1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Tiếp Cận Chuẩn Mực IAS 39 Trong Phân Loại Nợ, Trích Lập

142 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiếp Cận Chuẩn Mực IAS 39 Trong Phân Loại Nợ, Trích Lập Và Sử Dụng Dự Phòng Để Xử Lý Rủi Ro Tín Dụng Theo Thông Lệ Quốc Tế Tại Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam
Tác giả Nguyễn Phương Huyền
Người hướng dẫn PGS.TS Trần Huy Hồng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Tp.Hcm
Chuyên ngành Kinh Tế Tài Chính – Ngân Hàng
Thể loại luận văn thạc sĩ kinh tế
Năm xuất bản 2009
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 1,51 MB

Cấu trúc

  • BÌA

  • MỤC LỤC

  • DANH SÁCH BẢNG BIỂU

  • DANH SÁCH BIỂU ĐỒ & PHỤ LỤC

  • DANH SÁCH HÌNH VẼ & ĐỒ THỊ

  • DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

  • LỜI MỞ ĐẦU

  • Chương 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÂN LOẠI NỢ, TRÍCH LẬP VÀ SỬ DỤNG DỰ PHÒNG ĐỂ XỬ LÝ RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THEO THÔNG LỆ QUỐC TẾ PHỔ BIẾN HIỆN NAY

    • 1.1 Sự cần thiết của việc quản lý rủi ro tín dụng Ngân hàng bằng Phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng theo thông lệ quốc tế

    • 1.2 Hiệp ước Basel

      • 1.2.1 Ủy ban Basel:

      • 1.2.2 Lý do lựa chọn nghiên cứu tiếp cận IAS 39

    • 1.3 Giới thiệu về chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 39 (International accounting standard 39)

      • 1.3.1 Lịch sử ra đời IAS 39:

      • 1.3.2 Áp dụng chuẩn mực IAS 39 trong khu vực ngân hàng- Một số nội dung cơ bản

    • KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

  • Chương 2:TIẾP CẬN CHUẨN MỰC IAS 39 TRONG PHÂN LOẠI NỢ , TRÍCH LẬP VÀ SỬ DỤNG DỰ PHÒNG ĐỂ XỬ LÝ RỦI RO TÍN DỤNG THEO THÔNG LỆ QUỐC TẾ, THỰC TRẠNG TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM

    • 2.1Giới thiệu tổng quan về hệ thống ngân hàng Việt Nam

    • 2.2Thực trạng Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại Việt Nam

      • 2.2.1Các văn bản pháp luật liên quan

      • 2.2.2Phân loại nợ, trích lập dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt- 49 -động của các ngân hàng thương mại VN

    • 2.3Khả năng tiếp cận chuẩn mực IAS 39 trong phân loại nợ, trích lập dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng theo thông lệ quốc tế tại Việt Nam

      • 2.3.1Những mặt đạt được trong phân loại nợ, trích lập dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng tại Việt Nam

      • 2.3.2 Sự khác biệt so với thông lệ quốc tế:

      • 2.3.3 So sánh Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) và Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS 39/IFRS):

      • 2.3.4Bài học kinh nghiệm từ một số nước

    • KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

  • Chương 3:MỘT SỐ GIẢI PHÁP TIẾP CẬN CHUẨN MỰC IAS 39 TRONG PHÂN LOẠI NỢ, TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG ĐỂ XỬ LÝ RỦI RO TÍN DỤNG THEO THÔNG LỆ QUỐC TẾ TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM.

    • 3.1Định hướng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với vấn đề Phân loại nợ ,trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng đến năm 2010

    • 3.2Một số giải pháp hướng đến Phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng theo thông lệ quốc tế đối với các NHTM Việt Nam.

      • 3.2.1 Nhóm giải pháp phối hợp giữa các cơ quan Bộ ngành

      • 3.2.2 Nhóm giải pháp đối với các ngân hàng thương mại

      • 3.2.3 Nhóm giải pháp đối với Ngân hàng nhà nước

  • KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

  • KẾT LUẬN

  • PHỤ LỤC 1QUYẾT ĐỊNH CỦA THỐNG ĐỐC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

  • PHỤ LỤC 2QUYẾT ĐỊNHCỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC SỐ 18/2007/QĐ-NHNN

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nội dung

Sự cần thiết của việc quản lý rủi ro tín dụng Ngân hàng bằng Phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng theo thông lệ quốc tế

Ngân hàng đóng vai trò thiết yếu trong nền kinh tế, ảnh hưởng đến cả tổ chức và cá nhân Khi rủi ro tín dụng xảy ra, không chỉ một ngân hàng bị thiệt hại mà còn có thể lan rộng và dẫn đến sự sụp đổ của toàn bộ hệ thống ngân hàng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế Do đó, quản lý rủi ro tín dụng là vô cùng quan trọng để đảm bảo hoạt động an toàn và hiệu quả của ngân hàng.

Nghiệp vụ tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc phân bổ vốn cho nền kinh tế, tuy nhiên, rủi ro tín dụng phát sinh khi khách hàng không thanh toán đúng hạn là một thách thức lớn đối với các ngân hàng Do đó, việc nghiên cứu và quản lý rủi ro tín dụng, cũng như trích lập dự phòng để xử lý các tình huống này, là trách nhiệm thiết yếu của các tổ chức tài chính.

Việc phân loại nợ là quá trình ngân hàng đánh giá và phân chia các khoản nợ thành các nhóm dựa trên mức độ rủi ro và đặc điểm liên quan Quá trình này giúp ngân hàng theo dõi chất lượng danh mục nợ và thực hiện các biện pháp khắc phục kịp thời, như trích lập dự phòng, khi cần thiết Các ngân hàng thương mại thường sử dụng hệ thống xếp loại nội bộ phức tạp hơn so với hệ thống tiêu chuẩn hóa dùng cho báo cáo với cơ quan quản lý Tuy nhiên, hệ thống tiêu chuẩn hóa này lại giúp thuận tiện hơn trong việc theo dõi và so sánh giữa các ngân hàng.

Trong kế toán, nợ xấu cần được dự phòng nếu ngân hàng không thu hồi được toàn bộ số tiền khi đáo hạn, bao gồm cả gốc và lãi Để nhận diện sự suy giảm giá trị của khoản vay, ngân hàng trích lập dự phòng rủi ro Quá trình này yêu cầu các nhà quản lý đánh giá tổn thất tín dụng dựa trên thông tin có sẵn, thường mâu thuẫn với mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng, vì trích lập dự phòng làm giảm lợi nhuận do được tính vào chi phí Đôi khi, ngân hàng phải chấp nhận tổn thất từ quỹ dự phòng, ảnh hưởng đến lợi nhuận và cổ tức của cổ đông Trong một số trường hợp, nếu dự phòng là khấu trừ thuế, ngân hàng có thể lợi dụng việc phóng đại quỹ dự phòng để giảm nợ thuế.

Việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng gặp nhiều thách thức về khái niệm và thực tiễn, với các nước sử dụng hệ thống phân loại nợ khác nhau Thuật ngữ “dự phòng cụ thể” và “dự phòng chung” tuy được đề cập nhiều trong các văn bản quy định, nhưng định nghĩa của chúng lại khác nhau tùy theo từng quốc gia, gây khó khăn trong việc giải thích các chỉ số tài chính quan trọng Điều này đặc biệt ảnh hưởng đến việc so sánh hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng giữa các nước Hơn nữa, thời gian trước khi một khoản vay quá hạn và thời gian trích lập dự phòng cho nợ xấu cũng có sự khác biệt, điều này cần được nhận thức rõ ràng để đánh giá chính xác các chỉ số tài chính và vốn của ngân hàng.

Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro là tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá ngân hàng Hệ thống pháp luật quốc gia đóng vai trò lớn trong việc thực thi các điều khoản hợp đồng vay nợ Ở các nước với hệ thống pháp luật mạnh, khoản vay sẽ được xem là quá hạn ngay khi bên vay không có khả năng trả nợ Ngược lại, ở những nước có hệ thống pháp luật yếu, thời gian giữa việc chưa thanh toán nợ và việc sửa đổi phân loại nợ có thể kéo dài hơn.

Việc tiếp cận phân loại nợ và xác định trích lập dự phòng thích hợp có sự khác biệt đáng kể, đặc biệt là trong việc xem xét tài sản cầm cố thế chấp Không phải tất cả các hệ thống pháp luật đều thống nhất về định nghĩa và tiêu chí định giá tài sản cầm cố, điều này gây khó khăn trong việc so sánh quy định giữa các quốc gia Sự thiếu đồng thuận về khả năng bán được tài sản cầm cố càng làm phức tạp thêm vấn đề này.

Tất cả các vấn đề nêu trên yêu cầu sự thống nhất trong việc áp dụng các tiêu chuẩn phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro giữa các ngân hàng Tuy nhiên, đây là một thách thức lớn đối với các cơ quan giám sát ngân hàng toàn cầu.

Sự khác biệt trong cách tiếp cận phân loại nợ và dự phòng rủi ro gây khó khăn trong việc so sánh hiệu quả của các ngân hàng giữa các hệ thống pháp luật, dẫn đến áp lực và làm giảm hiệu quả thực thi các nguyên tắc thị trường Các phương pháp phân loại nợ kém có thể tạo ra bất an về khả năng thanh toán, nhưng những khác biệt này không chỉ do thiếu hợp tác của chính quyền mà còn phản ánh nhu cầu cụ thể của các hệ thống tài chính ở các mức độ phát triển khác nhau Để thống nhất hệ thống quy phạm pháp luật, cần xác định rõ các tiêu chuẩn tối thiểu cho phân loại nợ, không chỉ dựa trên quản lý rủi ro mà còn phải phù hợp với các đặc điểm kinh tế và pháp luật của từng quốc gia Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng các quy định về phân loại nợ và trích lập dự phòng để quản lý rủi ro tín dụng theo thông lệ quốc tế.

Hiệp ước Basel

Hiện nay hoạt động ngân hàng hiệu quả đều được xem xét theo chuẩn mực được nêu chi tiết tại Basel I,II và IAS 39

1.2.1 Ủy ban Basel: Ủy ban Basel (Basel Committee): là cơ quan được thành lập vào năm 1974 bởi thống đốc ngân hàng trung ương của nhóm 10 nước (G10) Ủy ban này xây dựng và công bố những tiêu chuẩn và những hướng dẫn giám sát rộng rãi, đồng thời giới thiệu các báo cáo thực tiễn tốt nhất trong kỳ vọng rằng các tổ chức riêng lẻ sẽ áp dụng thông qua những sắp xếp chi tiết phù hợp nhất cho hệ thống quốc gia của chính họ

Ủy ban Basel nhấn mạnh rằng sự yếu kém trong hệ thống ngân hàng có thể đe dọa sự ổn định tài chính cả trong nước và toàn cầu, do đó cần nâng cao sức mạnh của hệ thống tài chính Ủy ban đã hoạt động nhiều năm qua nhằm thúc đẩy quan điểm này thông qua mối liên hệ với các chuyên gia giám sát ngân hàng toàn cầu Họ thường xuyên tổ chức thảo luận về hợp tác quốc tế để cải thiện giám sát ngân hàng và giảm khoảng cách trong công tác này Để đạt được mục tiêu, Ủy ban Basel chú trọng vào việc trao đổi thông tin giám sát, cải thiện hiệu quả kỹ thuật giám sát ngân hàng quốc tế và thiết lập tiêu chuẩn giám sát tối thiểu Tiêu chuẩn Basel hiện được công nhận và áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới.

Hiệp ước Basel I được thiết lập vào tháng 7 năm 1988 sau cuộc họp của Ủy ban Basel, nhằm đưa ra các chuẩn mực quốc tế về vốn và phương pháp đo lường vốn trong hoạt động ngân hàng.

Hiệp ước Basel I giới thiệu các khái niệm quan trọng về vốn ngân hàng, bao gồm vốn cơ bản (core capital) và vốn bổ sung cơ bản (supplementary capital) như dự trữ không công khai, nguồn giá trị tăng thêm từ đánh giá lại tài sản, các công cụ nợ chuyển đổi thành cổ phiếu, và các khoản nợ thứ cấp có kỳ hạn Bên cạnh đó, hiệp ước cũng đề cập đến các khoản giảm trừ vốn, dự phòng chung và dự phòng tổn thất tín dụng, nhằm giúp ngân hàng xác định chính xác nguồn vốn tự có Hơn nữa, hiệp ước này còn quy định các hệ số rủi ro liên quan đến rủi ro tín dụng và yêu cầu trích lập dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng hiệu quả.

Hiệp ước Basel I phân loại vốn thành hai cấp: Vốn cấp 1 (Tier 1) bao gồm vốn cổ phần thường và các khoản dự trữ công khai, trong khi Vốn cấp 2 (Tier 2) bao gồm các khoản dự trữ không công khai, giá trị gia tăng từ việc đánh giá lại tài sản, dự phòng chung, dự phòng tổn thất tín dụng, cùng với các công cụ nợ có thể chuyển đổi thành cổ phiếu và các khoản nợ thứ cấp.

Tổng vốn cấp 1 và cấp 2 chính là vốn tự có hay vốn cơ bản của tổ chức tín dụng Vốn tự có phải đảm bảo những giới hạn sau:

+ Tổng vốn cấp 2 chỉ được tối đa bằng 100 % vốn cấp 1

+ Nợ thứ cấp phải nhỏ hơn hoặc bằng 50% vốn cấp 1

Trong trường hợp dự phòng chung hoặc dự phòng tổn thất tín dụng, giá trị giảm do đánh giá lại tài sản chưa được thể hiện trên bảng cân đối kế toán Phần dự phòng cho các khoản này sẽ bị giới hạn tối đa là 1,25% của tài sản có rủi ro, và trong một số trường hợp đặc biệt, tỷ lệ này có thể lên tới 2%.

+ Dự trữ tài sản đánh giá lại được chiết khấu 50%

+ Thời gian đáo hạn còn lại của nợ thứ cấp tối thiểu là 5 năm; vốn ngân hàng không bao gồm vốn vô hình (goodwill)

Theo quy định của Basel I, mỗi loại tài sản sẽ được gán một trọng số rủi ro khác nhau, phân thành 4 mức: 0%, 20%, 50% và 100% Cụ thể, tiền mặt tại quỹ và trái phiếu chính phủ có trọng số rủi ro là 0%, trong khi các khoản vay cho khu vực tư nhân có trọng số rủi ro là 100%.

Quy định này có nhược điểm lớn là không phân biệt giữa các loại rủi ro đặc thù, dẫn đến việc đánh giá rủi ro chủ yếu mang tính định lượng thay vì định tính Chẳng hạn, tất cả các khoản vay từ khu vực tư nhân đều được gán trọng số 100%, bất kể đó là khoản vay của một công ty danh tiếng như IBM hay của một doanh nghiệp địa phương không nổi tiếng.

Hiệp ước Basel I năm 1988 là một thỏa thuận quốc tế quan trọng, thiết lập các tiêu chuẩn về vốn tự có cho ngân hàng Nó quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu và quản lý rủi ro tín dụng, bao gồm cả việc dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng Những tiêu chuẩn này đóng vai trò then chốt trong việc giúp các ngân hàng trên toàn thế giới đảm bảo an toàn trong hoạt động tài chính của mình.

1.2.1.2 Hiệp ước Basel II ( The New Capital Accord):

Hiệp ước Basel II (Phiên bản toàn diện tháng 6/2006) là một hiệp ước quốc tế nhằm thiết lập tiêu chuẩn an toàn vốn, tăng cường quản trị trong lĩnh vực tài chính toàn cầu, đồng thời tối ưu hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro Hiệp ước này được coi là giải pháp cải thiện các tiêu chuẩn hoạt động ngân hàng, với các yêu cầu cụ thể về quản trị rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường.

Hiệp ước Basel II đã phát triển và khắc phục những nhược điểm của Hiệp ước Basel

I Chẳng hạn, trong quy định vốn tối thiểu của mình, Basel I mới chỉ đề cập đến những rủi ro về tín dụng chứ chưa đề cập đến những rủi ro khác như rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường Ngoài ra, một số quy tắc do Basel I đưa ra chỉ có thể vận dụng trong trường hợp ngân hàng hoạt động theo kiểu đơn lẻ thuần túy ( stand- alone bank) là ngân hàng không dựa trên một sự sáp nhập hay hoạt động theo kiểu tập đoàn ngân hàng, ngân hàng mẹ, ngân hàng-chi nhánh…

So với hiệp ước Basel I, Basel II thể hiện sự linh hoạt hơn trong việc xác định nhu cầu vốn tối thiểu cho các tài sản có rủi ro của ngân hàng thương mại Các tiêu chuẩn của Basel II cũng nhạy cảm hơn với rủi ro, thông qua việc xử lý các biến xác suất và kỳ vọng.

Hiệp ước Basel II đã nâng cao tiêu chuẩn xác định tỷ lệ an toàn vốn, khắc phục những hạn chế của Basel I và thúc đẩy các ngân hàng áp dụng các phương pháp quản trị rủi ro tiên tiến hơn.

Hiệp ước Basel II cung cấp nhiều phương án lựa chọn, mang lại quyền tự quyết cao trong giám sát ngân hàng Nó bao gồm các chuẩn mực giám sát nhằm nâng cao kỹ thuật quản trị rủi ro, được tổ chức theo ba trụ cột chính.

Trụ cột thứ nhất- Yêu cầu vốn tối thiểu: Quy định yêu cầu tỷ lệ vốn tối thiểu đối với rủi ro tín dụng và rủi ro hoạt động

Một tổ chức tài chính được xem là đủ vốn khi hệ số đủ vốn (Capital Adequacy Ratio - CAR) đạt ít nhất 4% cho vốn cấp 1 và 8% cho tổng vốn, bao gồm cả vốn cấp 1 và vốn cấp 2 Hệ số CAR được tính toán dựa trên các yếu tố tài chính của tổ chức.

Tài sản có điều chỉnh rủi ro

Giới thiệu về chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 39 (International accounting

Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) là tập hợp các nguyên tắc và quy định hạch toán kế toán, cũng như cách trình bày báo cáo tài chính, được công nhận rộng rãi trên toàn cầu Hệ thống này được phát triển và cập nhật thường xuyên bởi Hội đồng Chuẩn mực kế toán Quốc tế (IASB - International Accounting Standards Board).

The IASB, originally established as the International Accounting Standards Committee (IASC) in 1973 with support from the World Bank, includes member countries such as Australia, Canada, France, Germany, Japan, and Mexico.

Hà Lan Đến năm 2001, IASC được đổi tên thành IASB

IASB, tổ chức độc lập thuộc khu vực tư nhân có trụ sở tại London, Vương quốc Anh, chuyên phát triển và chấp nhận các chuẩn mực kế toán quốc tế Tổ chức này hoạt động dưới sự giám sát của Ủy ban sáng lập chuẩn mực kế toán quốc tế (International Accounting Standards Committee Foundation).

Mục tiêu chính của IASB là phát triển các chuẩn mực kế toán chất lượng cao, thống nhất và dễ hiểu, phục vụ lợi ích công chúng Tổ chức này nhằm tăng cường tính minh bạch và khả năng so sánh của thông tin trong báo cáo tài chính, giúp các thành viên thị trường vốn và người sử dụng báo cáo tài chính đưa ra quyết định kinh tế chính xác IASB cũng thúc đẩy việc áp dụng nghiêm ngặt các chuẩn mực kế toán quốc tế và cung cấp giải pháp chất lượng cao cho sự hòa hợp giữa hệ thống chuẩn mực kế toán quốc gia và quốc tế.

Chuẩn mực kế toán quốc tế bao gồm 3 nhóm chính là: IASs (International Accounting Standards)- nhóm chuẩn mực kế toán do IASC ban hành; IFRSs

Lịch sử ra đời IAS 39

Có thể tóm tắt lịch sử ra đời của IAS 39 qua bảng sau:

Bảng 1.1: Lịch sử ra đời và phát triển của IAS 39

Tháng 10/ 1984 Công bố bản thảo E26 – chuẩn mực kế toán đầu tư (Accounting for Investments) Tháng 03/1986 IAS 25 Chuẩn mực kế toán đầu tư

01/01/1987 Ngày hiệu lực của IAS 25

Tháng 09/1991 Công bố bản thảo E40 – Các công cụ tài chính (Financial

Tháng 01/1994 Sửa đổi E40 thành bản thảo E48 – Các công cụ tài chính

Vào tháng 06/1995, E48 được đưa vào IAS 32 như một phần của kiến thức về ghi nhận và xác định giá trị các tài sản tài chính Đến tháng 03/1997, biên bản thảo luận về chuẩn mực kế toán cho tài sản tài chính đã được công bố.

Tháng 06/1998 Bản thảo E62 – Các công cụ tài chính: Ghi nhận và xác định giá trị

Tháng 12/1998 IAS 39 – Các công cụ tài chính: Ghi nhận và xác định giá trị

Tháng 04/2000 Thêm phần Tài sản Đầu tư (Investment Property) lấy từ IAS 25

(theo sự phê duyệt thể hiện trong IAS 40) Tháng 10/2000 Duyệt cho IAS 39 có hiệu lực từ ngày 01/01/2001

On August 21, 2003, a draft titled "Fair Value Hedge Accounting for a Portfolio Hedge of Interest Rate Risk" (Macro Hedging) was released for public consultation.

17/12/2003 Bản sửa đổi IAS 39 do IASB phát hành

31/03/2004 IAS 39 sửa đổi thêm phần Kế toán bảo vệ vĩ mô (Macro

Hedging) 17/12/2004 Bản chỉnh sửa phần Chuyển đổi và ghi nhận ban đầu trong kết quả kinh doanh cho IAS 39 01/01/2005 Ngày hiệu lực của IAS 39 (Bản sửa năm 2004)

14/04/2005 Bản chỉnh sửa về “Bảo vệ dòng tiền của các giao dịch nội bộ dự tính” (cash flow hedges of forecast intragroup transactions) trong IAS 39

15/06/2005 Bản chỉnh sửa về Quyền chọn giá trị hợp lý - fair value option trong IAS 39

Vào ngày 18 tháng 8 năm 2005, đã có bản chỉnh sửa về hợp đồng bảo đảm tài chính trong IAS 39 Tiếp theo, vào ngày 6 tháng 9 năm 2007, có đề xuất chỉnh sửa điều kiện công bố kế toán bảo vệ trong IAS 39 Cuối cùng, vào ngày 22 tháng 5 năm 2008, IAS đã được chỉnh sửa để phù hợp với IFRSs 2007.

01/01/2009 IAS 39 (bản sửa đổi tháng 05/2008) có hiệu lực

0/07/2008 Chỉnh sửa IAS 39 về Các hạng mục được bảo vệ thích hợp

(eligible hedged items) 13/10/2008 Chỉnh sửa IAS 39 về Phân loại các tài sản tài chính

(Reclassifications of financial assets) 01/07/2008 Sửa đổi Phân loại các tài sản tài chính (Reclassifications of financial assets) chính thức có hiệu lực.

Áp dụng chuẩn mực IAS 39 trong khu vực ngân hàng- Một số nội dung cơ bản

Nhận biết và loại bỏ (Recognition and Derecognition) Đo lường (Measurement)

Các công cụ phái sinh và

Kế toán bảo vệ (Derivatives and Hedge Accounting)

Hình 1.1: Tổng quan về IAS 39, nguồn “ Tổng quan về các tiêu chuẩn công cụ tài chính” (Overview of the Financial Instrument Standards, KPMG, (2006), p.5)

1.3.2.1 Các khái niệm cơ bản:

Công cụ tài chính (IAS 32/39) là hợp đồng giúp tăng tài sản có tài chính của một tổ chức, đồng thời tạo ra tài sản nợ tài chính hoặc khoản công cụ vốn của một tổ chức khác.

Các công cụ tài chính (Financial Instruments)

Tài sản có tài chính

Tiền mặt trên bảng cân đối

Quyền trên những khoản thanh toán bằng tiền mặt hoặc các tài sản có tài chính khác

Tài sản nợ tài chính (Financial liabilities)

Nghĩa vụ phải thanh toán các khoản tiền mặt hoặc các tài sản nợ tài chính

Các công cụ cổ phần (Equity Instruments)

Cổ tức trong những tổ chức Quyền chọn, cổ phần/ cổ tức được chia của bản thân tổ chức đó

Hình 1.2: Kết cấu của các công cụ tài chính (Scharpf, (2001), p.15)

Tài sản tài chính là những tài sản như tiền mặt, công cụ vốn của tổ chức khác, hoặc quyền lợi theo hợp đồng cho phép nhận tiền mặt hoặc tài sản tài chính từ một tổ chức khác Nó cũng bao gồm việc trao đổi tài sản tài chính hoặc nợ tài chính với điều kiện có lợi cho tổ chức Ngoài ra, tài sản tài chính có thể là hợp đồng liên quan đến công cụ vốn của tổ chức hoặc các công cụ phái sinh có thể được lập thông qua việc trao đổi tài sản Tuy nhiên, các công cụ vốn của tổ chức không bao gồm các hợp đồng cho việc nhận hay chuyển giao trong tương lai.

Tài sản nợ tài chính là nghĩa vụ hợp đồng yêu cầu chuyển giao tiền mặt hoặc tài sản tài chính cho một tổ chức khác Điều này có thể bao gồm việc trao đổi tài sản tài chính hoặc nợ với các điều kiện có lợi cho tổ chức Ngoài ra, nó cũng có thể liên quan đến các hợp đồng có thể được thực hiện bằng các công cụ vốn của chính tổ chức đó.

Khái niệm này áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực ngân hàng, bao gồm các khoản vay, tiền mặt, tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn, thương phiếu, tài khoản, tiền giấy, các khoản phải thu và phải trả, cũng như chứng khoán vốn và chứng khoán nợ Nó còn bao gồm các chứng khoán được đảm bảo bằng tài sản như giấy tờ thế chấp và hợp đồng mua lại, cùng với các gói khoản phải thu đã được chứng khoán hóa Ngoài ra, các công cụ phái sinh như quyền chọn, hợp đồng tương lai, hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng hoán đổi (swaps) cũng nằm trong phạm vi áp dụng.

Công cụ cổ phần là một thoả thuận ghi nhớ lãi suất còn lại trong các tài sản của tổ chức, sau khi đã trừ đi tất cả các tài sản nợ.

Giá trị hợp lý (Fair Value) theo IAS 32/39 là số tiền mà một tài sản có thể được trao đổi hoặc một tài sản nợ có thể được thanh toán giữa các bên hiểu biết và tự nguyện tham gia vào giao dịch Giá trị hợp lý được thể hiện rõ khi tài sản được ghi nhận trên một thị trường hoạt động.

Giá trị khấu hao hay chi phí khấu hao (amortised cost) là số tiền ban đầu của tài sản hoặc nợ tài chính, sau khi đã trừ đi các khoản thanh toán vốn và điều chỉnh theo khấu hao dồn lại Phương pháp tính toán này sử dụng tỷ lệ lãi suất hiệu quả, đồng thời cũng xem xét sự khác biệt giữa số tiền ban đầu và số tiền thanh toán đến hạn, không bao gồm các tổn thất phát sinh.

Tỷ lệ lãi suất hiệu quả (EIR) là chỉ số phản ánh giá trị thực tế của các dòng tiền mặt trong một khoảng thời gian nhất định, so với số tiền đầu tư ban đầu trong chu kỳ dự đoán của công cụ tài chính.

Số tiền ban đầu, hay giá trị ban đầu, phản ánh giá trị thực tế của tài sản được xem xét, bao gồm cả các chi phí giao dịch có thể dự đoán trước.

Công cụ phái sinh là loại tài chính có giá trị thay đổi dựa trên biến động giá, chỉ số hoặc các yếu tố khác Đầu tư ban đầu vào công cụ phái sinh thường thấp hoặc thậm chí bằng 0 so với tài sản cơ bản, và sẽ được thanh toán vào một thời điểm trong tương lai Tất cả công cụ phái sinh đều được ghi nhận trên bảng cân đối và được định giá theo giá trị thực tế.

Công c ụ phái sinh ẩ n: Là bất kỳ công cụ tài chính nào có thể bao gồm một

Nghiệp vụ phái sinh “ẩn” là một loại công cụ tài chính trung gian, trong đó một ví dụ điển hình là lựa chọn trao đổi cổ phiếu của một tổ chức khác, chẳng hạn như trái phiếu có thể chuyển đổi.

Công cụ trung gian bao gồm thoả thuận chính và nghiệp vụ phái sinh ẩn Cần lưu ý rằng thoả thuận chính có thể là thoả thuận tài chính hoặc phi tài chính.

1.3.2.2 Một số nội dung cơ bản :

Nội dung chính của IAS 39 tập trung vào việc nhận biết và đánh giá tài sản tài chính, nợ tài chính, cùng với một số hợp đồng mua bán tài sản phi tài chính Bài viết sẽ trình bày một số điểm quan trọng liên quan đến hoạt động ngân hàng.

Theo chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 39, mọi tài sản tài chính phải được ghi nhận ban đầu theo giá trị hợp lý, tức là giá trị mà tài sản có thể được trao đổi hoặc khoản nợ có thể được tất toán giữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong giao dịch ngang giá.

IAS 39 yêu cầu sử dụng phương pháp lãi suất hiệu quả để xác định dòng tiền chiết khấu trong việc ghi nhận sự suy giảm giá trị của các khoản cho vay và tạm ứng khách hàng, tính dự phòng rủi ro tín dụng bằng phần chênh lệch giữa giá trị ghi sổ và giá trị hiện tại của dòng tiền ước tính thu hồi trong tương lai chiết khấu theo tỷ lệ lãi suất gốc, bao gồm giá trị có thể thu hồi của tài sản bảo đảm (nếu có) Đối với các khoản vay:

Giới thiệu tổng quan về hệ thống ngân hàng Việt Nam

Hệ thống ngân hàng Việt Nam, được thành lập theo sắc lệnh số 15-SL vào ngày 6-5-1951, do Chủ tịch Hồ Chí Minh phê chuẩn, đã đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế tập trung, với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNNVN) giữ vị trí độc quyền trong các giao dịch ngân hàng NHNNVN có chức năng của ngân hàng trung ương và ngân hàng thương mại, đồng thời có hai ngân hàng chuyên doanh trực thuộc là Ngân hàng Ngoại thương (Vietcombank) và Ngân hàng Kiến Thiết (BIDV), nhằm hỗ trợ NHNNVN trong việc phân bổ tài chính cho các doanh nghiệp theo định hướng của Chính phủ Hệ thống ngân hàng tại Việt Nam được gọi là ngân hàng một cấp, không phân biệt chức năng giữa ngân hàng trung ương và ngân hàng thương mại.

Trong quá trình cải cách kinh tế, lĩnh vực tài chính là lĩnh vực đầu tiên được tự do hóa, bắt đầu từ năm 1987 với việc hỗ trợ dần dần tự do hóa tiền tệ và thương mại Chính phủ Việt Nam đã xác định cải tổ và đổi mới hệ thống ngân hàng là yếu tố quyết định cho thành công của quá trình cải cách kinh tế.

Năm 1988, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định số 53/HDBT, bãi bỏ mô hình ngân hàng một cấp và phân chia nhiệm vụ giữa Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và các ngân hàng thương mại như BIDV, Vietcombank, cùng với việc thành lập Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NHNNPTNT) và Ngân hàng Công thương Việt Nam (VIETINBANK) Sự áp dụng Nghị định này đã dẫn đến việc hình thành hệ thống ngân hàng hai cấp tại Việt Nam, góp phần thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của mô hình ngân hàng này.

Cuối thập niên 80, bên cạnh việc bãi bỏ mô hình ngân hàng một cấp, sự bùng phát và đổ vỡ hàng loạt của các hợp tác xã tín dụng đã gây ra nợ xấu trong hệ thống ngân hàng, vấn đề này vẫn tồn tại đến nay Tự do hoá lĩnh vực tài chính mới bắt đầu, nhưng sự thiếu quan tâm của các ngân hàng nhà nước đối với lĩnh vực tư nhân đã dẫn đến sự gia tăng số lượng hợp tác xã tín dụng Từ giữa những năm 80 đến năm 2000, số quỹ tín dụng nhân dân tăng lên 7180, nhưng cơ cấu vận hành yếu kém đã khiến hơn 7000 quỹ này phá sản, chỉ còn 160 quỹ hoạt động vào cuối năm 1990 Trước tình hình này, NHNNVN đã thực hiện nhiều giải pháp như giải thể các quỹ không khả năng thanh toán, sát nhập các ngân hàng có khả năng thanh toán và chuyển đổi hình thức sở hữu của các quỹ tín dụng thành ngân hàng cổ phần bằng cách tăng vốn.

Việc hàng loạt quỹ tín dụng nhân dân phá sản đã làm giảm lòng tin của người dân và gây ra những hệ lụy nghiêm trọng cho nền kinh tế, đặc biệt là siêu lạm phát Để giải quyết tình trạng này và chỉ ra những yếu kém trong quản lý ngân hàng thông qua các sắc lệnh và nghị định của chính phủ, Quốc hội Việt Nam đã ban hành hai Pháp lệnh quan trọng: (i) Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, quy định rõ chức năng, quyền hạn và trách nhiệm của Ngân hàng Nhà nước như một ngân hàng trung ương; (ii) Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng.

Kết quả từ chương trình thí điểm và kế hoạch phát triển các Quỹ tín dụng nhân dân cho thấy sự hình thành và hoạt động của các tổ chức tài chính này có ảnh hưởng tích cực đến chức năng kinh doanh thương mại Thời báo Ngân hàng, 1995, đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của các Quỹ tín dụng nhân dân trong việc hỗ trợ phát triển kinh tế địa phương và nâng cao khả năng tiếp cận tài chính cho người dân.

Sự ra đời của hai Pháp lệnh mới đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống ngân hàng Việt Nam, đặc biệt là số lượng ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) Trước năm 1991, cả nước chỉ có 4 NHTMCP, nhưng đến năm 1992, con số này đã tăng vọt lên 22 ngân hàng, tương đương với mức tăng 350% Đến năm 1996, số lượng ngân hàng tiếp tục tăng lên 51, với mức tăng 131,8% Trong bối cảnh yêu cầu phát triển mới, nhiều quy định trong lĩnh vực ngân hàng đã trở nên không còn phù hợp, dẫn đến việc Quốc hội Việt Nam ban hành hai luật ngân hàng vào tháng 12 năm 1997 để thay thế các Pháp lệnh cũ.

Hai luật này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong sự phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam, công nhận mọi hình thức sở hữu trong ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng Đồng thời, luật cũng thừa nhận các nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, nhấn mạnh quy tắc thận trọng và củng cố hệ thống ngân hàng.

Kể từ thời điểm đó, các văn bản pháp luật liên quan đã được ban hành liên tục nhằm thích ứng với điều kiện mới và thực hiện các chỉ đạo của chính phủ trong việc đạt được các mục tiêu vĩ mô.

Kể từ năm 2000, số lượng ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) tại Việt Nam đã giảm từ 48 xuống còn 36 ngân hàng, chủ yếu do chính sách của Ngân hàng Nhà nước trong việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, tập trung vào chất lượng hơn số lượng Chính phủ đã thực hiện mục tiêu cổ phần hóa các ngân hàng quốc doanh, trong đó Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) là ngân hàng tiên phong hoàn thành phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng, chính thức chuyển từ ngân hàng thương mại nhà nước sang ngân hàng thương mại cổ phần vào năm 2008 Năm 2009, Ngân hàng Công thương Việt Nam cũng tiếp tục quá trình này.

Vietinbank đã thành công trong việc cổ phần hóa và hiện đã niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh Trong tương lai gần, các ngân hàng như MHB và BIDV cũng sẽ thực hiện cổ phần hóa Xu hướng chung cho thấy tất cả các ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN) sẽ chuyển đổi thành ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP), trong khi chỉ còn lại Ngân hàng chính sách xã hội và Ngân hàng phát triển Việt Nam thuộc 100% vốn nhà nước.

Trong bối cảnh sự biến động về số lượng các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) trong hệ thống tài chính, số lượng chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam đã tăng trưởng đáng kể Từ năm 1992, khi bắt đầu cấp phép cho việc mở chi nhánh ngân hàng nước ngoài, đến nay, sự gia tăng này cho thấy sự thu hút của thị trường ngân hàng Việt Nam đối với các nhà đầu tư quốc tế.

Tính đến năm 2023, Việt Nam đã có 28 ngân hàng nước ngoài hoạt động, với tổng cộng 45 chi nhánh ngân hàng nước ngoài Sự gia tăng này cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống ngân hàng quốc tế tại Việt Nam kể từ năm 2000, khi chỉ có 26 chi nhánh.

Năm 2008, các ngân hàng 100% vốn nước ngoài lần đầu tiên có mặt tại Việt Nam, với Ngân hàng Standard Chartered là ngân hàng đầu tiên được cấp giấy phép Sau đó, các ngân hàng lớn khác như HSBC, ANZ, Hong Leong và Shinhan cũng gia nhập thị trường.

Đến cuối năm 2008, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam bao gồm 6 ngân hàng thương mại nhà nước, 36 ngân hàng thương mại cổ phần, 5 ngân hàng thương mại liên doanh, 28 chi nhánh ngân hàng nước ngoài (tổng cộng 45 chi nhánh) và 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài Sự chuyển đổi từ ngân hàng thương mại nhà nước sang ngân hàng thương mại cổ phần cùng với sự tham gia của các ngân hàng 100% vốn nước ngoài đã làm phong phú thêm bức tranh hệ thống các tổ chức tín dụng.

Biểu đồ 2.1: Số lượng các ngân hàng thương mại tại Việt Nam qua các năm

Nguồn: Tổng hợp từ Ngân hàng nhà nước, báo và internet

Thực trạng Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại Việt Nam

2.2.1 Các văn bản pháp luật liên quan: Quyết định 493/2005/QĐ- NHNN ngày 22/04/2005 quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng và

Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 sửa đổi, bổ sung các quy định về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trong ngân hàng, theo Quyết định 493, là văn bản mới nhất liên quan đến vấn đề này tại Việt Nam Mặc dù đã tiếp cận gần với các chuẩn mực quốc tế, hệ thống kế toán của các tổ chức tín dụng Việt Nam vẫn chỉ tuân thủ khoảng 50% các chuẩn mực kế toán quốc tế, điều này đã ảnh hưởng đáng kể đến giá trị trích lập dự phòng rủi ro tín dụng.

2.2.1.1 Quyết định 493 và Quyết định 18: Đối với các tổ chức tín dụng, Quyết định 493/2005/QĐ- NHNN và Quyết định số

Nghị định 18/2007/QĐ-NHNN hiện nay quy định trực tiếp về việc phân loại nợ và trích lập dự phòng nhằm xử lý rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam.

Trước khi quyết định 493 được ban hành, hai quyết định 297 và 488 về việc trích lập dự phòng rủi ro đã được áp dụng Tuy nhiên, với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế và sự đa dạng trong các dịch vụ tài chính ngân hàng, hai quyết định này đã trở nên không còn phù hợp.

Quyết định 493 ra đời nhằm thay thế hai quyết định trước đó do sự phát triển của đất nước đã làm cho chúng trở nên không còn phù hợp Việc này không chỉ đơn thuần là thay đổi mà còn dựa trên tiêu chí sửa đổi Quyết định 297/1999/QĐ-NHNN5 về tỷ lệ đảm bảo an toàn và Quyết định 488/2000/QĐ-NHNN5 về trích lập dự phòng rủi ro.

Cần thực hiện sửa đổi toàn diện và sâu rộng đối với quy chế liên quan đến tỷ lệ bảo đảm an toàn và việc trích lập dự phòng rủi ro trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng (TCTD).

- Đảm bảo một sự thông thoáng hơn cho hoạt động của ngân hàng nhưng lại an toàn hơn và nâng cao được tầm quản lý của NHNN

Các sửa đổi cơ bản cần phải cải thiện tính định tính trong các quy chế, đồng thời vẫn phải bao gồm các quy định định lượng cụ thể Điều này mang lại hai lợi ích quan trọng: đầu tiên, nó giúp tăng cường tính minh bạch và dễ hiểu trong quy định; thứ hai, nó tạo điều kiện cho việc đánh giá và thực thi hiệu quả hơn.

+ Thứ nhất, các ngân hàng thương mại có thể chủ động hơn trong việc xác lập các tỷ lệ an toàn;

Thanh tra Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đóng vai trò then chốt trong việc giám sát quy trình trích lập dự phòng rủi ro, đồng thời thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với các tổ chức tín dụng (TCTD).

Quyết định 493 được xem là phù hợp với tình hình quản lý và hoạt động của các ngân hàng Việt Nam, nhằm nâng cao tính an toàn trong hoạt động ngân hàng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và sự đa dạng hóa dịch vụ tài chính ngân hàng.

Quyết định 493 đã thay đổi cách phân loại nợ từ phương pháp "định lượng" sang "định tính", cho phép các tổ chức tín dụng (TCTD) đủ khả năng và điều kiện thực hiện phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo tiêu chuẩn quốc tế Sự thay đổi này giúp đưa ra mức sàn phù hợp hơn với quy mô của từng TCTD, từ đó các ngân hàng có thể điều chỉnh dựa trên thực trạng của mình.

Có thể tóm tắt một số nội dung cơ bản của Quyết định 493 như sau:

* Các khái niệm cần chú ý:

Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ theo cam kết.

Dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập nhằm bảo vệ tổ chức tín dụng khỏi những tổn thất có thể xảy ra khi khách hàng không thực hiện nghĩa vụ cam kết Khoản dự phòng này được tính dựa trên dư nợ gốc và được hạch toán vào chi phí hoạt động của tổ chức tín dụng.

+ D ự phòng c ụ th ể : là khoản tiền được trích lập trên cơ sở phân loại cụ thể các khoản nợ để dự phòng cho những tổn thẩt có thể xảy ra

Dự phòng chung là khoản tiền được trích lập nhằm bảo vệ trước những tổn thất chưa xác định trong quá trình phân loại nợ Khoản dự phòng này đặc biệt quan trọng trong các tình huống khó khăn tài chính của tổ chức tín dụng, khi chất lượng các khoản nợ có dấu hiệu suy giảm.

- S ử d ụ ng d ự phòng : là việc tổ chức tín dụng sử dụng dự phòng rủi ro để bù đắp tổn thất đối với các khoản nợ

+ Các khoản cho vay, ứng trước, thấu chi và cho thuê tài chính;

+ Các khoản chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác;

+ Các khoản bao thanh toán;

+ Các hình thức tín dụng khác

- N ợ quá h ạ n : là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn

Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ là khoản nợ mà tổ chức tín dụng điều chỉnh kỳ hạn trả nợ hoặc gia hạn nợ cho khách hàng, dựa trên đánh giá rằng khách hàng có khả năng suy giảm trong việc trả nợ gốc hoặc lãi đúng hạn Tuy nhiên, tổ chức tín dụng vẫn tin tưởng rằng khách hàng có đủ khả năng để trả nợ gốc và lãi theo thời hạn đã được cơ cấu lại.

* Một số nội dung cụ thể:

Nợ được phân loại thành hai hình thức chính: định tính và định lượng, với các tiêu chí phân loại nợ cụ thể Mỗi hình thức này bao gồm 5 nhóm nợ, và tỷ lệ trích lập dự phòng cho cả hai hình thức là tương đương nhau Nợ thuộc nhóm 1 được xem là đủ tiêu chuẩn, trong khi nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5 được coi là không đủ tiêu chuẩn.

Phân loại nợ theo phương pháp định lượng (Điều 6 QĐ 493):

- Nhóm 1 ( Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm :

+ Các khoản nợ mà tổ chức tín dụng đánh giá là có đủ khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc lẫn lãi đúng hạn;

Khả năng tiếp cận chuẩn mực IAS 39 trong phân loại nợ, trích lập dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng theo thông lệ quốc tế tại Việt Nam

2.3.1 Những mặt đạt được trong phân loại nợ, trích lập dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng tại Việt Nam :

So với Quyết định 488, sự ra đời của Quyết định 493 đã đạt được những tiến bộ sau:

Cần xây dựng cơ sở pháp lý vững chắc để các tổ chức tín dụng (TCTD) có thể xác định chính xác thực trạng tài chính của mình, phù hợp với năng lực và khả năng quản lý của các TCTD tại Việt Nam.

- Yêu cầu các TCTD phải có sự nhìn nhận đúng đắn, khách quan hơn về chất lượng tín dụng của mình

Cung cấp cho các nhà quản lý của TCTD một phương pháp phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro được áp dụng rộng rãi trên toàn cầu.

Quyết định 493 tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng (TCTD) chủ động hơn trong việc phân loại nợ, đồng thời quy định cách trích lập và sử dụng dự phòng dựa trên các nguyên tắc cơ bản.

Trong vòng 3 năm tới, các Tổ chức tín dụng (TCTD) sẽ phải xây dựng Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ cho khách hàng, giúp quản lý rủi ro tín dụng và phân loại nợ hiệu quả hơn Hệ thống này sẽ đánh giá chính xác chất lượng và khả năng tổn thất trong hoạt động tín dụng, đồng thời là cơ sở quan trọng cho các chính sách về tín dụng, khách hàng, lãi suất và bảo đảm tiền vay Đây cũng là bước khởi đầu để thực hiện trích lập dự phòng theo IAS 39 và duy trì tỷ lệ an toàn vốn theo Basel II.

Quyết định 493 của NHNN cho phép thu thập thông tin chính xác hơn về nợ xấu và chất lượng tín dụng của các TCTD, từ đó giúp NHNN đánh giá khả năng quản lý và kiểm soát rủi ro của từng TCTD và toàn hệ thống Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý, thanh tra và giám sát mà còn hỗ trợ trong việc đánh giá TCTD theo tiêu chí CAMELS.

Quyết định 493 ngày 22/4/2005 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã thúc đẩy hoạt động ngân hàng tiến gần hơn đến các tiêu chuẩn quốc tế.

Mặc dù Quyết định 493 đã có những đóng góp nhất định, nhưng vẫn tồn tại một số hạn chế, do đó Quyết định 18 đã được ban hành để sửa đổi và bổ sung cho Quyết định 493 Điều này thể hiện sự quan tâm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc cập nhật và điều chỉnh chính sách dựa trên thực tiễn, thông qua công tác thanh tra, kiểm tra, đồng thời học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia khác về phân loại nợ và trích lập dự phòng nhằm xử lý rủi ro tín dụng, từ đó hoàn thiện các văn bản pháp luật liên quan.

Cùng với việc hoàn thiện các văn bản pháp luật theo chuẩn mực quốc tế, tỷ lệ nợ xấu tại Việt Nam ngày càng khả quan Đến năm 2010, mục tiêu đặt ra là tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ tín dụng dưới 5% Các ngân hàng thương mại Việt Nam đã nhận thức rõ tầm quan trọng của việc quản lý chất lượng tín dụng và đang tích cực cải thiện hệ thống xếp hạng nội bộ để thực hiện phân loại nợ theo quy định tại Điều 7 QĐ 493.

2.3.2 Sự khác biệt so với thông lệ quốc tế:

Theo Quyết định 493, các ngân hàng thương mại ở Việt Nam phải xây dựng hệ thống tín dụng nội bộ để phân loại nợ và quản lý chất lượng tín dụng trước tháng 04/2008 Tuy nhiên, tính đến 31/12/2008, chỉ có một số ít ngân hàng như BIDV hoàn tất việc phân loại nợ theo phương pháp định tính, trong khi hầu hết vẫn áp dụng phương pháp định lượng Sự chậm trễ này dẫn đến sự khác biệt trong phân loại nợ của các ngân hàng thương mại Việt Nam so với quốc tế, tạo ra một môi trường cạnh tranh không công bằng cho những ngân hàng đã thực hiện theo cách mới.

Phân loại nợ theo phương pháp định lượng đơn thuần chỉ dựa vào dữ liệu khoản nợ tại thời điểm đánh giá, chủ yếu dựa vào thời gian quá hạn và số lần cơ cấu, dẫn đến việc không phản ánh đúng mức độ rủi ro của từng khoản vay Phương pháp này thiếu sự đánh giá kết hợp với các yếu tố như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh, rủi ro ngành nghề và rủi ro quốc gia Điều này gây ra sự khác biệt trong đánh giá nợ xấu giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam và quốc tế, khi mà mức công bố nợ xấu của ngân hàng Việt Nam chỉ dưới 5%, trong khi Ngân hàng Thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế lại cho rằng nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam không thấp hơn hai con số.

Quyết định 493 cho phép ngân hàng hạch toán nợ ra ngoại bảng sau khi sử dụng dự phòng rủi ro, nhằm cải thiện bảng cân đối tài sản Tuy nhiên, mặc dù nợ được chuyển ra ngoại bảng, nó vẫn tồn tại và cần phải thu hồi Nhiều ngân hàng đã lạm dụng quy định này, coi nợ ngoại bảng như đã giải quyết, dẫn đến việc chỉ công bố nợ xấu nội bảng với tỷ lệ thấp hơn nhiều so với thực tế Hệ quả là nợ xấu bị che giấu một cách đáng kể.

Gia hạn nợ là một phương thức mà các ngân hàng thương mại Việt Nam áp dụng để che giấu nợ xấu Nhiều ngân hàng còn điều chỉnh kỳ hạn trả nợ nhằm cải thiện tình hình tài chính của mình.

Khi một khách hàng có nợ từ 3-4 lần nhưng vẫn nằm trong nhóm 1 hoặc 2, điều này không phải ngẫu nhiên Nợ nhóm 2 chỉ cần trích lập dự phòng rủi ro 5% tổng giá trị khoản nợ Tuy nhiên, nếu khoản nợ tụt xuống nhóm 3, tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro sẽ tăng lên 20%, nhóm 4 là 50%, và nhóm 5 là 100% Sự gia tăng dự phòng rủi ro sẽ làm giảm lợi nhuận của ngân hàng, ảnh hưởng đến thu nhập của cán bộ công nhân viên và các chương trình thi đua, khen thưởng, đồng thời làm giảm vốn lưu động trong ngân hàng.

Việc cho vay theo chỉ định vẫn tồn tại, và nhiều khách hàng trong nhóm này gặp khó khăn trong việc trả nợ, dẫn đến chất lượng tín dụng của các ngân hàng không đạt yêu cầu Chất lượng tín dụng và sự an toàn của hệ thống ngân hàng có mối liên hệ chặt chẽ Đối với một số ngân hàng, nếu trích lập dự phòng đầy đủ theo quy định, ngay cả khi chỉ dựa trên Điều 6, QĐ 493, kết quả kinh doanh có thể giảm mạnh, thậm chí lỗ hàng ngàn tỉ đồng.

Các ngân hàng có xu hướng né tránh việc phân loại nợ theo định tính do lo ngại rằng việc áp dụng Điều 7 QĐ 493 sẽ làm tăng nợ xấu lên 2-3 lần, dẫn đến việc phải trích lập dự phòng nhiều hơn và giảm kết quả kinh doanh Điều này gây khó khăn trong việc xin giấy phép thành lập chi nhánh và công ty con ở nước ngoài, cũng như triển khai dự án, vì nợ xấu thấp thường được xem là dấu hiệu ổn định trong mắt các nhà quản lý Ngân hàng Nhà nước đã sử dụng tỷ lệ nợ xấu như một chỉ số để đánh giá chất lượng hoạt động tín dụng của các ngân hàng, và nếu áp dụng theo Điều 7, các ngân hàng sẽ phải đáp ứng đủ 54 chỉ tiêu.

Ngày đăng: 11/09/2021, 20:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Giàu (2008), “Tổng kết hoạt động ngân hàng Việt Nam năm 2008”, Cổng TTĐT Chính phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết hoạt động ngân hàng Việt Nam năm 2008
Tác giả: Nguyễn Văn Giàu
Năm: 2008
2. Vnexpress (2008), “ 2008- năm bi tráng của kinh tế thế giới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2008- năm bi tráng của kinh tế thế giới
Tác giả: Vnexpress
Năm: 2008
3. Nguyễn Hoài (2008), “Vì sao các ngân hàng né tránh Phân loại nợ?”, theo VN Economy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vì sao các ngân hàng né tránh Phân loại nợ
Tác giả: Nguyễn Hoài
Năm: 2008
4. TH-VP (2007),“Vấn đề áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam”, Ngân hàng nhà nước Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam
Tác giả: TH-VP
Năm: 2007
5. Trần Thị Băng Tâm (2007), “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng theo chuẩn mực và thông lệ ngân hàng quốc tế”, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học kinh tế TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng theo chuẩn mực và thông lệ ngân hàng quốc tế
Tác giả: Trần Thị Băng Tâm
Năm: 2007
6. Nguyễn Thị Thu Ba (2006), Hội thảo “ Các chuẩn mực kế toán quốc tế và sự minh bạch tài chính”, Các chuyên đề đào tạo bồi dưỡng ở nước ngoài, Ngân hàng nhà nước Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chuẩn mực kế toán quốc tế và sự minh bạch tài chính”, "Các chuyên đề đào tạo bồi dưỡng ở nước ngoài
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Ba
Năm: 2006
7. Khúc Quang Huy (2006), “ Basel II – Sự thống nhất quốc tế về đo lường và các tiêu chuẩn vốn”, Bản dịch, Nhà xuất bản văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Basel II – Sự thống nhất quốc tế về đo lường và các tiêu chuẩn vốn
Tác giả: Khúc Quang Huy
Nhà XB: Nhà xuất bản văn hóa thông tin
Năm: 2006
9. PGS.TS. Trần Huy Hoàng (2007), Quản trị ngân hàng thương mại, Nxb Lao động xã hội, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị ngân hàng thương mại
Tác giả: PGS.TS. Trần Huy Hoàng
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2007
11. “ Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng”- Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của thống đốc NHNN ban hành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng
1. Basel Committee on Banking Supervision, (1999), Sound practices for Loan Accounting and Disclosure, pp. 42-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sound practices for Loan Accounting and Disclosure
Tác giả: Basel Committee on Banking Supervision
Năm: 1999
2. Alain Laurin Giovanni Majnoni (2003), Bank Loan Classification and Provisioning Practices in Selected Developed and Emerging Countries, The World Bank, Washington, D.C Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bank Loan Classification and Provisioning Practices in Selected Developed and Emerging Countries
Tác giả: Alain Laurin Giovanni Majnoni
Năm: 2003
3. David Marshall (2005), IAS 39 – Taking back control of the agenda, Global Energy Advisory Sách, tạp chí
Tiêu đề: IAS 39 – Taking back control of the agenda
Tác giả: David Marshall
Năm: 2005
4. Andrew (2006), AASB 139 (IAS 39) in Australia – The main challenges for Banks Sách, tạp chí
Tiêu đề: Andrew (2006)
Tác giả: Andrew
Năm: 2006
5. IAS 39 Financial Instruments: Recognition and Measurement, lấy từ Internet, http://www.iasplus.com/standard/ias39.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: IAS 39 Financial Instruments: Recognition and Measurement
6. Stephanie Scheneider (2008), The fair value option of IAS in the context of fair value accounting – The practical application in Financial Institutions, University of Gavle Business Administration, Master’s D-level thesis.TIẾNG PHÁP Sách, tạp chí
Tiêu đề: The fair value option of IAS in the context of fair value accounting – The practical application in Financial Institutions
Tác giả: Stephanie Scheneider
Năm: 2008
1. Bui Huy Tho (2001), “Resolution de la situatation des creances douteuses accumulees dans le systeme bancaire Vietnamien”, Option des Banques, Marseille, Paris.TIẾNG HOA:1. 巴塞爾 (1997), 資產品質 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Resolution de la situatation des creances douteuses accumulees dans le systeme bancaire Vietnamien
Tác giả: Bui Huy Tho (2001), “Resolution de la situatation des creances douteuses accumulees dans le systeme bancaire Vietnamien”, Option des Banques, Marseille, Paris.TIẾNG HOA:1. 巴塞爾
Năm: 1997
8. TS Trần Huy Hoàng, Ths Trầm Xuân Hương, Ths Nguyễn Quốc Anh, CN Khác
10. Nghị định số 22/2006/NĐ-CP ngày 28/02/2006 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân Khác
13. Chỉ thị 02/2006/CT-NHNN ngày 23/05/2006 của NHNN “ Về việc tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các TCTDTIẾNG ANH Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Tổng quan về IAS 39, nguồn “Tổng quan về các tiêu chuẩn cơng cụ tài chính” (Overview of the Financial Instrument Standards, KPMG, (2006), p.5)  - Tài liệu  Tiếp Cận Chuẩn Mực IAS 39 Trong Phân Loại Nợ, Trích Lập
Hình 1.1 Tổng quan về IAS 39, nguồn “Tổng quan về các tiêu chuẩn cơng cụ tài chính” (Overview of the Financial Instrument Standards, KPMG, (2006), p.5) (Trang 25)
1.3.2 Áp dụng chuẩn mực IAS39 trong khu vực ngân hàng- Một sốn ội dung cơ bản:  - Tài liệu  Tiếp Cận Chuẩn Mực IAS 39 Trong Phân Loại Nợ, Trích Lập
1.3.2 Áp dụng chuẩn mực IAS39 trong khu vực ngân hàng- Một sốn ội dung cơ bản: (Trang 25)
Tiền mặt trên bảng cân đối Quyền trên những khoản  thanh tốn bằng tiền mặt  hoặc các tài sả n cĩ tài chính  - Tài liệu  Tiếp Cận Chuẩn Mực IAS 39 Trong Phân Loại Nợ, Trích Lập
i ền mặt trên bảng cân đối Quyền trên những khoản thanh tốn bằng tiền mặt hoặc các tài sả n cĩ tài chính (Trang 26)
Biểu đồ 2.2: Tình hình dư nợ tín dụng ngân hàng 2008 (Đơn vị: tỷ đồng) - Tài liệu  Tiếp Cận Chuẩn Mực IAS 39 Trong Phân Loại Nợ, Trích Lập
i ểu đồ 2.2: Tình hình dư nợ tín dụng ngân hàng 2008 (Đơn vị: tỷ đồng) (Trang 51)
Biểu đồ 2.3: Tình hình các nhĩm nợ trong tồn hệ thống ngân hàng Việt Nam - Tài liệu  Tiếp Cận Chuẩn Mực IAS 39 Trong Phân Loại Nợ, Trích Lập
i ểu đồ 2.3: Tình hình các nhĩm nợ trong tồn hệ thống ngân hàng Việt Nam (Trang 52)
Bảng 2.1: Mức trích lập dự phịng cụ thể dự tính trong tồn hệ thống ngân hàng Việt Nam đến tháng 12.2008  - Tài liệu  Tiếp Cận Chuẩn Mực IAS 39 Trong Phân Loại Nợ, Trích Lập
Bảng 2.1 Mức trích lập dự phịng cụ thể dự tính trong tồn hệ thống ngân hàng Việt Nam đến tháng 12.2008 (Trang 52)
Bảng 2.2: Một số số liệu tổng quát về dư nợ tín dụng và nợ xấu các khối ngân hàng tính đến 31.12.2008  - Tài liệu  Tiếp Cận Chuẩn Mực IAS 39 Trong Phân Loại Nợ, Trích Lập
Bảng 2.2 Một số số liệu tổng quát về dư nợ tín dụng và nợ xấu các khối ngân hàng tính đến 31.12.2008 (Trang 53)
Biểu đồ 2.5: Tình hình dư nợ Nhĩm 3 (31/12/2008) - Tài liệu  Tiếp Cận Chuẩn Mực IAS 39 Trong Phân Loại Nợ, Trích Lập
i ểu đồ 2.5: Tình hình dư nợ Nhĩm 3 (31/12/2008) (Trang 59)
Biểu đồ 2.6: Tình hình dư nợ Nhĩm 4 (31/12/2008) - Tài liệu  Tiếp Cận Chuẩn Mực IAS 39 Trong Phân Loại Nợ, Trích Lập
i ểu đồ 2.6: Tình hình dư nợ Nhĩm 4 (31/12/2008) (Trang 60)
Biểu đồ 2.7: Tình hình dư nợ Nhĩm 5 (31/12/2008) - Tài liệu  Tiếp Cận Chuẩn Mực IAS 39 Trong Phân Loại Nợ, Trích Lập
i ểu đồ 2.7: Tình hình dư nợ Nhĩm 5 (31/12/2008) (Trang 62)
Bảng 2.3: Các tỉnh và thành phố được phân theo khu vực theo CIC: STT Các vùng Các tỉnh, thành phố - Tài liệu  Tiếp Cận Chuẩn Mực IAS 39 Trong Phân Loại Nợ, Trích Lập
Bảng 2.3 Các tỉnh và thành phố được phân theo khu vực theo CIC: STT Các vùng Các tỉnh, thành phố (Trang 63)
Bảng 2.4: Tình hình các nhĩm nợ từng vùng - Tài liệu  Tiếp Cận Chuẩn Mực IAS 39 Trong Phân Loại Nợ, Trích Lập
Bảng 2.4 Tình hình các nhĩm nợ từng vùng (Trang 64)
Bảng 2.5: Kinh nghiệm về Phân loại nợ và trích lập dự phịng xử lý rủi ro đối với các khoản vay trong nước của các nước trên thế giới  - Tài liệu  Tiếp Cận Chuẩn Mực IAS 39 Trong Phân Loại Nợ, Trích Lập
Bảng 2.5 Kinh nghiệm về Phân loại nợ và trích lập dự phịng xử lý rủi ro đối với các khoản vay trong nước của các nước trên thế giới (Trang 75)
o. Các ngân hàng phải xếp loại các khoản vay theo tình hình tài chính, tín nhiệm tín dụng và/hoặc khả  năng trả  nợ  của khách hàng - Tài liệu  Tiếp Cận Chuẩn Mực IAS 39 Trong Phân Loại Nợ, Trích Lập
o. Các ngân hàng phải xếp loại các khoản vay theo tình hình tài chính, tín nhiệm tín dụng và/hoặc khả năng trả nợ của khách hàng (Trang 79)
Hình 2.1: Quy trình phân loại khoản vay của FAS: - Tài liệu  Tiếp Cận Chuẩn Mực IAS 39 Trong Phân Loại Nợ, Trích Lập
Hình 2.1 Quy trình phân loại khoản vay của FAS: (Trang 82)
Các cam kết ngoại bảng phân loạ i: Nhĩm 1:  - Tài liệu  Tiếp Cận Chuẩn Mực IAS 39 Trong Phân Loại Nợ, Trích Lập
c cam kết ngoại bảng phân loạ i: Nhĩm 1: (Trang 138)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN