KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SƯ PHẠM ỨNG DỤNG Tên đề tài: Nâng cao hứng thú và hiệu quả học tập Tiếng Việt lớp 8/2 qua việc tăng cường sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học của Trường THCS[r]
Hiện trạng nguyên nhân
Chất lượng học tập của học sinh tại Thị Trấn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố Mặc dù các em có điều kiện học tập tốt hơn so với học sinh nông thôn, nhưng sự thiếu quan tâm từ phụ huynh do bận rộn với công việc buôn bán đã dẫn đến việc các em không được hỗ trợ đúng mức Hơn nữa, sự phát triển của công nghệ thông tin đã thu hút các em vào các hoạt động giải trí như xem tivi, chơi game và lướt mạng xã hội, khiến các em mất hứng thú với việc học Điều này dẫn đến việc chất lượng học Ngữ Văn và Tiếng Việt giảm sút, do các em chưa có thói quen học tập đúng đắn và không chú ý trong giờ học Nguyên nhân chính là do các em chưa xác định được động cơ học tập, trong khi phụ huynh chưa thực sự chú trọng đến việc học của con cái.
Trong quá trình giảng dạy Tiếng Việt lớp 8, tôi nhận thấy nhiều học sinh thường lơ là trong việc nghe giảng và ghi chép, dẫn đến việc họ không hiểu bài học khi về nhà Điều này gây ra tình trạng học thụ động và tốn nhiều thời gian mà không hiệu quả Để cải thiện tình hình, tôi đã áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, như hướng dẫn học sinh tự tìm tòi và hệ thống hóa kiến thức thông qua bản đồ tư duy, kết hợp với các hoạt động như thuyết trình, thảo luận nhóm và kiểm tra bài tập về nhà Nhờ đó, tôi nhận thấy sự thay đổi tích cực trong thái độ học tập của các em.
Tăng cường sử dụng BĐTD trong giảng dạy giúp phát triển khả năng học tập chủ động và năng động của học sinh, từ đó nâng cao hiệu quả học tập và làm bài Phương pháp này có thể giải quyết tận gốc vấn đề, góp phần cải thiện chất lượng dạy và học Ngữ Văn tại trường THCS.
Giải pháp thay thế
Trong quá trình giảng dạy, tôi đã tiếp cận nhiều phương pháp dạy học tích cực và nhận thấy việc sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn Tiếng Việt là hợp lý và dễ áp dụng Tất cả các trường THCS đều có đủ cơ sở vật chất để thực hiện phương pháp này Do đó, tôi quyết định tăng cường sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học Tiếng Việt lớp 8, nhằm giúp học sinh có cái nhìn tổng thể về kiến thức và khả năng vận dụng linh hoạt kiến thức đã học.
Lịch sử của vấn đề nghiên cứu
Một số nghiên cứu gần đây liên quan đến đề tài :Chuyên đề nghiên cứu của tổ Ngữ
Văn trường THCS Thị Trấn : Chuyên đề: “Ứng dụng bản đồ tư duy trong dạy học NgữVăn” của cô Trần Thị Hảo.
Vấn đề nghiên cứu
Việc áp dụng bản đồ tư duy trong giảng dạy Tiếng Việt cho học sinh lớp 8/2 và 8/4 có thể làm tăng hứng thú và hiệu quả học tập của các em Nghiên cứu cho thấy, phương pháp này giúp học sinh dễ dàng tiếp cận kiến thức, phát triển tư duy sáng tạo và ghi nhớ thông tin tốt hơn Sử dụng bản đồ tư duy không chỉ kích thích sự tham gia của học sinh mà còn tạo ra môi trường học tập tích cực, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
- Khi áp dụng bản đồ tư duy trong giảng dạy có nâng cao kĩ năng tổng hợp kiến thức bài học hay không?
Giả thuyết nghiên cứu
- Sử dụng BĐTD sẽ nâng cao hứng thú và hiệu quả trong học tập.
- Khi sử dụng BĐTD sẽ rèn cho học sinh kĩ năng tổng hợp, ghi nhớ và biết hệ thống hóa kiến thức bài học , chương học, phần học…
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Khách thể nghiên cứu
Tôi thực hiện nghiên cứu tại trường THCS Thị Trấn, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, nơi tôi công tác, với nhiều điều kiện thuận lợi để tiến hành đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng (KHSPUD).
Là giáo viên với nhiều năm kinh nghiệm, tôi luôn nhiệt tình và có trách nhiệm cao trong công tác giảng dạy Trong năm học 2013-2014, tôi được phân công giảng dạy môn Ngữ Văn cho hai lớp 8/2 và 8/4.
Hai lớp học được chọn tham gia nghiên cứu có nhiều điểm tương đồng về thành phần, tỷ lệ và năng lực nhận thức, như được thể hiện trong bảng dưới đây.
LỚP TỔNG SỐ NAM NỮ
Thiết kế nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, hai lớp học được chọn là lớp 8/2 (lớp thực nghiệm) và lớp 8/4 (lớp đối chứng) Trước khi tiến hành tác động, tôi đã tổ chức kiểm tra phần Tiếng Việt cho cả hai nhóm Kết quả cho thấy điểm trung bình của hai lớp không có sự khác biệt rõ rệt Do đó, tôi đã áp dụng phép kiểm chứng T-Test để xác định sự chênh lệch giữa điểm trung bình của hai nhóm trước khi tác động.
- Bản kiểm chứng xác định các nhóm tương đương Đối chứng Thực nghiệm
Kết quả kiểm định cho thấy P = 0.466, lớn hơn 0.05, cho thấy sự chênh lệch điểm số trung bình giữa hai nhóm thực nghiệm và đối chứng là không có ý nghĩa Do đó, hai nhóm được coi là tương đương.
Bảng thiết kế nghiên cứu
Nhóm KT trước tác động Tác động KT sau tác động
Thực nghiệm 01 Tăng cường sử dụng BĐTD 03 Đối chứng 02 Có sử dụng BĐTD nhưng không thường xuyên 04 Ở thiết kế này tôi sử dụng phép kiểm chứng T-Test độc lập.
Quy trình nghiên cứu
* Chuẩn bị của giáo viên:
- Lớp 8/4: lớp đối chứng giáo viên thiết kế bài dạy không thường xuyên sử dụng BĐTD
- Lớp 8/2: lớp thực nghiệm giáo viên thiết kế các bài dạy thường xuyên sử dụng BĐTD.
Thời gian thực hiện dạy thực nghiệm được tổ chức theo phân phối chương trình của Phòng GD-ĐT Trảng Bàng, đồng thời phù hợp với thời khóa biểu của trường THCS Thị Trấn, nhằm đảm bảo tính khách quan trong quá trình giảng dạy.
Tiết PPCT Tên bài dạy Thứ Sáu
12/11/2013 1 50 Dấu ngoặc đơn và dấu hai chấm
PHÂN TÍCH DỮ LIỆU, KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Mô tả dữ liệu ,Phân tích dữ liệu
CÔNG THỨC GIÁ TRỊ NHÓM THỰC
CÔNG THỨC GIÁ TRỊ NHÓM ĐỐI CHỨNG
Bảng so sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động
Nhóm đối chứng Nhóm thực nghiệm Điểm trung bình 6.51 7.61 Độ lệch chuẩn 1.19 1.31
Chênh lệch giá trị TB chuẩn (SMD) 0.839
BIỂU ĐỒ SO SÁNH KẾT QUẢ TRƯỚC VÀ SAU TÁC ĐỘNG CỦA HAI LỚP ĐỐI CHỨNG VÀ THỰC NGHIỆM.
Bàn luận
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD = 0.839
Theo bảng tiêu chí Cohen, chênh lệch giá trị trung bình SMD= 0.839 cho thấy dạy học tăng cường sử dụng BĐTD trong môn Tiếng Việt có ảnh hưởng lớn đến việc nâng cao kết quả học tập của học sinh.
Giả thuyết nghiên cứu về việc tăng cường sử dụng BĐTD trong dạy học Tiếng Việt lớp 8 đã được kiểm chứng, cho thấy rằng việc áp dụng phương pháp này không chỉ nâng cao hứng thú học tập mà còn cải thiện hiệu quả học tập của học sinh Kết quả cho thấy BĐTD có tác động tích cực đến việc tiếp thu kiến thức và phát triển kỹ năng ngôn ngữ của học sinh.
Kết quả bài kiểm tra cho thấy lớp thực nghiệm có điểm trung bình 7.61, trong khi lớp đối chứng chỉ đạt 6.51, với độ lệch điểm số giữa hai lớp là 1.31 Điều này chứng tỏ sự khác biệt rõ rệt trong kết quả học tập, với lớp được áp dụng phương pháp sử dụng bản đồ tư duy đạt điểm trung bình cao hơn.
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn của bài kiểm tra sau tác động là SMD = 0.839, cho thấy mức độ ảnh hưởng của tác động là lớn và không phải do ngẫu nhiên Kết quả kiểm chứng T-Test với giá trị P = 0.00013 khẳng định rằng sự chênh lệch điểm trung bình giữa hai lớp không phải ngẫu nhiên, mà là do tác động nghiêng về nhóm thực nghiệm.