Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số giải pháp phát triển đội ngũ GVDN tỉnh Long An.
Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Công tác phát triển đội ngũ GVDN
3.2 Đối tƣợng nghiên cứu: Giải pháp phát triển đội ngũ GVDN tỉnh Long
Giả thuyết khoa học
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới trong giáo dục và đào tạo nghề, tỉnh Long An cần cải thiện chất lượng giáo dục nghề nghiệp (GVDN) hiện tại Việc phát triển GVDN nhằm đào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh vẫn còn nhiều hạn chế Cần nghiên cứu và áp dụng đồng bộ các giải pháp phù hợp như quy hoạch, đổi mới tuyển chọn và sử dụng, cũng như nâng cao đào tạo và bồi dưỡng, cùng với việc cải thiện chế độ và chính sách để thúc đẩy sự phát triển GVDN tỉnh Long An.
An sẽ đạt hiệu quả, đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực cho tỉnh Long An trong thời kỳ CNH - HĐH và hội nhập quốc tế.
Nhiệm vụ nghiên cứu .4-5 6 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục đích nghiên cứu đã đề ra, luận văn tập trung thực hiện 3 nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên nói chung và GVDN nói riêng;
- Nghiên cứu, khảo sát và đánh giá thực trạng công tác phát triển đội ngũ GVDN trên địa bàn tỉnh Long An;
Đề xuất các giải pháp khả thi và hiệu quả nhằm phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề tại tỉnh Long An, đồng thời khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của những giải pháp này trong luận văn.
Các phương pháp nghiên cứu lý luận bao gồm phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật cùng với các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
6.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1 Quan sát: Quan sát hoạt động phát triển đội ngũ GVDN tỉnh Long An nhằm đánh giá thực trạng hiện nay
6.2.2 Điều tra - Khảo sát: Sử dụng bộ công cụ để điều tra, khảo sát thực trạng đội ngũ GVDN tỉnh Long An
6.2.3 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Tham khảo ý kiến chuyên gia về giải pháp phát triển đội ngũ GVDN tỉnh Long An
6.3 Phương pháp thống kê toán học để xử lý các số liệu thu được
Đóng góp của luận văn
7.1 Về mặt lý luận: Góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận của vấn đề phát triển GVDN tỉnh Long An
Đánh giá thực trạng giáo dục nghề nghiệp (GVDN) tại tỉnh Long An là cần thiết để đề xuất các giải pháp phát triển phù hợp Những giải pháp này nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Long An, cũng như của vùng Đồng bằng sông Cửu Long và khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam.
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục nghiên cứu, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề phát triển đội ngũ GVDN tỉnh Long
Chương 2: Thực trạng công tác phát triển đội ngũ GVDN tỉnh Long An Chương 3: Một số giải pháp phát triển đội ngũ GVDN tỉnh Long An
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN DẠY NGHỀ 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Khái quát về việc nghiên cứu vấn đề phát triển đội ngũ GVDN tỉnh Long
Đội ngũ giáo viên, đặc biệt là giáo viên dạy nghề, đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo của mỗi quốc gia Nghiên cứu từ các nhà khoa học trong và ngoài nước đã chỉ ra rằng phát triển đội ngũ này là một yếu tố then chốt cho sự tiến bộ trong giáo dục nghề nghiệp.
Các nước phát triển coi nhà giáo là yếu tố quyết định cho sự nghiệp giáo dục Chính phủ Hoa Kỳ đã đặt giáo dục lên hàng đầu trong thế kỷ XXI với giải pháp nhà giáo là then chốt, bao gồm tiêu chuẩn hóa, chuyên nghiệp hóa và nâng cao chất lượng giáo viên Điều này cho thấy việc đãi ngộ vật chất, cải thiện điều kiện làm việc và nâng cao địa vị xã hội cho nhà giáo là giải pháp cơ bản để phát triển đội ngũ giáo viên.
Để phát triển đội ngũ giáo viên, nhiều phương pháp đã được đề xuất Các nhà khoa học giáo dục nổi tiếng như R.R Singh và V.A Xukhomlinxki nhấn mạnh rằng việc dự giờ và phân tích sư phạm tiết dạy là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên Họ cho rằng đây là công cụ quan trọng nhất trong quản lý chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên.
Chuyên ngành khoa học quản lý ở Việt Nam, mặc dù còn non trẻ, đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể nhờ tiếp thu tư tưởng quản lý toàn cầu và các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin Trong lĩnh vực quản lý giáo dục, các nhà khoa học Việt Nam đã áp dụng lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh để nghiên cứu quản lý trường học, với nhiều tài liệu giáo dục có chương riêng về quản lý Những công trình tiêu biểu như “Khoa học quản lý giáo dục: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Trần Kiểm và “Phương pháp luận khoa học giáo dục” của Phạm Minh Hạc đã góp phần nâng cao chất lượng quản lý giáo dục và giáo viên tại Việt Nam Tại các Viện nghiên cứu và trường Đại học, nhiều đề tài luận văn đã được thực hiện, nhấn mạnh vai trò của quản lý chuyên môn trong việc đạt được mục tiêu giáo dục, phản ánh tính chất phong phú của hoạt động chuyên môn của giáo viên.
Ngoài việc giảng dạy và làm chủ nhiệm lớp, giáo viên còn tham gia vào các hoạt động chuyên môn như tự bồi dưỡng, giáo dục học sinh ngoài giờ học, sinh hoạt chuyên môn và nghiên cứu khoa học giáo dục Quản lý chuyên môn của giáo viên thực chất là quản lý quá trình lao động sư phạm của họ.
Nhiều nghiên cứu khoa học đã xem xét các khía cạnh khác nhau của việc phát triển đội ngũ giáo viên ở các cấp học, nhưng chưa có đề tài nào tập trung vào việc phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề (GVDN) tại tỉnh Long An Điều này cho thấy sự cần thiết phải nghiên cứu và đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ GVDN trong khu vực này.
1.2 Những khái niệm cơ bản
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang định nghĩa quản lý giáo dục là một hệ thống các tác động có mục đích, kế hoạch và quy luật nhằm đảm bảo hệ giáo dục hoạt động theo đường lối của Đảng, tập trung vào quá trình dạy – học và giáo dục thế hệ trẻ Quản lý giáo dục được hiểu là sự tác động có hệ thống và có ý thức từ các chủ thể quản lý đến mọi mắt xích trong hệ thống, nhằm hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ dựa trên việc nhận thức và áp dụng các quy luật xã hội cũng như quy luật của giáo dục và sự phát triển thể lực, tâm lý trẻ em.
1.2.2 Giáo viên, đội ngũ, đội ngũ giáo viên
Theo từ điển tiếng Việt, giáo viên được định nghĩa là người dạy học tại các trường học và cơ sở giáo dục Điều 70 của Luật Giáo dục Nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005 quy định rằng nhà giáo là người thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục trong các cơ sở giáo dục.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục Việt Nam (Luật số 44/2009/QH12) đã quy định rõ ràng về tên gọi của các đối tượng nhà giáo theo từng cấp bậc giảng dạy Cụ thể, nhà giáo tại cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục nghề nghiệp trình độ sơ cấp và trung cấp chuyên nghiệp được gọi là giáo viên, trong khi nhà giáo tại cơ sở giáo dục đại học và trường cao đẳng nghề được gọi là giảng viên.
Đội ngũ được định nghĩa trong Từ điển Bách khoa Việt Nam là một nhóm người có chung chức năng hoặc nghề nghiệp, được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng nhất định.
Đội ngũ được định nghĩa là một nhóm người có chức năng, nhiệm vụ hoặc nghề nghiệp tương đồng, tạo thành lực lượng hoạt động trong một hệ thống.
Đội ngũ giáo viên là những chuyên gia giáo dục có kiến thức vững vàng và hiểu biết sâu sắc về phương pháp giảng dạy Họ không chỉ sở hữu khả năng truyền đạt tri thức mà còn cam kết cống hiến toàn bộ tài năng và sức lực cho sự nghiệp giáo dục.
Đội ngũ giáo viên trong ngành giáo dục bao gồm cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên, nhưng chủ yếu tập trung vào giáo viên và đội ngũ quản lý giáo dục.
Đội ngũ giáo viên được hiểu là một tập hợp những người làm nghề dạy học, được tổ chức thành một lực lượng thống nhất với nhiệm vụ chung Họ phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn của một nhà giáo, thực hiện các nhiệm vụ giáo dục và được hưởng quyền lợi theo quy định của Luật giáo dục và các luật liên quan khác của Nhà nước.
1.2.3 Giáo viên dạy nghề và đội ngũ GVDN
Theo điều 58 – Luật Dạy nghề:
GVDN là người dạy lý thuyết, dạy thực hành hoặc vừa dạy lý thuyết vừa dạy thực hành trong các CSDN