1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường mầm non

52 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Quyết Định Chọn Trường Mầm Non
Tác giả Trần Nguyễn Quỳnh Chi
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thuý Quỳnh Loan
Trường học Đại học Bách Khoa
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Khóa luận thạc sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 0,9 MB

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN (11)
    • 1.1 SƠ NÉT THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TRƯỜNG MẦM NON TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (11)
    • 1.2 LÝ DO HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI (12)
    • 1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU (13)
    • 1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU (13)
    • 1.5 Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI (14)
    • 1.6 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI (14)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT (16)
    • 2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT (16)
      • 2.1.1 Hành vi người tiêu dùng (16)
      • 2.1.2 Mô hình về quá trình ra quyết định mua hàng (17)
      • 2.1.3 Chất lượng dịch vụ (19)
      • 2.1.4 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (20)
    • 2.2 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH LỰA CHỌN TRƯỜNG HỌC (21)
    • 2.3 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU (24)
  • CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU (25)
    • 3.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (25)
    • 3.2 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU (25)
    • 3.3 NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH SƠ BỘ (26)
      • 3.3.1 Mục tiêu (26)
      • 3.3.2 Đối tượng (26)
      • 3.3.3 Phương pháp (27)
    • 3.4 NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG (27)
      • 3.4.1 Chọn mẫu – phương pháp lấy mẫu (27)
      • 3.4.2 Xây dựng thang đo (27)
        • 3.4.2.1 Xây dựng thang đo về yếu tố đặc điểm cơ bản về cơ sở vật chất (VCi) (0)
        • 3.4.2.2 Xây dựng thang đo về yếu tố học phí (HPi) (29)
        • 3.4.2.3 Xây dựng thang đo về yếu tố chất lượng giáo viên (GVi) (30)
        • 3.4.2.4 Xây dựng thang đo về yếu tố chương trình học (CTi) (31)
        • 3.4.2.5 Xây dựng thang đo về yếu tố địa điểm trường học (DDi) (31)
        • 3.4.2.6 Xây dựng thang đo về yếu tố dịch vụ hỗ trợ cho sự tương tác giữa nhà trường và phụ huynh (DVi) (32)
        • 3.4.2.7 Xây dựng thang đo về quyết định chọn trường (QDi) (32)
    • 3.5 KỸ THUẬT XỬ LÝ DỮ LIỆU (32)
      • 3.5.1 Kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng công cụ Cronbach’s Alpha (32)
      • 3.5.2 Phân tích yếu tố khám phá EFA (33)
  • CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH (34)
    • 4.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA MẪU KHẢO SÁT (34)
    • 4.2 KIỂM ĐỊNH THANG ĐO VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU (35)
      • 4.2.1 Kiểm định Cronbach’s Alpha (35)
      • 4.2.2 Phân tích yếu tố khám phá EFA (37)
      • 4.2.3 Phân tích hồi quy (41)
    • 4.3 KẾT QUẢ CÁC GIẢ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU (42)
      • 4.3.1 Kết quả kiểm định về giả thuyết H1 (42)
      • 4.3.2 Kết quả kiểm định về giả thuyết H2 (42)
      • 4.3.3 Kết quả kiểm định về giả thuyết H3 (42)
      • 4.3.4 Kết quả kiểm định về giả thuyết H4 (43)
      • 4.3.5 Kết quả kiểm định về giả thuyết H5 (43)
      • 4.3.6 Kết quả kiểm định về mô hình nghiên cứu (43)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN (45)
    • 5.1 KẾT LUẬN (45)
      • 5.1.1 Kết quả nghiên cứu (45)
      • 5.1.2 Hàm ý quản lý (46)
    • 5.2 HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU (48)

Nội dung

TỔNG QUAN

SƠ NÉT THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TRƯỜNG MẦM NON TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh có 246 trường mầm non và mẫu giáo tư thục cùng 735 nhóm trẻ gia đình Mặc dù số lượng giáo viên mầm non không thiếu, nhưng chất lượng chuyên môn của họ đang là vấn đề đáng lo ngại Theo thông tin từ Sở Giáo dục Đào tạo, nhiều trường tư thục đã tuyển giáo viên từ các tỉnh chưa có hộ khẩu thành phố, và một số giáo viên công lập đã nghỉ việc hoặc nghỉ hưu Thêm vào đó, một số cô ở nhóm trẻ gia đình chỉ được đào tạo cấp tốc từ 3 đến 6 tháng.

Nếu như ở các trường mầm non công lập, trung bình sĩ số mỗi lớp thường khoảng 40 - 45 cháu với 2 cô phụ trách (khối mẫu giáo) hoặc 35 - 40 cháu/lớp và

Tại các trường mầm non tư thục chất lượng cao, sĩ số lớp học thường chỉ từ 10 đến 25 trẻ, giúp phụ huynh yên tâm hơn khi gửi gắm con em mình.

Trong khi các trường công lập chỉ nhận trẻ từ 24 tháng, một số trường đặc biệt nhận trẻ từ 18 tháng, thì các trường tư thục lại chấp nhận trẻ từ 5 đến 8 tháng tuổi Điều này đã thu hút nhiều phụ huynh tìm đến các trường mầm non tư thục chất lượng cao.

Các trường tư thục đã nhanh chóng thích ứng với nhu cầu của các gia đình có thu nhập cao bằng cách cung cấp chương trình học đa dạng và phong phú các hoạt động ngoại khóa Đồng thời, để phục vụ nhu cầu của các gia đình có thu nhập thấp, nhiều nhóm trẻ gia đình đã xuất hiện, chủ yếu tập trung vào việc trông trẻ hơn là dạy dỗ.

Tại các trường mầm non ngoài công lập, phụ huynh thường phải chi trả mức học phí hàng tháng cao gấp nhiều lần so với trường công lập, trong khi mức trung bình cho học phí, tiền ăn và bán trú tại trường công lập chỉ khoảng 200.000đ.

Tại thành phố Hồ Chí Minh, có một nghịch lý trong giáo dục mầm non khi trẻ em từ gia đình khá giả thường được học tại các trường công lập với chất lượng giáo dục tốt và mức học phí thấp (300.000đ/tháng), nhờ vào sự đầu tư của Nhà nước Ngược lại, trẻ em nghèo lại phải theo học tại các trường tư thục với mức học phí cao (1 triệu - 1,2 triệu đồng trở lên) và chất lượng giáo dục không đảm bảo, mà không nhận được bất kỳ hỗ trợ nào từ chính quyền.

Nhiều nhà trẻ tư thục hiện nay có mức học phí cao nhưng lại không đáp ứng đủ tiêu chuẩn giáo dục, với phòng học chật chội và thiếu không gian vui chơi cho trẻ em.

LÝ DO HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI

Trường mầm non đóng vai trò như chiếc nôi thứ hai của trẻ, giúp bé hòa nhập với tập thể và làm quen với những quy tắc mới khác biệt so với sự chăm sóc của gia đình Tại đây, trẻ không chỉ được học tập và vui chơi mà còn rèn luyện các kỹ năng cần thiết để phát triển nhân cách và trí tuệ.

Trước đây, nhiều phụ huynh cho rằng trường mầm non chỉ đơn thuần là nơi giữ trẻ khi họ đi làm, dẫn đến việc không đánh giá đúng vai trò quan trọng của giáo dục mầm non Họ thường không quan tâm đến chất lượng của các trường mầm non, đặc biệt khi người mẹ không đi làm và có thể chăm sóc con cái cho đến khi chúng vào lớp Một mà không cần trải qua giai đoạn nhà trẻ.

Trong xã hội hiện đại ngày nay, với sự nâng cao về đời sống vật chất và tri thức, vai trò của phụ nữ ngày càng được khẳng định Đặc biệt, nhiều bà mẹ trẻ có công việc ổn định và không muốn mất việc sau khi sinh Do đó, việc lựa chọn trường học cho con khi mẹ trở lại công việc hoặc khi trẻ đủ tuổi đi học trở thành mối quan tâm hàng đầu của các gia đình trẻ.

Với sự bùng nổ của internet và mạng xã hội, nhiều phụ huynh gặp khó khăn trong việc chọn trường học cho trẻ, từ việc so sánh trường công lập và tư thục đến danh sách các trường tốt nhất Họ cần chú ý đến các yếu tố như cơ sở vật chất, chất lượng giáo viên và chương trình học tiếng Anh chuẩn quốc tế từ mầm non Tuy nhiên, vẫn còn thiếu thông tin về những tiêu chí quan trọng mà phụ huynh nên xem xét khi lựa chọn trường Điều này dẫn đến sự thiếu hiểu biết từ cả hai phía: phụ huynh không rõ tiêu chí đánh giá trường tốt, trong khi các trường chỉ tập trung vào việc cải thiện hình thức bên ngoài để thu hút học sinh.

Vì lý do này, nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế của các bậc phụ huynh trong việc lựa chọn trường mầm non chất lượng cho con cái, đồng thời giúp các cơ sở giáo dục hiểu rõ hơn về mong muốn của phụ huynh, tác giả đã quyết định nghiên cứu đề tài này.

“Một số yếu tố tác động đến quyết định chọn trường mầm non ” để nghiên cứu trong phạm vi khoá luận tốt nghiệp.

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu này muốn tập trung vào việc xác định 3 vấn đề:

1- Xác định các yếu tố tác động đến quyết định chọn trường mầm non cho con của phụ huynh ở thành phố Hồ Chí Minh

2- Đánh giá mức độ tác động của các yếu tố đến quyết định chọn trường mầm non của phụ huynh ở thành phố Hồ Chí Minh

3- Đề xuất một số hàm ý quản lý cho các trường mầm non để thu hút sự quan tâm của phụ huynh khi chọn trường.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu trong bài viết này là các yếu tố cần thiết để xác định một trường mầm non tốt Cụ thể, bài viết sẽ khám phá quan điểm của phụ huynh tại thành phố Hồ Chí Minh về tiêu chí đánh giá chất lượng trường mầm non.

Phạm vi khảo sát tập trung vào các bậc phụ huynh từ 25 đến 40 tuổi có con đang học mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh Đây là độ tuổi phổ biến của các gia đình trẻ có công việc ổn định, họ mong muốn tìm kiếm một trường học chất lượng cho con em mình, nhằm tạo sự yên tâm cho các bà mẹ khi trở lại công việc.

Thông qua mạng xã hội Facebook, tác giả đã tiến hành khảo sát trong các mối quan hệ xã hội như bạn học và đồng nghiệp để thu thập dữ liệu về tình hình chọn trường mầm non cho trẻ em tại thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu cũng nhằm phân tích mối liên hệ giữa các tiêu chí của trường mầm non và quyết định của phụ huynh trong việc lựa chọn trường cho con.

Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Nghiên cứu này mang lại nhiều ý nghĩa thực tiễn cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giáo dục mầm non, cũng như cho các bậc phụ huynh Các doanh nghiệp sẽ có cơ sở để cải thiện dịch vụ và chất lượng giáo dục, trong khi phụ huynh sẽ được trang bị thông tin hữu ích để lựa chọn môi trường học tập tốt nhất cho con em mình.

Nghiên cứu này sẽ xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường mầm non của phụ huynh, giúp cha mẹ nhận diện các tiêu chí cần thiết khi lựa chọn trường cho con Điều này sẽ giảm bớt sự bỡ ngỡ trong việc tìm kiếm thông tin giữa vô vàn dữ liệu trên mạng hiện nay.

Đề tài nghiên cứu sẽ phân tích và đánh giá khoa học các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn trường mầm non của phụ huynh Kết quả nghiên cứu này sẽ cung cấp cơ sở tham khảo cho các đơn vị giáo dục trong việc thiết kế các dự án trường học, nhằm đáp ứng đúng nhu cầu và mong muốn của khách hàng.

Nghiên cứu này giúp tác giả hiểu sâu sắc về lý luận hành vi tiêu dùng và tiêu chí của một trường mầm non tốt cho con Đồng thời, nó cũng cung cấp kiến thức hữu ích cho tác giả và bạn bè trong việc lựa chọn trường học, nhằm mang đến những điều tốt đẹp nhất cho con.

KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI

Khóa luận được trình bày trong 5 chương với nội dung như sau:

Chương 1 giới thiệu sơ nét thực trạng chất lượng trường mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh, lĩnh vực nghiên cứu, sau đó sẽ xác định mục tiêu, đối tượng, phạm vi, quy trình nghiên cứu để thực hiện khoá luận, cuối cùng là ý nghiã của việc nghiên cứu và kết cấu của khoá luận

Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết về hành vi tiêu dùng, tập trung vào các mô hình quá trình ra quyết định mua hàng và những nghiên cứu liên quan Nội dung này giúp hiểu rõ hơn về động lực và yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua sắm của người tiêu dùng, từ đó cung cấp cái nhìn sâu sắc cho các chiến lược marketing hiệu quả.

Chương 3 trình bày mô hình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và xây dựngcác thang đo và mẫu nghiên cứu địnhlượng chính thức

Chương 4 trình bày kết quả phân tích ảnh hưởng của một số yếu tố đối với việc chọn trường mầm non ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

Chương 5 kết luận tóm tắt những kết quả chính của khoá luận, một số hàm ý quản lý cũng như một số hạn chế của khoá luận.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1.1 Hành vi người tiêu dùng

Hành vi người tiêu dùng, theo Đinh Tiên Minh (2008), là một khái niệm quan trọng trong marketing hiện đại, chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố như văn hóa, xã hội, cá nhân và tâm lý Các yếu tố văn hóa bao gồm văn hóa chung, văn hóa đặc thù và tầng lớp xã hội, trong khi yếu tố xã hội liên quan đến nhóm tham khảo, gia đình và vai trò xã hội Yếu tố cá nhân ảnh hưởng bởi tuổi tác, nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế, phong cách sống và nhân cách Cuối cùng, yếu tố tâm lý bao gồm động cơ, nhận thức, kiến thức, niềm tin và thái độ Nhiều lý thuyết như lý thuyết động cơ con người của S Freud, lý thuyết phân cấp nhu cầu của A Maslow và lý thuyết động cơ “hai yếu tố” của F Herzberg được áp dụng để nghiên cứu hành vi tiêu dùng.

Theo Nguyễn Phương Toàn (2008), thuyết lựa chọn duy lý (Rational Choice Theory) cho rằng con người hành động có chủ đích và suy nghĩ để lựa chọn nguồn lực một cách hợp lý nhằm đạt kết quả tối đa với chi phí tối thiểu Homan diễn đạt định đề cơ bản của thuyết này qua định lý toán học: “Khi lựa chọn giữa các hành động khả thi, cá nhân sẽ chọn phương án có tích (C) lớn nhất của xác suất thành công (P) và giá trị phần thưởng (V)”, tức là C = P x V maximum.

Theo John Elster (trích bởi Nguyễn Phương Toàn, 2008), con người thường lựa chọn hành động mà họ tin là sẽ mang lại kết quả tốt nhất Thuyết lựa chọn duy lý yêu cầu phân tích hành động của cá nhân trong mối quan hệ với hệ thống xã hội, bao gồm nhu cầu, mong đợi và khả năng lựa chọn của các cá nhân khác Kotler (2005) cho rằng quá trình chọn sản phẩm mới của người tiêu dùng trải qua các giai đoạn: biết đến sản phẩm, tìm kiếm thông tin, đánh giá tính khả thi, thử nghiệm sản phẩm trong giới hạn và cuối cùng là quyết định sử dụng sản phẩm nếu việc thử nghiệm mang lại sự hài lòng.

Các đặc tính của sản phẩm ảnh hưởng đến tốc độ chọn dùng bao gồm: lợi thế tương đối, tức là mức độ vượt trội của sản phẩm so với những lựa chọn hiện có; tính tương hợp, phản ánh sự phù hợp với giá trị và kinh nghiệm của cá nhân trong cộng đồng; tính phức tạp, thể hiện mức độ khó khăn trong việc tìm hiểu hoặc sử dụng sản phẩm; tính phân tích được, cho phép người dùng thử nghiệm ở mức độ hạn chế; và khả năng thông đạt, tức là mức độ mà các kết quả có thể được quan sát và mô tả để người khác cảm nhận.

Theo Nguyễn Ngọc Thanh (2008), hành vi người tiêu dùng là quá trình mà cá nhân hoặc nhóm lựa chọn, mua, sử dụng và vứt bỏ sản phẩm hoặc dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn Nghiên cứu hành vi người tiêu dùng nhằm trả lời các câu hỏi về cách người tiêu dùng thực hiện các bước này và các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng của họ Hiểu rõ các vấn đề này giúp người bán áp dụng hiệu quả vào sản phẩm của mình, từ đó tối ưu hóa chiến lược tiếp thị và xây dựng thương hiệu.

2.1.2 Mô hình về quá trình ra quyết định mua hàng

Theo Philip Kotler, nghiên cứu hành vi tiêu dùng của khách hàng là nhiệm vụ quan trọng, ảnh hưởng lớn đến quyết định tiếp thị của doanh nghiệp Ngày xưa, các nhà tiếp thị có thể hiểu khách hàng qua kinh nghiệm bán hàng hàng ngày, nhưng sự phát triển của doanh nghiệp và thị trường đã khiến nhiều nhà quản trị không còn tiếp xúc trực tiếp với khách hàng Do đó, việc nghiên cứu khách hàng trở nên cần thiết để trả lời các câu hỏi chủ chốt về thị trường.

- Những ai tạo nên thị trường đó?

- Thị trường đó mua những gì?

- Tại sao thị trường đó mua?

- Những ai tham gia vào việc mua sắm?

- Thị trường đó mua sắm như thế nào?

- Khi nào thị trường đó mua sắm?

- Thị trường đó mua hàng ở đâu?

TheoKotler (2005), mô hình về hành vi người tiêu dùng được khái quát như sau: Đầu vào Đầu ra

Mô hình hành vi của người mua, theo Philip Kotler (2005), là điểm khởi đầu để hiểu rõ về hành vi của người tiêu dùng Mô hình này cho thấy cách mà các yếu tố tiếp thị và tác nhân môi trường ảnh hưởng đến nhận thức của người mua Những đặc điểm và quá trình ra quyết định của người tiêu dùng sẽ dẫn đến các quyết định mua sắm cụ thể Do đó, nhiệm vụ của các chuyên gia tiếp thị là nắm bắt và phân tích những yếu tố này để tối ưu hóa chiến lược tiếp thị.

Các yếu tố bên ngoài

Tác nhân tiếp thị Sản phẩm Sản phẩm

Giá Giá Địa điểm Địa điểm

Các yếu tố bên trong Đặc điểm người mua Quá trình quyết định mua

Văn Hoá Nhận thức vấn đề

Xã hội Tìm kiếm thông tin

Quyết định của người mua

Khi lựa chọn sản phẩm, người tiêu dùng cần cân nhắc nhiều yếu tố như nhãn hiệu và đại lý Thời gian mua sắm cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành quyết định của người mua Bài viết sẽ tập trung vào việc tìm hiểu những tác động bên ngoài ảnh hưởng đến ý thức của người tiêu dùng trong quá trình ra quyết định mua hàng.

- Những đặc điểm nào của người mua ảnh hưởng đến hành vi mua sắm?

- Người mua thông qua quyết định mua sắm như thế nào?

Kotler đã đề xuất mô hình tổng quát thể hiện các bước tiến hành để ra một quyết định mua, bao gồm 6 bước:

Nhận biết nhu cầu  Thu thập thông tin  Đánh giá các phương án thay thế  Quyết định  Thực hiện quyết định  Đánh giá lại

Hình 2.2 Mô hình đơn giản về quá trình ra quyết định mua hàng

Quá trình ra quyết định mua hàng hóa và dịch vụ bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau, theo đề xuất của Kotler.

Hình 2.3 Mô hình về quá trình ra quyết định mua hàng phức tạp

Dịch vụ đóng vai trò quan trọng trong mọi khía cạnh của cuộc sống, trong đó giáo dục cũng được coi là một hình thức dịch vụ phục vụ người tiêu dùng Mục tiêu của hoạt động giáo dục là đáp ứng nhu cầu và mong muốn của khách hàng theo cách mà họ kỳ vọng.

Nhận biết nhucầu Đánh giá sau khimua

Thu thậpthôn g tin Đánh giá phươngán

Thiết lập thông tin đánhgi á Động cơ và giá trị

Những yếu tố tình huống

Xây dựng tiêu chí đánh giá

Nhận biết nhu cầu Đánh giá sau khi mua

Thu thập thông tin Đánh giá phương án

Chất lượng dịch vụ được định nghĩa bởi nhiều chuyên gia trong ngành Theo Philip Crosby, chất lượng dịch vụ là sự đáp ứng các yêu cầu của khách hàng Deming lại nhấn mạnh rằng chất lượng dịch vụ là mức độ tin cậy có thể dự đoán, đảm bảo chi phí thấp nhất và phù hợp với thị trường Trong khi đó, Duran cũng đóng góp quan điểm riêng về vấn đề này.

“chất lượng dịch vụ là sự phù hợp khi sử dụng, điều này do người sử dụng đánh giá”

Khách hàng có những cảm nhận khác nhau về chất lượng dịch vụ, vì vậy việc họ tham gia vào quá trình phát triển và đánh giá chất lượng là rất quan trọng Trong lĩnh vực dịch vụ, chất lượng được xác định dựa trên nhận thức của khách hàng, tức là chất lượng dịch vụ được công nhận thông qua cảm nhận của họ liên quan đến nhu cầu cá nhân.

2.1.4 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào nhóm tuổi 25-40 (thế hệ 7X, 8X) vì họ đã trải qua giai đoạn chuyển mình của đất nước từ kinh tế khó khăn sang đổi mới, và không muốn con cái phải đối mặt với những thiếu thốn mà họ đã từng trải qua Họ cũng không chứng kiến những mất mát lớn lao trong thời kỳ chiến tranh, điều này giúp họ dễ dàng tiếp thu những tư tưởng và cải cách mới trong việc nuôi dạy con cái Suy nghĩ của thế hệ này mang chiều sâu hơn so với những người sinh ra và lớn lên trong thời kỳ đất nước đã phát triển.

Thế hệ 7X và 8X, được sinh ra trước khi nền kinh tế mở cửa, đã trải qua một tuổi thơ vất vả, từ đó họ trân trọng những gì mình có Họ mang trong mình sự giao thoa văn hóa, với tư duy truyền thống nhưng cũng biết chọn lọc tiếp thu văn hóa Tây Âu Khác với thế hệ 5X, 6X có quan điểm cổ hủ và thế hệ 9X bỏ quên giá trị văn hóa dân gian, 7X và 8X duy trì cái cũ một cách hợp lý và chấp nhận cái mới một cách có chọn lọc Do đó, lứa tuổi 25 – 40 này thường tìm kiếm những khái niệm và mô hình sống mới, sẵn sàng chi trả cho các dịch vụ giúp cải thiện chất lượng cuộc sống.

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH LỰA CHỌN TRƯỜNG HỌC

Nghiên cứu của Chapman (1981) chỉ ra rằng các yếu tố trường học như học phí, vị trí địa lý và môi trường ký túc xá có ảnh hưởng lớn đến quyết định chọn trường của học sinh Ngoài ra, theo Bun và các cộng sự (trích bởi Trần Văn Quí và Cao Hào Thi, 2009), mức độ uy tín và chất lượng đội ngũ giáo viên cũng là những yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn trường học của học sinh.

Một nghiên cứu của Trần Văn Quí và Cao Hào Thi (2009) chỉ ra rằng có bảy yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học của học sinh phổ thông trung học, bao gồm các đặc điểm của trường và sự nỗ lực trong giao tiếp của trường với học sinh.

Nghiên cứu khoa học "Xu hướng chọn trường tiểu học của phụ huynh thành phố Hồ Chí Minh" do sinh viên khoa xã hội học trường Đại học Mở thực hiện vào tháng 3/2012 cho thấy rằng danh tiếng, chất lượng và vị trí của trường là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn trường học của phụ huynh.

Nghiên cứu của sinh viên Đại học Kinh tế Huế đã chỉ ra rằng nhu cầu về trường mầm non của các bà mẹ tại thành phố Huế bị ảnh hưởng bởi nội dung học, thời gian học, hình thức thanh toán học phí và các dịch vụ hỗ trợ Đồng thời, một khảo sát thị trường của Công ty FTA vào tháng 3/2012 tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Đà Nẵng cũng đã phân tích các yếu tố như chất lượng giảng dạy, cơ sở vật chất, chi phí và vị trí trường học, nhằm tìm hiểu quan điểm và xu hướng lựa chọn trường của phụ huynh.

Các nghiên cứu xã hội về đánh giá trường mầm non trên các website như www.baby.marry.com, www.mamnon.com, và www.vnexpress.net chỉ ra rằng nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của phụ huynh, bao gồm cơ sở vật chất, điều kiện vệ sinh, đội ngũ giáo viên, địa điểm, chương trình học, hoạt động ngoại khóa và thực đơn.

Cơ sở vật chất, chi phí học, chương trình học, địa điểm, chất lượng giáo viên và dinh dưỡng là những yếu tố bên ngoài quan trọng của sản phẩm "trường mầm non" Theo Philip Kotler (2005), những yếu tố này có ảnh hưởng lớn đến quyết định chọn trường của phụ huynh.

Khi lựa chọn trường học cho con, phụ huynh thường đặt ra những câu hỏi như sân chơi có không, phòng học có rộng và thoáng không, đồ chơi có phù hợp, điều kiện vệ sinh có tốt không và thức ăn ở trường như thế nào Theo Philip Kotler (2005), "sản phẩm" là yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến quyết định của người tiêu dùng, và trong trường hợp trường mầm non, "sản phẩm" này bao gồm các đặc điểm dễ nhận thấy của trường học Nghiên cứu của Chapman (1981) cùng với kết quả từ Công ty FTA đã chỉ ra rằng môi trường ký túc xá và cơ sở vật chất có mối liên hệ chặt chẽ với quyết định chọn trường của học sinh và phụ huynh.

Từ những lập luận trên, tác giả đưa ra giả thuyết như sau:

H1: Yếu tố đặc điểm cơ bản của trường (về cơ sở vật chất, chế độ dinh dưỡng) có ảnh hưởng đến quyết định chọn trường mầm non

Chi phí sản phẩm đóng vai trò quan trọng trong hành vi mua sắm của người tiêu dùng, theo Kotler (2005) Trường học có mức học phí thấp hơn sẽ thu hút nhiều sự quan tâm từ phụ huynh, mặc dù chương trình học có thể giống nhau Bên cạnh học phí, phụ huynh cũng chú ý đến nội dung bao gồm trong học phí, sự minh bạch về chi phí hàng tháng, và việc có cần bồi dưỡng thêm cho giáo viên hay không Do đó, tác giả đề xuất giả thuyết rằng những yếu tố này ảnh hưởng lớn đến quyết định lựa chọn của phụ huynh.

H2: Yếu tố học phí có ảnh hưởng đến quyết định chọn trường mầm non

Chương trình học và chất lượng giáo viên là hai yếu tố quan trọng trong việc đánh giá trường mầm non, đóng vai trò then chốt trong quyết định chọn trường của phụ huynh Nghiên cứu của Nguyễn Phương Toàn (2008) và Trần Văn Quí, Cao Hào Thi (2009) đã chỉ ra mối tương quan tích cực giữa chương trình học và chất lượng giáo viên với sự lựa chọn trường học Các bậc phụ huynh thường quan tâm đến nội dung giảng dạy, trình độ chuyên môn và sự tận tâm của giáo viên, cũng như việc trường có dạy trẻ những giá trị sống cần thiết hay không Do đó, tác giả đề xuất một số giả thuyết liên quan đến các yếu tố này.

H3: Yếu tố chất lượng giáo viên có ảnh hưởng đến quyết định chọn trường mầm non

H4: Yếu tố chương trình học có ảnh hưởng đến quyết định chọn trường mầm non

Vị trí của sản phẩm cũng là một trong những yếu tố bên ngoài mà Philip Kotler

Nghiên cứu của D Chapman (1981) và khảo sát từ sinh viên Đại học Mở TP Hồ Chí Minh chỉ ra rằng yếu tố "địa vị trí" của trường học ảnh hưởng lớn đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng Đặc biệt, hầu hết phụ huynh đều xem xét vị trí trường học khi lựa chọn cho con, bao gồm các yếu tố như sự thuận tiện trong việc đưa đón, khoảng cách từ nhà hoặc nơi làm việc, và độ an toàn của khu vực xung quanh trường Những câu hỏi này rất quan trọng trong quá trình quyết định chọn trường cho trẻ.

Từ những lập luận trên, tác giả đưa ra giả thuyết như sau:

H5: Yếu tố vị trí của trường có ảnh hưởng đến quyết định chọn trường mầm non

Sản phẩm hay hàng hóa luôn đi kèm với các đặc tính và dịch vụ cộng thêm, ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi mua sắm của người tiêu dùng Nghiên cứu của sinh viên Đại học Huế về nhu cầu trường mầm non của các bà mẹ tại thành phố Huế đã chỉ ra rằng các dịch vụ hỗ trợ, như hệ thống camera, website và bảng thông tin, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện tương tác giữa nhà trường và phụ huynh Những yếu tố này có thể tác động đến quyết định chọn trường mầm non cho trẻ, do đó tác giả đề xuất giả thuyết về sự ảnh hưởng của dịch vụ hỗ trợ trong quá trình ra quyết định của phụ huynh.

Các dịch vụ hỗ trợ tương tác giữa nhà trường và phụ huynh bao gồm hệ thống camera và website/bảng thông tin Những công cụ này cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến việc học, ảnh hưởng lớn đến quyết định chọn trường của phụ huynh.

MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu này nhằm kiểm tra các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường mầm non của cha mẹ Dựa trên các giả thuyết đã đưa ra, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu để phân tích các yếu tố này.

Hình 2.4: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Biến phụ thuộc: Hành vi chọn trường mầm non

Các biến độc lập bao gồm các yếu tố cơ bản như cơ sở vật chất, chất lượng thực phẩm, học phí, chất lượng giáo viên, chương trình học, vị trí trường học và các dịch vụ hỗ trợ tương tác giữa nhà trường và phụ huynh, chẳng hạn như hệ thống camera và website của trường.

Vị trí Chương trình học

Dịch vụ hỗ trợ tương tác

THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu định tính nhằm khám phá và điều chỉnh các biến quan sát để đo lường các khái niệm nghiên cứu Phương pháp này sử dụng phỏng vấn theo nội dung đã chuẩn bị, dựa trên thang đo có sẵn Trong nghiên cứu, người thực hiện sẽ phỏng vấn 20 phụ huynh ở độ tuổi nhất định.

Tại thành phố Hồ Chí Minh, nhóm đối tượng từ 25 đến 40 tuổi đã hoặc đang có con theo học tại trường mầm non Các câu hỏi trong phần phụ lục 1 sẽ giúp thu thập thông tin sơ bộ về những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn trường mầm non của các phụ huynh này.

Kết quả nghiên cứu sơ bộ sẽ là nền tảng để thiết kế bảng câu hỏi cho nghiên cứu chính thức Sau khi được chỉnh sửa, bổ sung và hoàn thiện, bảng câu hỏi sẽ được sử dụng trong nghiên cứu chính thức.

Nghiên cứu định lượng: Theo Hair, Anderson, Tatham and William Black (1998) và Nguyễn Đình Thọ (2009):

- Số lượng mẫu phù hợp cho phân tích hồi quy đa biến:

 n > 50 + 8p với n là kích thước mẫu tối thiểu và p là số biến độc lập

 Mô hình có 7 biến độc lập: o n > 50 + 8x7 = 106

Tác giả đã thực hiện khảo sát với cỡ mẫu 150 người bằng bảng câu hỏi định lượng sử dụng thang đo Likert 5 mức độ để đánh giá mức độ quan trọng của các yếu tố xác định Sau đó, phương pháp hồi quy được áp dụng để phân tích mối quan hệ giữa nhóm các yếu tố và dự định chọn trường mầm non của các đối tượng khảo sát Bảng câu hỏi được phát đến người tham gia thông qua mạng xã hội Facebook.

QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU

Dựa theo quy trình nghiên cứu của Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang,

Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu

NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH SƠ BỘ

Nghiên cứu định tính sơ bộ để đảm bảo giá trị nội dung của thang đo và nhằm điều chỉnh, bổ sung về mặt thuật ngữ

3.3.2 Đối tượng Đối tượng khảo sát là những phụ huynh lứa tuổi 25 - 40 ở thành phố Hồ Chí Minh

CƠ SỞ LÝ THUYẾT ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH NGHIÊN

CỨU VÀ THANG ĐO SƠ BỘ

TẢ ĐÁNH GIÁ THANG ĐO

(Độ tin cậy và độ giá trị)

MÔ HÌNH VÀ THANG ĐO

MÔ HÌNH VÀ THANG ĐO HIỆU CHỈNH

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Khảo sát thông qua bảng câu hỏi

Mô tả mẫu khảo sát

Phân tích tương quan Hồi quy đa biến Kiểm định giả thuyết thống kê

Sau khi xây dựng mô hình và thang đo sơ bộ, tác giả tiến hành nghiên cứu định tính thông qua việc phỏng vấn 20 phụ huynh trong độ tuổi 25 - 40 tại thành phố Hồ Chí Minh Mục đích là để hiệu chỉnh các thang đo và ngữ nghĩa của câu hỏi khảo sát, đảm bảo người tham gia hiểu đúng và cung cấp thông tin chính xác.

NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG

3.4.1 Chọn mẫu – phương pháp lấy mẫu

Theo Hair, Anderson, Tatham and William Black (1998) và Nguyễn Đình Thọ (2009):

- Số lượng mẫu phù hợp cho phân tích hồi quy đa biến:

 n > 50 + 8p với n là kích thước mẫu tối thiểu và p là số biến độc lập

 Mô hình có 7 biến độc lập: o n > 50 + 8x7 = 106

Trên cơ sở đó, tác giả tiến hành thu thập dữ liệu với cỡ mẫu là 150

3.4.1.2 Phương pháp lấy mẫu Đối tượng khảo sát là các phụ huynh lứa tuổi 25 - 40 ở thành phố Hồ Chí Minh Tác giả sử dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện

- Sử dụng công cụ google để thiết kế bảng khảo sát Sau đó sẽ khảo sát thông qua trang mạng xã hội facebook của tác giả

- Dự kiến thu 200 mẫu từ khảo sát trực tuyến

Bước1: Xây dựng thang đo

Quy trình xây dựng thang đo trong nghiên cứu này tuân theo phương pháp của Churchill (1979) và được kiểm định bằng hệ số Cronbach’s alpha Thang đo được phát triển dựa trên lý thuyết về các yếu tố cơ bản của trường như cơ sở vật chất, chế độ dinh dưỡng, học phí, chất lượng giáo viên, chương trình học, vị trí trường học, và các dịch vụ hỗ trợ tương tác giữa nhà trường và phụ huynh, bao gồm hệ thống camera và website/bảng thông tin cập nhật thường xuyên, ảnh hưởng đến quyết định chọn trường mầm non.

Bước 2: Nghiên cứu định tính

Bước này nhằm điều chỉnh và bổ sung thang đo cho phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, để sau khi hoàn thành, thang đo sẽ được áp dụng trong nghiên cứu định lượng.

Bước 3: Nghiên cứu định lượng

Thang đo được hiệu chỉnh thông qua nghiên cứu định tính bằng phương pháp Cronbach’s Alpha và phân tích EFA Các biến có hệ số tương quan dưới 0.30 sẽ bị loại bỏ, tiếp theo là các biến có trọng số nhỏ hơn 0.50 trong EFA Các biến còn lại sẽ được sử dụng cho thang đo chính thức trong nghiên cứu định lượng Kết quả thu thập sẽ được phân tích hồi quy đa biến để kiểm định các giả thuyết và mô hình nghiên cứu.

Nghiên cứu của Nguyễn Phương Toàn (2008) đã phát triển thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học, bao gồm cơ sở vật chất, học phí, vị trí địa lý, đội ngũ giáo viên và thông tin từ website Những yếu tố này cũng là đặc điểm cơ bản của trường học Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả đã xây dựng thang đo cho quyết định chọn trường mầm non với các yếu tố như cơ sở vật chất (VCi), học phí (HPi), chất lượng giáo viên (GVi), chương trình học (CTi), vị trí trường (DDi), và dịch vụ hỗ trợ (DVi).

Khi lựa chọn trường đại học, yếu tố cơ sở vật chất và trang thiết bị hiện đại là điều mà “khách hàng” đặc biệt quan tâm Đối với trường mầm non, yếu tố này được mở rộng bao gồm sân chơi, lớp học thông thoáng và rộng rãi Trang thiết bị ở trường đại học thường là máy móc và phương tiện phục vụ giảng dạy, trong khi ở trường mầm non, đồ chơi và đồ dùng hàng ngày cho trẻ em lại đóng vai trò quan trọng hơn Thông tư số 07/2011/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục Đào tạo quy định tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục mầm non, bao gồm các tiêu chí về sân chơi, phòng học, đồ chơi, khu vệ sinh và mối quan hệ giữa trường học và gia đình Bên cạnh đó, phụ huynh cũng chú ý đến “tướng mạo” của giáo viên, như sự yêu thương và tính hiền lành của họ khi gửi gắm con em mình.

Do đó, tác giả đề xuất thang đo cho các yếu tố này như ở bảng 3.1

Bảng 3.1: Thang đo yếu tố đặc điểm cơ bản về cơ sở vật chất

STT Biến quan sát Nguồn tham khảo

Trường học cần có sân chơi ngoài trời và lớp học rộng rãi, thông thoáng với đủ ánh sáng tự nhiên, theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo Lớp học cũng phải được trang bị đồ chơi phong phú, đa dạng, không làm từ nhựa kém phẩm chất, và có khu vực vệ sinh riêng với thiết kế phù hợp cho trẻ Giáo viên nên có ngoại hình vui vẻ, hiền lành, đồng thời trường công khai thực đơn hàng tuần và lập thực đơn đa dạng, thay đổi liên tục Khu vực chế biến thức ăn cần phải sạch sẽ, được phân khu rõ ràng giữa sơ chế và chế biến Nhà trường cũng cần thường xuyên liên lạc và thông tin với phụ huynh về những vấn đề liên quan đến trẻ.

Khi lựa chọn trường học, yếu tố học phí luôn là mối quan tâm hàng đầu của phụ huynh Trong khi sinh viên tìm kiếm trường đại học với học phí phù hợp, phụ huynh lại mong muốn có thông tin rõ ràng về tất cả các khoản chi phí khi gửi con vào trường mầm non, tránh những phát sinh không mong muốn vào cuối tháng Hơn nữa, với mức chi phí cao, việc được hoàn lại những khoản chi phí không sử dụng cũng là điều mà phụ huynh đặc biệt chú ý Từ đó, tác giả đề xuất một thang đo về yếu tố học phí để đáp ứng nhu cầu này.

Bảng 3.2: Thang đo yếu tố học phí

STT Biến quan sát Nguồn tham khảo

HP1 Học phí đã bao gồm tất cả các chi phí (ngoại trừ chi phí giữ bé ngoài giờ)

(2008), hiệu chỉnh theo kết quả nghiên cứu định tính HP2 Nhà trường có hoàn lại tiền ăn cho những ngày bé nghỉ

Theo kết quả nghiên cứu định tính HP3 Thông tin chi tiết về các chi phí trong tháng được công khai rõ ràng cho phụ huynh

Theo kết quả nghiên cứu định tính 3.4.2.3 Xây dựng thang đo về yếu tố chất lượng giáo viên (GVi)

Nghiên cứu của Nguyễn Phương Toàn (2008) đã chỉ ra rằng chất lượng giảng viên ảnh hưởng đáng kể đến quyết định chọn trường đại học Trong môi trường giáo dục, phụ huynh thường ưu tiên chất lượng giáo viên khi tìm kiếm trường cho con Họ quan tâm đến số lượng trẻ mà mỗi giáo viên chăm sóc, cũng như phương pháp giảng dạy của giáo viên, chẳng hạn như việc có dạy học hay chỉ cho trẻ xem ti vi Nhiều trường còn công khai danh sách và trình độ giáo viên để tạo sự tin tưởng cho phụ huynh, từ đó thu hút sự quan tâm hơn Vì lý do này, tác giả đã đề xuất một thang đo chất lượng giáo viên trong nghiên cứu của mình.

Bảng 3.3: Thang đo yếu tố chất lượng giáo viên

STT Biến quan sát Nguồn tham khảo

Tỷ lệ giáo viên trên học sinh trong trường học hiện nay đang ở mức thấp, theo nghiên cứu định tính Đồng thời, danh sách cùng với trình độ chuyên môn của giáo viên cũng được công bố một cách rõ ràng, giúp phụ huynh và học sinh nắm bắt thông tin cần thiết.

(2008) GV3 Giáo viên không mở tivi cho trẻ xem thay vì dạy học/sinh hoạt

Theo kết quả nghiên cứu định tính

3.4.2.4 Xây dựng thang đo về yếu tố chương trình học (CTi)

Chương trình học là yếu tố quan trọng trong quyết định chọn trường đại học, bên cạnh các ngành đào tạo chính Phụ huynh không chỉ quan tâm đến chương trình học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo mà còn chú trọng đến các chương trình phụ như năng khiếu, ngoại ngữ và phương pháp giảng dạy tiên tiến Để xác định mức độ quan tâm của phụ huynh đối với những yếu tố này, cần thực hiện kiểm định cụ thể Tác giả đề xuất một thang đo về chương trình học với các yếu tố như trong bảng 3.4.

Bảng 3.4: Thang đo yếu tố chương trình học

STT Biến quan sát Nguồn tham khảo

CT1 Trường có chương trình dạy năng khiếu, ngoại ngữ cho bé

Theo kết quả nghiên cứu định tính CT2 Trường dạy học theo các phương pháp giáo dục tiên tiến của nước ngoài (Montessori, Piaget,

Theo kết quả nghiên cứu định tính

3.4.2.5 Xây dựng thang đo về yếu tố địa điểm trường học (DDi)

Thang đo vị trí địa lý của trường đại học rất quan trọng, ảnh hưởng đến sự thuận lợi trong việc di chuyển và học tập của sinh viên Phụ huynh cũng đặc biệt chú trọng đến vị trí trường mầm non, vì họ muốn đảm bảo an ninh và môi trường yên tĩnh cho trẻ Một vị trí thích hợp không chỉ tạo điều kiện an toàn mà còn giúp trẻ phát triển tốt hơn Do đó, tác giả đã xây dựng thang đo cho yếu tố địa điểm trường học với các thành phần liên quan.

Bảng 3.5: Thang đo yếu tố địa điểm của trường

STT Biến quan sát Nguồn tham khảo

DD1 Trường có địa điểm thuận tiện trên đường đi làm hoặc gần nhà

Nguyễn Phương Toàn (2008) đã thực hiện hiệu chỉnh dựa trên kết quả nghiên cứu định tính, cho thấy rằng DD2 được đặt ở một vị trí yên tĩnh với ít xe cộ, trong khi DD3 nằm trong khu vực an ninh.

3.4.2.6 Xây dựng thang đo về yếu tố dịch vụ hỗ trợ cho sự tương tác giữa nhà trường và phụ huynh (DVi)

Nghiên cứu của nhóm sinh viên Đại học Huế về nhu cầu của các bà mẹ đối với trường mầm non ở Huế đã chỉ ra tầm quan trọng của các dịch vụ hỗ trợ tương tác thông tin giữa trường và phụ huynh Đồng thời, nghiên cứu của Nguyễn Phương Toàn (2008) cũng nhấn mạnh rằng thông tin từ website của trường có ảnh hưởng lớn đến quyết định chọn trường đại học Dựa trên những phát hiện này, tác giả đã đề xuất một thang đo như được trình bày trong bảng 3.6.

Bảng 3.6: Thang đo yếu tố dịch vụ hỗ trợ cho sự tương tác giữa nhà trường và phụ huynh

STT Biến quan sát Nguồn tham khảo

DD1 Trường có hệ thống camera quan sát Theo kết quả nghiên cứu định tính

DD2 Trường có website/bảng thông tin cung cấp đầy đủ các hoạt động diễn ra tại trường

Nguyễn Phương Toàn (2008) và hiệu chỉnh theo kết quả nghiên cứu định tính 3.4.2.7 Xây dựng thang đo về quyết định chọn trường (QDi)

 QD1 – Tôi đã chọn được trường mầm non phù hợp cho con mình

 QD2 – Tôi hài lòng với trường mầm non mình đã chọn

QD3 – Tôi quyết định tiếp tục cho con theo học tại trường mầm non đã chọn Để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đối với quyết định này, tác giả đã sử dụng thang đo Likert 5 điểm cho tất cả các biến quan sát.

KỸ THUẬT XỬ LÝ DỮ LIỆU

3.5.1 Kiểm định độ tin cậy củathang đo bằng công cụ Cronbach’sAlpha Độ tin cậy của từng thành phần trong thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chọn trường mầm non sẽ được đánh giá bằng công cụ hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha Các biến quan sát có hệ số tương quan biến tổng nhỏ hơn 0.3 sẽ bị loại và tiêu chuẩn để thang đo đạt yêu cầu khi Crobach’s Alpha từ 0.6 trở lên (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2004) Các nhà nghiên cứu cho rằng

Cronbach’s Alpha từ 0.8 đến 1 cho thấy thang đo lường có chất lượng tốt, trong khi giá trị từ 0.7 đến 0.8 được coi là có thể sử dụng Nhiều tác giả, như Hoàng Trọng và Chu Mộng Ngọc (2005), cho rằng Cronbach’s Alpha từ 0.6 trở lên vẫn có thể chấp nhận, đặc biệt trong trường hợp các khái niệm nghiên cứu mới hoặc chưa quen thuộc với người trả lời.

3.5.2 Phân tích yếu tố khám phá EFA

Khi phân tích yếu tố lhám phá, các nhà nghiên cứu thường quan tâm đến một số tiêu chuẩn như sau:

Hệ số KMO (Kaiser – Meyer – Olkin) cần đạt giá trị ≥ 0.5, trong khi mức ý nghĩa của kiểm định Bartlett phải ≤ 0.5 Nếu kiểm định này có ý nghĩa thống kê với Sig ≤ 0.05, điều này cho thấy các biến quan sát có mối tương quan với nhau trong tổng thể (Hoàng Trọng và Chu Mộng Ngọc, 2005).

- Số tải nhân tố (Factor loading) ≥ 0.5, nếu biến quan sát nào có hệ số tải nhân tố < 0.5 sẽ bị loại (Hair & ctg, 1998)

- Thang đo được chấp nhận thì tổng phương sai trích ≥ 50%

- Hệ số Eigenvalue có giá trị lớn hơn 1

Để đảm bảo giá trị phân biệt giữa các nhân tố, hệ số tải nhân tố của một biến quan sát cần phải khác biệt và đạt mức ≥ 0.3 (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2007).

Trong quá trình phân tích EFA cho thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng, tác giả áp dụng phương pháp Principal Component Analysis kết hợp với phép xoay Varimax Điểm dừng của quá trình trích xuất được xác định khi các yếu tố có Eigenvalue lớn hơn 1.

KẾT QUẢ PHÂN TÍCH

ĐẶC ĐIỂM CỦA MẪU KHẢO SÁT

Mẫu khảo sát được thu thập từ danh sách bạn bè trên Facebook của tác giả, nhằm mục tiêu tìm hiểu ý kiến của phụ huynh trong độ tuổi từ 25 đến 40, những người đã hoặc đang có con học trường mầm non, hoặc đang tìm kiếm trường mầm non cho con tại thành phố Hồ Chí Minh Sau khi phát bảng câu hỏi, tác giả đã nhận được 156 bản trả lời phù hợp với tiêu chuẩn để tiến hành nhập liệu.

Cơ cấu của mẫu khảo sát cụ thể được thể hiện ở bảng 4.1

Bảng 4.1: Cơ cấu mẫu khảo sát

Chuẩn bị có bé đầu lòng 21 13.46

Nhân viên công ty cổ phần, công ty nước ngoài 88 56.41

Khác 12 7.69 Đặc điểm gia đình

Gia đình nhỏ một thế hệ, có người giúp việc 35 22.44

Gia đình nhỏ một thế hệ, không có người giúp việc 52 33.33

Gia đình hai , ba thế hệ (sống cùng ông bà nội/ngoại) 66 42.31

Tác giả đã thực hiện khảo sát định tính thông qua thảo luận và phỏng vấn 20 phụ huynh trong độ tuổi 25 – 40 tại nơi làm việc và một số bạn bè thân thiết Khảo sát này giúp tác giả định hình thang đo cho khảo sát định lượng và kiểm định các thang đo cũng như mô hình nghiên cứu bằng phân tích hồi quy đa biến Kết quả khảo sát định tính cũng nhằm kiểm tra tính phù hợp của các giả thuyết trong quá trình nghiên cứu.

Kết quả khảo sát định tính cho thấy rằng 80% phụ huynh (16/20) rất quan tâm đến các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường mầm non cho con, bao gồm đặc điểm bên ngoài của trường, vị trí, chương trình học, chất lượng giáo viên, mức học phí và các dịch vụ hỗ trợ khác.

Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả đã xây dựng thang đo sơ bộ và hoàn chỉnh bảng câu hỏi cho nghiên cứu định lượng chính thức với kích thước mẫu là 156.

KIỂM ĐỊNH THANG ĐO VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Bảng 4.2: Kết quả kiểm định thang đo

Biến Trung bình thang đo nếu loại biến

Phương sai thang đo nếu loại biến

Hệ số tương quan biến tổng

Cronbach's Alpha nếu loại biến

Thang đo yếu tố cơ sở vật chất: Alpha = 0.894

Thang đo yếu tố vị trí trường học: Alpha = 0.689

Thang đo yếu tố chương trình học: Alpha = 0.634

Thang đo yếu tố chất lượng giáo viên: Alpha = 0.691

Thang đo yếu tố chi phí học: Alpha = 0.767

Thang đo yếu tố dịch vụ hỗ trợ: Alpha = 0.764

Biến Trung bình thang đo nếu loại biến

Phương sai thang đo nếu loại biến

Hệ số tương quan biến tổng

Cronbach's Alpha nếu loại biến

Thang đo yếu tố quyết định chọn trường: Alpha = 0.718

Kết quả tính toán Cronbach’s Alpha cho từng khái niệm nghiên cứu cho thấy tất cả đều có giá trị từ 0.6 đến 0.8, với không thang đo nào có hệ số tương quan biến tổng nhỏ hơn 0.3 Do đó, các thang đo sử dụng trong nghiên cứu được xác định là phù hợp và đáng tin cậy, có thể áp dụng cho phân tích EFA và hồi quy đa biến (chi tiết tại phụ lục 3).

4.2.2 Phân tích yếu tố khám phá EFA

Thang đo các biến độc lập

Các thang đo vềcác yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường mầm non gồm

Bài viết đề cập đến 6 yếu tố và 22 biến quan sát, tất cả đều đã được kiểm định thang đo bằng Cronbach Alpha Sau đó, các biến này được đưa vào phân tích yếu tố khám phá EFA, với kết quả được trình bày chi tiết trong bảng 4.3 và phụ lục 4.

Bảng 4.3 Kết quả phân tích EFA các biến độc lập

Yếu tố đặc điểm cơ bản của trường học

Yếu tố vị trí trường học

Yếu tố chương trình học

Yếu tố chất lượng giáo viên

Yếu tố chi phí học

Yếu tố các dịch vụ hỗ trợ

Kết quả phân tích cho thấy 22 biến quan sát được chia thành 6 nhân tố, với các hệ số tải nhân tố đều lớn hơn 0.5, đúng như giả thuyết ban đầu Tuy nhiên, biến VC7 lại có giá trị tương đương ở hai thành phần khác nhau, có thể do đối tượng khảo sát chưa hiểu rõ câu hỏi hoặc câu hỏi chưa được thiết kế đúng khái niệm cần đo Sau khi kiểm tra, câu hỏi “Trường lập thực đơn đa dạng và thay đổi liên tục có ảnh hưởng đến quyết định chọn trường hay không” không đo lường được khái niệm cần thiết, vì vậy tác giả đã loại bỏ biến này và tiến hành phân tích EFA cho các biến còn lại (theo Nguyễn Đình Thọ, 2011).

Kết quả phân tích EFA cho thấy biến quan sát GV1 không có giá trị hệ số tải nhân tố và đã bị loại bỏ Tiếp tục phân tích EFA với các biến còn lại, biến GV3 cũng không có giá trị hệ số tải nhân tố và đã được loại bỏ (chi tiết tại phụ lục 5).

Biến GV2, sau khi phân tích EFA, đã được nhóm vào cùng thành phần nhân tố với các yếu tố dịch vụ hỗ trợ sự tương tác giữa nhà trường và phụ huynh Mục tiêu của các yếu tố này, bao gồm việc lắp camera (biến DV1), cập nhật thông tin trên website/bảng thông tin (biến DV2), và danh sách trình độ chuyên môn của giáo viên (biến GV2), đều nhằm giúp phụ huynh nắm bắt thông tin về các hoạt động tại trường và hiểu rõ hơn về chương trình học cũng như trình độ chuyên môn của giáo viên.

Do đó, tác giả nhóm các biến này lại với nhau và đặt tên lại là nhóm yếu tố về chế độ thông tin của trường

Kết quả cuối cùng sau khi loại bỏ 3 biến VC7, GV1, GV3, ta còn lại 19 biến quan sát, chia thành 5 nhóm nhân tố như ở bảng 4.4

Bảng 4.4 Kết quả phân tích EFA sau khi loại bỏ biến

Yếu tố đặc điểm cơ bản của trường

Yếu tố vị trí trường học

Yếu tố chương trình học

Yếu tố chi phí học

Yếu tố chế độ thông tin của trường

Hệ số tải nhân tố của các biến đều lớn hơn 0.5, cho thấy tầm quan trọng của các biến quan sát và tính hợp lý của thang đo Hệ số KMO đạt 0.844, chứng minh rằng phân tích EFA phù hợp với dữ liệu.

Kết quả thống kê chi bình phương của kiểm định Bartlett đạt 1331.217 với mức ý nghĩa 0.000, cho thấy các biến quan sát có mối tương quan đáng kể Điểm dừng trong việc trích xuất các yếu tố được xác định tại nhân tố thứ 5 với Eigenvalue là 1.12.

Thang đo biến phụ thuộc

Thang đo quyết định chọn trường bao gồm ba biến quan sát, và sau khi kiểm định bằng Cronbach Alpha, cả ba biến đều đạt yêu cầu Chúng sẽ được tiếp tục đưa vào phân tích các yếu tố khám phá (EFA).

Kết quả phân tích cho thấy ba biến quan sát đã được nhóm lại thành một nhân tố, với hệ số tải nhân tố đều lớn hơn 0.5, khẳng định tầm quan trọng của các biến này và tính hợp lý của thang đo Hệ số KMO đạt 0.657, cho thấy phân tích EFA phù hợp với dữ liệu.

Thống kê chi bình phương của kiểm định Bartlett đạt giá trị 130.878 với mức ý nghĩa là 0.000, vì thế các biến quan sát có tương quan với nhau

Sau khi loại bỏ các biến quan sát không phù hợp và nhóm các biến theo kết quả phân tích EFA, mô hình nghiên cứu đã được điều chỉnh.

Hình 4.1 Mô hình nghiên cứu hiệu chỉnh

H1: Yếu tố đặc điểm cơ bản về hình thức bên ngoài của trường (về cơ sở vật chất, thực đơn, ngoại hình giáo viên) có ảnh hưởng đến quyết định chọn trường mầm non Các yếu tố như cơ sở vật chất hiện đại, thực đơn dinh dưỡng hợp lý và ngoại hình thân thiện của giáo viên đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ấn tượng tích cực cho phụ huynh Những trường mầm non có môi trường học tập đẹp mắt và an toàn thường thu hút nhiều sự quan tâm hơn Ngoài ra, thực đơn phong phú và hấp dẫn cũng góp phần nâng cao sự hài lòng của phụ huynh về chất lượng giáo dục Cuối cùng, ngoại hình và thái độ của giáo viên không chỉ ảnh hưởng đến cảm nhận của trẻ mà còn tạo niềm tin cho phụ huynh trong việc lựa chọn trường cho con em mình.

- H2: Yếu tố học phí có ảnh hưởng đến quyết định chọn trường mầm non

Chế độ thông tin Địa điểm

Học phí Chương trình học

- H3: Yếu tố vị trí của trường có ảnh hưởng đến quyết định chọn trường mầm non

- H4: Yếu tố chế độ thông tin của trường có ảnh hưởng đến quyết định chọn trường mầm non

- H5: Yếu tố chương trình học có ảnh hưởng đến quyết định chọn trường mầm non

Tác giả đã sử dụng phương pháp Enter để phân tích thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường mầm non Kết quả phân tích được trình bày trong bảng 4.5 và bảng 4.6.

Bảng 4.5 Kết quả phân tích hồi quy

Std Error of the Estimate

Bảng 4.6 Kết quả phân tích beta

Kết quả hồi quy cho R 2 đã được điều chỉnh bằng 0.135 và mô hình phù hợp với dữ liệu ở mức độ tin cậy 95%

Kết quả phân tích hồi quy cho thấy, trong năm nhóm yếu tố, chỉ có ba nhóm yếu tố gồm đặc điểm cơ bản của trường (VC), chi phí học (HP) và chương trình học của trường (CT) có tác động đáng kể đến quyết định chọn trường mầm non của phụ huynh Hai nhóm yếu tố còn lại, bao gồm địa điểm (DD) và dịch vụ hỗ trợ chế độ thông tin (DV), không có ý nghĩa thống kê do có Sig lớn hơn 0.05.

Kết quả phân tích cho tác giả phương trình hồi quy với các biến đã được chuẩn hoá có dạng như sau:

Trị số beta cho thấy rằng các yếu tố liên quan đến đặc điểm cơ bản của trường, như cơ sở vật chất, thực đơn dinh dưỡng và ngoại hình của giáo viên, có ảnh hưởng lớn nhất đến quyết định chọn trường mầm non của phụ huynh (β 0.298) Tiếp theo, nhóm yếu tố liên quan đến chương trình học của trường cũng đóng vai trò quan trọng trong quyết định này.

Các yếu tố quan trọng giúp phụ huynh hiểu rõ nội dung giảng dạy của trường về năng khiếu và ngoại ngữ, cũng như những phương pháp hiện đại trên thế giới, có hệ số β = 0.199 Bên cạnh đó, nhóm yếu tố liên quan đến chi phí học, bao gồm học phí, các khoản khấu trừ khi nghỉ và thông tin công bố rõ ràng, có hệ số β = 0.158.

KẾT QUẢ CÁC GIẢ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

4.3.1 Kết quả kiểm định về giả thuyết H1

Kết quả khảo sát và phân tích hồi quy cho thấy rằng các yếu tố cơ bản của trường như cơ sở vật chất, phòng học, sân chơi, chế độ ăn của trẻ và ngoại hình giáo viên có ảnh hưởng đáng kể đến quyết định chọn trường mầm non của phụ huynh, với hệ số β = 0.298, cho thấy đây là yếu tố tác động mạnh nhất Từ kết quả này, tác giả khẳng định rằng giả thuyết H1 trong nghiên cứu đã được kiểm chứng và phù hợp với mô hình nghiên cứu.

4.3.2 Kết quả kiểm định về giả thuyết H2

Kết quả khảo sát và phân tích hồi quy cho thấy nhóm yếu tố liên quan đến chi phí học, bao gồm học phí, khả năng khấu trừ khi nghỉ và sự công bố rõ ràng, có ảnh hưởng đến quyết định chọn trường mầm non của phụ huynh, với hệ số β = 0.158, cho thấy đây là yếu tố tác động yếu nhất Từ kết quả này, tác giả kết luận rằng giả thuyết H2 trong nghiên cứu được kiểm định là phù hợp và đúng với mô hình nghiên cứu.

4.3.3 Kết quả kiểm định về giả thuyết H3

Kết quả khảo sát và phân tích hồi quy cho thấy rằng nhóm yếu tố về địa điểm của trường không có ý nghĩa thống kê, với giá trị Sig > 0.05, mặc dù hệ số β đạt 0.086.

0 Với kết quả này tác giả có thể kết luận rằng giả thuyết H3 đặt ra cho quá trình nghiên cứu chưa phù hợp trong mô hình nghiên cứu này nên bác bỏ giả thuyết H3

4.3.4 Kết quả kiểm định về giả thuyết H4

Kết quả khảo sát và phân tích hồi quy chỉ ra rằng nhóm yếu tố liên quan đến dịch vụ hỗ trợ thông tin giữa nhà trường và phụ huynh không có ý nghĩa thống kê (Sig > 0.05), mặc dù β = 0.045 > 0 Do đó, tác giả kết luận rằng giả thuyết H4 trong nghiên cứu này không phù hợp và cần được bác bỏ.

4.3.5 Kết quả kiểm định về giả thuyết H5

Kết quả khảo sát và phân tích hồi quy chỉ ra rằng các yếu tố liên quan đến chương trình học của trường, như việc dạy năng khiếu và ngoại ngữ cùng với việc áp dụng các phương pháp giảng dạy tiên tiến, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến quyết định chọn trường mầm non của phụ huynh, với hệ số β = 0.199 Từ đó, tác giả khẳng định rằng giả thuyết H5 trong nghiên cứu đã được kiểm định và phù hợp với mô hình nghiên cứu.

4.3.6 Kết quả kiểm định về mô hình nghiên cứu

Kết quả kiểm định các giả thuyết cho thấy quyết định chọn trường mầm non của phụ huynh bị ảnh hưởng bởi ba nhóm yếu tố chính Thứ nhất, nhóm yếu tố đặc điểm cơ bản về hình thức bên ngoài của trường, bao gồm cơ sở vật chất, sân chơi, phòng học, trang thiết bị học tập và chế độ ăn cho trẻ Thứ hai, yếu tố liên quan đến chi phí học, như học phí và các điều khoản khấu trừ khi nghỉ Cuối cùng, nhóm yếu tố về chương trình học, bao gồm việc dạy năng khiếu, ngoại ngữ và áp dụng các phương pháp giảng dạy tiên tiến Đặc biệt, nhóm yếu tố hình thức bên ngoài của trường được xác định là có tác động mạnh nhất đến quyết định của phụ huynh.

Hình 4.2 Mô hình nghiên cứu xây dựng theokết quả nghiên cứu Đặc điểm cơ bản

Quyết định chọn trường mầm non

Chương trình học Học phí

Ngày đăng: 03/09/2021, 16:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

TheoKotler (2005), mô hình về hành vi người tiêu dùng được khái quát như sau:  Đầu vào                                                                                    Đầu ra  - Một số yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường mầm non
heo Kotler (2005), mô hình về hành vi người tiêu dùng được khái quát như sau: Đầu vào Đầu ra (Trang 18)
Kotler đã đề xuất mô hình tổng quát thể hiện các bước tiến hành để ra một quyết định mua, bao gồm 6 bước:   - Một số yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường mầm non
otler đã đề xuất mô hình tổng quát thể hiện các bước tiến hành để ra một quyết định mua, bao gồm 6 bước: (Trang 19)
2.3 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU: - Một số yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường mầm non
2.3 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU: (Trang 24)
Hình 3.1: Quy trình nghiêncứu - Một số yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường mầm non
Hình 3.1 Quy trình nghiêncứu (Trang 26)
Bảng 3.1: Thangđo yếu tố đặc điểm cơ bản về cơ sở vật chất - Một số yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường mầm non
Bảng 3.1 Thangđo yếu tố đặc điểm cơ bản về cơ sở vật chất (Trang 29)
Cơ cấu của mẫu khảo sát cụ thể được thể hiệ nở bảng 4.1. - Một số yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường mầm non
c ấu của mẫu khảo sát cụ thể được thể hiệ nở bảng 4.1 (Trang 34)
Bảng 4.1: Cơ cấu mẫu khảo sát - Một số yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường mầm non
Bảng 4.1 Cơ cấu mẫu khảo sát (Trang 34)
4.2 KIỂM ĐỊNH THANGĐO VÀ MÔ HÌNH NGHIÊNCỨU - Một số yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường mầm non
4.2 KIỂM ĐỊNH THANGĐO VÀ MÔ HÌNH NGHIÊNCỨU (Trang 35)
Bảng 4.3 Kếtquả phân tích EFA các biến độc lập - Một số yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường mầm non
Bảng 4.3 Kếtquả phân tích EFA các biến độc lập (Trang 37)
Bảng 4.4 Kếtquả phân tích EFA sau khi loại bỏ biến - Một số yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường mầm non
Bảng 4.4 Kếtquả phân tích EFA sau khi loại bỏ biến (Trang 39)
Hình 4.1 Mô hình nghiêncứu hiệu chỉnh - Một số yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường mầm non
Hình 4.1 Mô hình nghiêncứu hiệu chỉnh (Trang 40)
Bảng 4.5 Kếtquả phân tích hồi quy - Một số yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường mầm non
Bảng 4.5 Kếtquả phân tích hồi quy (Trang 41)
Hình 4.2 Mô hình nghiêncứu xây dựng theokết quảnghiêncứu - Một số yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường mầm non
Hình 4.2 Mô hình nghiêncứu xây dựng theokết quảnghiêncứu (Trang 44)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w