảo vệ quyền lợi của người Tamil, tạo điều kiện cho họ sinh sống ổn định và có quyền bầu cử cho đại diện hợp pháp của mình.

Hợp tác kinh tế giữa Ấn Độ, Sri Lanka và Maldives đang gặp nhiều mất cân đối, với Sri Lanka chỉ xuất khẩu 1 triệu rupi sang Ấn Độ trong khi nhập khẩu tới 20 triệu rupi vào năm 1971 Để cải thiện tình hình, Ấn Độ đã cam kết cung cấp viện trợ lớn hơn cho hai nước này nhằm phát triển kinh tế và cân bằng quan hệ thương mại Tuy nhiên, sự nổi dậy của các phần tử cực đoan Tamil đã tạo áp lực quốc tế buộc Ấn Độ phải tham gia giải quyết xung đột, gây khó khăn cho Ấn Độ trong việc hỗ trợ chính phủ Sri Lanka mà không can thiệp vào công việc nội bộ.

Vào tháng 1 năm 1984, sau khi cuộc đàm phán chính trị giữa lãnh đạo Tamil và chính phủ Sri Lanka không đạt được kết quả, Thủ tướng Rajiv của Ấn Độ đã hỗ trợ Sri Lanka tìm kiếm giải pháp mới cho xung đột sắc tộc Lực lượng gìn giữ hòa bình Ấn Độ đã được cử đến Sri Lanka, và hai bên đã đồng ý tổ chức một cuộc chưng cầu dân ý vào tháng 12 năm 1988 Ấn Độ cũng cam kết không cho quân phiến loạn sử dụng lãnh thổ của mình để chống lại Sri Lanka.

Mặc dù Ấn Độ có nhiều mâu thuẫn với Sri Lanka và Maldives trong bối cảnh chiến tranh lạnh, nước này nhận thức được tầm quan trọng của việc duy trì mối quan hệ thân thiết với hai quốc gia này để kiểm soát vùng biển phía bắc Ấn Độ Dương Ấn Độ là một trong những quốc gia đầu tiên công nhận độc lập của Bangladesh và vào ngày 10/12/1971, Hiệp định Ấn Độ – Bangladesh được ký kết, với sự hỗ trợ của quân đội Ấn Độ nhằm giúp Bangladesh tránh khỏi sự can thiệp của Pakistan Sau khi Bangladesh ổn định, Ấn Độ cam kết bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và hỗ trợ kinh tế cho việc tái thiết đất nước Vào tháng 3/1972, hai nước ký Hiệp ước Hòa bình và Hữu nghị, thể hiện quan điểm chung về hòa bình, dân chủ và chủ nghĩa quốc gia, đồng thời cam kết xây dựng Ấn Độ Dương thành khu vực không có vũ khí hạt nhân và thúc đẩy hòa bình, an ninh thế giới Hai bên cũng ký nhiều thỏa thuận thương mại, đảm bảo thị trường xuất khẩu cho Bangladesh và cung cấp các mặt hàng cần thiết từ Ấn Độ.

28 hai nước cũng có những vấn đề bất đồng mà vấn đề phân chia nguồn nước sông Hằng là vấn đề gây cấn nhất [22, tr.131]

Trong mùa khô từ tháng Một đến tháng Năm hàng năm, mực nước sông Hằng giảm xuống mức thấp nhất, gây ra khô hạn cho nhiều vùng ở Bangladesh Bangladesh cáo buộc Ấn Độ đã chặn dòng chảy sông Hằng qua việc xây dựng đập Farakka (1962-1971) Sau nhiều năm đàm phán, Ấn Độ và Bangladesh đã đạt được Thỏa thuận chia sẻ nước sông Hằng (1975), trong đó Ấn Độ cam kết cung cấp 80% nước cho Bangladesh trong 6 tuần khô hạn, thể hiện thiện chí trong quan hệ hai nước Tuy nhiên, phong trào chống Ấn Độ gia tăng ở Bangladesh, buộc Ấn Độ phải có lập trường cứng rắn hơn Vào tháng 11/1977, một thỏa thuận mới về chia sẻ nước sông Hằng được ký kết và có hiệu lực trong 5 năm, nhằm ổn định Bangladesh và thúc đẩy hợp tác khu vực Nam Á, cho thấy khả năng giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán giữa các nước đang phát triển.

Quan hệ Ấn Độ - Pakistan là một trong những mối quan hệ khó khăn nhất ở Nam Á, bị chi phối bởi bất đồng và tranh chấp lãnh thổ, tôn giáo Kể từ khi Hiệp định Mountbatten có hiệu lực vào tháng 8 năm 1947, mối hận thù giữa hai quốc gia đã nảy sinh và kéo dài, đặc biệt là trong tranh chấp vùng Kashmir Theo kế hoạch chia cắt, Ấn Độ được chia thành hai phần dựa trên tôn giáo, với các vùng đa số dân Hồi giáo trở thành Pakistan và các vùng khác thuộc về Ấn Độ Tuy nhiên, sự không nhất quán trong cuộc sát nhập của tiểu vương Kashmir Maharaja đã tạo ra nhiều phức tạp trong quan hệ hai nước.

Chớnh sỏch đối ngoại của Ấn Độọ với khu vực Nam Á từ năm 1991 đến năm 2000

Chớnh sỏch đối ngoại của Ấn Độọ với khu vực Nam Á từ năm 2001 đến năm 2006

Ngày đăng: 16/09/2021, 09:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban tư tưởng – văn hoá trung ương, Vụ tuyên truyền và hợp tác quốc tế (2004), Thế giới, khu vực và một số nước bước vào năm 2004 (Tham khảo nội bộ), Chính trị quốc gia, Hà Nội, 278tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới, khu vực và một số nước bước vào năm 2004
Tác giả: Ban tư tưởng – văn hoá trung ương, Vụ tuyên truyền và hợp tác quốc tế
Năm: 2004
2. Nguyễn Đức Bình, Lê Hữu Nghĩa, Trần Hữu Tiến (2003), Góp phần nhận thức thế giới đương đại, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 509tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nhận thức thế giới đương đại
Tác giả: Nguyễn Đức Bình, Lê Hữu Nghĩa, Trần Hữu Tiến
Năm: 2003
3. Bộ ngoại giao (1995), Hội nhập quốc tế và giữ vững bản sắc, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 443tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nhập quốc tế và giữ vững bản sắc
Tác giả: Bộ ngoại giao
Năm: 1995
4. Chu Văn Chúc (2000), “Ấn Độ 2000”, Nghiên cứu quốc tế, số 37, tr.47- 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ấn Độ 2000”, "Nghiên cứu quốc tế
Tác giả: Chu Văn Chúc
Năm: 2000
5. Dikar Shukta (2000), “Nền ngoại giao Ấn Độ qua các thời kì”, Nghiên cứu quốc tế, số 35, tr.48-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nền ngoại giao Ấn Độ qua các thời kì”, "Nghiên cứu quốc te
Tác giả: Dikar Shukta
Năm: 2000
6. Đỗ Đức Định (2000), “10 năm cải cách kinh tế Ấn Độ”, Nghiên cứu Đông Nam Á, số 6(51), tr.61-67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 10 năm cải cách kinh tế Ấn Độ”, "Nghiên cứu Đông Nam Á
Tác giả: Đỗ Đức Định
Năm: 2000
7. Học viện quan hệ quốc tế (2003), Quan hệ của Mỹ với các nước lớn khu vực Châu Á – Thái Bình Dương(STK), Chính trị quốc gia, Hà Nội, 400tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ của Mỹ với các nước lớn khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
Tác giả: Học viện quan hệ quốc tế
Năm: 2003
8. Nguyễn Cảnh Huệ (2002), “Những thành tựu nổi bật của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước từ 1947 đến nay”, Nghiên cứu Đông Nam Á, số 4, tr.73-80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thành tựu nổi bật của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước từ 1947 đến nay”, "Nghiên cứu Đông Nam A
Tác giả: Nguyễn Cảnh Huệ
Năm: 2002
9. Nguyễn Cảnh Huệ (1998), “Tìm hiểu tư tưởng hoà bình trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ”, Nghiên cứu Lịch sử, số 3, tr.59-65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tư tưởng hoà bình trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ”, "Nghiên cứu Lịch sư
Tác giả: Nguyễn Cảnh Huệ
Năm: 1998
10. Đặng Ngọc Hùng (2004), “Hoà giải giữa Ấn Độ và Pakistan”, Nghiên cứu quốc tế, số 56, tr.78-85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoà giải giữa Ấn Độ và Pakistan”, "Nghiên cứu quốc te
Tác giả: Đặng Ngọc Hùng
Năm: 2004
11. Nguyễn Quốc Hùng (2005), “Thế giới sau chiến tranh lạnh – Một số đặc điểm và xu thế”, Cập nhật 1/06/2005 tại Http://www.saarc.sec.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới sau chiến tranh lạnh – Một số đặc điểm và xu thế”, Cập nhật 1/06/2005 tại
Tác giả: Nguyễn Quốc Hùng
Năm: 2005
12. Hà Mỹ Hương (2006), “Quan hệ giữa các nước lớn tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương: Một vài phân tích và dự báo”, Cộng sản, số 10, tr.68-72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ giữa các nước lớn tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương: Một vài phân tích và dự báo”," Cộng sản
Tác giả: Hà Mỹ Hương
Năm: 2006
13. Nguyễn Thu Hương (2001), “Vị trí của Ấn Độ trên trường quốc tế (thời kì 1947-1997)”, Nghiên cứu Đông Nam Á, số, tr. 50-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị trí của Ấn Độ trên trường quốc tế (thời kì 1947-1997)”, "Nghiên cứu Đông Nam A
Tác giả: Nguyễn Thu Hương
Năm: 2001
14. Đinh Trung Kiên (1995), Ấn Độ hôm qua và hôm nay, Chính trị quốc gia, Nà Nội, 186tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ấn Độ hôm qua và hôm nay
Tác giả: Đinh Trung Kiên
Năm: 1995
15. Nguyễn Kim Lân (2002), “Sự điều chỉnh chiến lược toàn cầu của Mỹ tác động đến an ninh Đông Nam Á và Châu Á - Thái Bình Dương”, Nghiên cứu Quoác teá, soá 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự điều chỉnh chiến lược toàn cầu của Mỹ tác động đến an ninh Đông Nam Á và Châu Á - Thái Bình Dương”, "Nghiên cứu Quoác teá
Tác giả: Nguyễn Kim Lân
Năm: 2002
16. Nguyễn Văn Lập (2002), Trật tự thế giới sau 11/9 (Sự chuyển hướng đồng loạt trong chính sách), Thông Tấn, Hà Nội, 442tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trật tự thế giới sau 11/9 (Sự chuyển hướng đồng loạt trong chính sách
Tác giả: Nguyễn Văn Lập
Năm: 2002
17. Hà Thị Lịch (2005), Vấn đề Casơmia trong quan hệ Ấn Độ – Pakistan từ 1947 đến nay. Luận văn Thạc sỹ khoa học Lịch sử, Hà Nội, 115tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề Casơmia trong quan hệ Ấn Độ – Pakistan từ 1947 đến nay
Tác giả: Hà Thị Lịch
Năm: 2005
18. Lê Bộ Lĩnh (cb) (2006), Kinh tế chính trị thế giới 2005 và dự báo 2006, Từ điển bách khoa, Hà Nội, 243tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế chính trị thế giới 2005 và dự báo 2006
Tác giả: Lê Bộ Lĩnh (cb)
Năm: 2006
19. Vũ Văn Lưu (1992), “Ấn Độ điều chỉnh chính sách đối ngoại đa dạng hoá và thực tế”, Quan hệ quốc tế, số 37, tr.4- 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ấn Độ điều chỉnh chính sách đối ngoại đa dạng hoá và thực tế”, "Quan hệ quốc tế
Tác giả: Vũ Văn Lưu
Năm: 1992
20. Vũ Văn Lưu (1992), “Tổ chức Hợp tác Nam Á”, Quan hệ quốc tế, số 36, tr.14-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức Hợp tác Nam Á”, "Quan hệ quốc tế
Tác giả: Vũ Văn Lưu
Năm: 1992

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w