Nguồn nhân lực
0 1 Khái niệm nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là nguồn lực về con người, được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh khác nhau.
Nguồn nhân lực là toàn bộ dân cư trong xã hội có khả năng lao động, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp sức lao động cho xã hội.
- Với tư cách là yếu tố của sự phát triển kinh tế- xã hội thì nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội.
Nguồn nhân lực, bao gồm cả yếu tố thể lực và trí lực của những người từ 15 tuổi trở lên, không chỉ được đo bằng số lượng mà còn phải xem xét chất lượng Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện qua sức khỏe, trình độ học vấn, kiến thức, trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm tích lũy và ý thức tác phong của người lao động.
Nguồn nhân lực là khái niệm bao trùm, phản ánh số lượng, chất lượng và cơ cấu phát triển của người lao động, không chỉ ở hiện tại mà còn ở tiềm năng tương lai của các tổ chức, địa phương, quốc gia, khu vực và toàn cầu.
2 Các chỉ tiêu đánh giá nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực được đánh giá qua hai khía cạnh chính: số lượng và chất lượng Do đó, để có cái nhìn toàn diện về nguồn nhân lực, chúng ta cần xem xét hai nhóm chỉ tiêu quan trọng.
0 2.1 Nhóm chỉ tiêu đánh giá số lượng nguồn nhân lực
Có nhiều chỉ tiêu để đánh giá số lượng nguồn nhân lực nhưng tiêu biểu thì người ta hay dùng các chỉ tiêu sau :
-Tỷ lệ nguồn nhân lực trong dân số.
-Tỷ lệ lực lượng lao động trong dân số
-Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của người trong độ tuổi lao động. -Tỷ lệ lao động có việc làm trong lực lượng lao động.
2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện qua nhiều chỉ tiêu, trong đó có các chỉ tiêu chủ yếu sau:
2.2.1 Chỉ tiêu biểu hiện trạng thái sức khỏe của nguồn nhân lực
Chúng ta có thể đánh giá tình trạng sức khoẻ qua một số chỉ tiêu chủ yếu sau:
- Chiều cao và cân nặng trung bình của người lao động.
- Chỉ tiêu phân loại sức khoẻ.
- Chỉ tiêu dân số trong độ tuổi lao động không có khả năng lao động và suy giảm sức khoẻ.
- Một số chỉ tiêu cơ bản về y tế, bệnh tật: tỉ suất chết, tỉ suất dân số trong độ tuổi bị mắc HIV/AIDS…
2.2.2 Chỉ tiêu trình độ văn hoá của nguồn nhân lực.
Trình độ văn hóa cao giúp con người nhanh chóng tiếp thu và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn.
- Tỉ lệ người lớn biết chữ.
- Chỉ số tổng hợp về đi học.
- Tỉ lệ đi học chung.
- Tỉ lệ đi học ở các cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông.
2.2.3 Chỉ tiêu đánh giá trình độ chuyên môn kĩ thuật của nguồn nhân lực.
Trình độ chuyên môn phản ánh hiểu biết và khả năng thực hành trong một lĩnh vực cụ thể, thể hiện qua quá trình đào tạo tại các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học Nó cũng cho thấy khả năng chỉ đạo và quản lý công việc chuyên môn Do đó, trình độ chuyên môn của nguồn nhân lực được đánh giá qua các tiêu chí cụ thể.
- Tỉ lệ cán bộ tổ chức.
- Tỉ lệ cán bộ cao đẳng, đại học
- Tỉ lệ cán bộ trên đại học.
2.2.4 Chỉ số phát triển con nguời HDI
Ba chỉ tiêu thành phần phản ánh các khía cạnh sau:
- Một cuộc sống dài lâu và khoẻ mạnh, được đo bằng chỉ số tuổi thọ trung bình
Chỉ số tuổi thọ trung bình =Tuổi thọ trung bình - 25
Kiến thức được đánh giá qua chỉ số học vấn, bao gồm hai yếu tố chính: tỉ lệ người lớn biết chữ chiếm 2/3 và tỉ lệ nhập học ở các cấp giáo dục tiểu học, trung học và đại học chiếm 1/3.
- Mức sống đo bằng chỉ số thu nhập đầu người:
Chỉ số thu nhập đầu người 2.2.5 Một số chỉ tiêu khác
Ngoài các chỉ tiêu định lượng, người ta còn đánh giá các chỉ tiêu định tính phản ánh năng lực và phẩm chất của người lao động, thể hiện qua nhiều khía cạnh khác nhau.
-Truyền thống dân tộc bảo vệ Tổ Quốc.
- Truyền thống về văn hoá văn minh dân tộc.
- Phong tục tập quán, lối sống
Nội dung đầu tư phát triển nguồn nhân lực
Đầu tư phát triển là một phần thiết yếu của đầu tư, liên quan đến việc sử dụng vốn hiện có để thực hiện các hoạt động nhằm gia tăng hoặc tạo ra tài sản mới và nâng cao năng lực sản xuất, với mục tiêu thúc đẩy sự phát triển Các hoạt động đầu tư phát triển bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau.
- Đầu tư tài sản vật chất (Tài sản thực)
Đầu tư vào phát triển tài sản vô hình và nguồn nhân lực là rất quan trọng Điều này bao gồm việc đầu tư vào đào tạo lực lượng lao động, chăm sóc sức khỏe y tế cho nhân viên, cũng như cải thiện môi trường và điều kiện làm việc Những yếu tố này không chỉ nâng cao năng suất lao động mà còn tạo ra một môi trường làm việc tích cực, từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Về cơ bản, đầu tư phát triển nguồn nhân lực bao gồm những nội dung sau:
- Đầu tư cho hoạt động giáo dục đào tạo (đại học, cao đẳng, đào tạo nghề, chính quy, không chính quy, dài hạn, ngắn hạn, bồi dưỡng nghiệp vụ…)
- Đầu tư cho công tác chăm sóc sức khoẻ.
- Đầu tư cho chế độ lương thưởng (lương, phụ cấp, thưởng, phạt, các khoản trích theo lương)
- Đầu tư cải thiện môi trường làm việc của người lao động
0 1.1 Đầu tư cho giáo dục
Đầu tư vào nguồn nhân lực, đặc biệt thông qua giáo dục và đào tạo, là yếu tố quyết định cho sự thành công của sự nghiệp đổi mới kinh tế - xã hội Chất lượng nguồn nhân lực ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trên thị trường khu vực và toàn cầu, cũng như khả năng thu hút đầu tư Do đó, việc đầu tư vào giáo dục - đào tạo cần được coi là ưu tiên hàng đầu để nâng cao quy mô và chất lượng nguồn nhân lực quốc gia.
1.1.1 Đầu tư cho chương trình giảng dạy
Chất lượng nguồn nhân lực phụ thuộc vào sự phù hợp của chương trình giảng dạy với người học và khả năng tiếp thu kiến thức của họ Hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm nhiều cấp học và trình độ đào tạo khác nhau.
- Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo.
- Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông.
- Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề.
Giáo dục đại học và sau đại học, được quy định trong Luật, bao gồm các cấp độ đào tạo như cao đẳng, đại học, thạc sĩ và tiến sĩ.
1.1.2 Đầu tư về đội ngũ cán bộ giảng dạy và phương pháp dạy học Để tạo ra đội ngũ nhân lực có chất lượng cao, trước hết cần đầu tư cho đội ngũ giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục, là những người hướng dẫn và trực tiếp truyền thụ kiến thức cho học sinh, sinh viên Họ phải là những người có đầy đủ kiến thức chuyên môn, trình độ sư phạm, và đạo đức nghề nghiệp Người học muốn giỏi cần có người dạy giỏi, vì vậy cần đảm bảo làm sao đội ngũ cán bộ giảng dạy đủ về số lượng, bảo đảm cơ cấu các Thầy, Cô giáo dạy đủ các môn, tăng cường chất lượng toàn đội ngũ, thanh lọc những người không đủ tiêu chuẩn giảng dạy cho đào tạo, bồi dưỡng bổ sung, làm cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục ngày càng mạnh về chất lượng, tăng cường nề nếp, trật tự, kỷ cương.
Phương pháp giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả tiếp thu kiến thức của học sinh, sinh viên Việc áp dụng phương pháp dạy học phù hợp và hấp dẫn sẽ kích thích sự hứng thú của người học đối với việc học Hiện nay, nhiều phương pháp giảng dạy đã được hình thành và phát triển tại Việt Nam.
Phương pháp giáo dục truyền thống thường diễn ra theo hình thức một chiều, trong đó giáo viên truyền đạt kiến thức mà không có sự tương tác từ học sinh Học sinh chỉ lắng nghe và ghi chép những gì giáo viên nói, dẫn đến việc tiếp thu kiến thức một cách thụ động mà thiếu đi sự sáng tạo và khả năng tư duy phản biện.
Phương pháp giáo dục hiện đại nhấn mạnh vai trò của giáo viên như người thiết kế và tổ chức, trong khi học sinh là người chủ động tìm hiểu kiến thức Giáo viên chỉ đóng vai trò hướng dẫn, khuyến khích học viên tự học hỏi qua sách báo và các phương tiện khác, từ đó tăng cường khả năng sáng tạo và tìm tòi của học sinh, sinh viên Tuy nhiên, ở Việt Nam, phương pháp giáo dục truyền thống vẫn chiếm ưu thế hơn.
Việc cải cách phương pháp dạy học đòi hỏi đầu tư cả về thời gian và cơ sở vật chất Đội ngũ giáo viên và phương pháp giảng dạy là yếu tố then chốt trong sự phát triển của giáo dục, vì vậy cần có sự quan tâm từ phía nhà nước.
1.1.3 Đầu tư về cơ sở hạ tầng vật chất cho giáo dục
Nhà nước đã đầu tư một khoản ngân sách đáng kể cho giáo dục, bao gồm việc xây dựng cơ sở hạ tầng trường học và trang bị thiết bị hiện đại phục vụ cho quá trình dạy và học Các công cụ giảng dạy mới như slide, thảo luận và hội thảo cũng được chú trọng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.
Nhà nước không chỉ tập trung vào việc cải thiện cơ sở hạ tầng giáo dục ở đô thị mà còn chú trọng xây dựng trường học tại các vùng sâu, vùng xa, miền núi và hải đảo.
Đầu tư cho y tế và chăm sóc sức khỏe người lao động là yếu tố quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực Dịch vụ y tế được xem là hàng hóa khó định giá, do đó, đầu tư vào lĩnh vực này mang nhiều đặc thù khác biệt so với các ngành khác.
Trên góc độ vĩ mô, đầu tư phát triển trong lĩnh vực y tế bao gồm một số nội dung sau:
1.2.1 Đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng khám chữa bệnh.
Nhu cầu khám chữa bệnh của người dân là rất lớn và hiện hữu ở mọi nơi Do đó, hệ thống bệnh viện cần phải đảm bảo khả năng đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh mọi lúc, mọi nơi.
Hệ thống bệnh viện có thể chia làm 3 tuyến chính:
1.2.2 Đầu tư sản xuất, lắp đặt trang thiết bị y tế (TTBYT). Đầu tư TTBYT phải dựa trên các tiêu chí sau:
0 - Đảm bảo cung cấp đủ TTBYT
1 - Từng bước hiện đại hoá TTBYT
2 - Ðào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật chuyên ngành
3 - Phát triển công nghiệp trang thiết bị y tế
1.2.3 Đầu tư nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên y tế.
Một đội ngũ nhân viên y tế lành nghề, có lương tâm trong mỗi cơ sở y tế luôn luôn là mục tiêu phấn đấu của xã hội
Để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, việc đầu tư đào tạo nhân viên y tế một cách bài bản là rất quan trọng Nhân viên không chỉ cần có tay nghề cao mà còn phải có lòng tận tâm với bệnh nhân Hơn nữa, việc dạy và học cần gắn liền với thực hành để đảm bảo hiệu quả trong công việc.
Tình hình đầu tư phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam từ năm 2000 đến nay
4 1 Tình hình đầu tư trong lĩnh vực giáo dục đào tạo
0 1.1 Tình hình chi ngân sách cho giáo dục đào tạo:
Theo các báo cáo của Bộ GD&ĐT, ngân sách nhà nước cho giáo dục năm
Từ năm 2005 đến năm 2006, ngân sách nhà nước tăng 13.940 tỷ đồng, và năm 2007 tăng thêm 11.400 tỷ đồng so với năm 2006 Cụ thể, chi ngân sách cho các khoản chi thường xuyên năm 2006 đạt 42.625 tỷ đồng, trong khi năm 2007 là 51.860 tỷ đồng Trong giai đoạn 2002 - 2006, ngân sách nhà nước dành cho giáo dục và đào tạo đã tăng gấp 2,4 lần, từ hơn 22.600 tỷ đồng năm 2002 lên gần 55.000 tỷ đồng năm 2006 Tỷ trọng chi ngân sách cho giáo dục trong GDP cũng tăng từ 4,2% vào năm 2002 lên 5,6% vào năm 2006.
Theo Thứ trưởng Bộ Tài Chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn, mức chi cho giáo dục đại học tại Việt Nam cao hơn so với nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới Đặc biệt, chi thường xuyên cho giáo dục đại học đã tăng hơn 2,4 lần trong giai đoạn 2002 - 2006.
2000, chi ngân sách cho GDĐT từ 15%, đã tăng đến năm 2008 là 19,7% Tỷ trọng chi Ngân sách nhà nước cho GD ĐT trong GDP tăng từ 3,0%năm 2000 đến 5,9% năm 2008
Bảng chi Ngân sách nhà nước cho GDDT qua các năm
Ngân sách nhà nước chi cho
Ngân sách nhà nước chi cho GDĐT (% so với tổng chi Ngân sách nhà nước)
Chi thường xuyên (% so với tổng chi về GDĐT)
Chi Chương trình MTQG (% so với tổng chi về GDĐT)
Chi đầu tư (% so với tổng chi về GDĐT)
Nguồn: Số liệu thống kê giáo dục Vụ Kế hoạch – Tài chính, Bộ GD&ĐT
Ghi chú: (*) Tỷ lệ này sẽ là 19,7% nếu tính cả nguồn trái phiếu Chính phủ chi cho chương trình kiên cố hóa trường học.
Tính đến ngày 30-10-2007, đã có 31 bộ, ban, ngành ban hành cơ chế chính sách nhằm thúc đẩy xã hội hóa giáo dục và đào tạo, đồng thời sắp xếp các trường theo hướng đa dạng hóa Hầu hết các tỉnh cũng đã phê duyệt đề án xã hội hóa giáo dục, thể hiện cam kết trong việc phát triển lĩnh vực này.
Năm 2006, tổng chi từ ngân sách nhà nước cho giáo dục công lập từ mầm non đến đại học đạt 59.239 tỉ đồng, chiếm 87,2%, trong khi đóng góp của người dân khoảng 8.658 tỉ đồng (12,8%) Nhờ chủ trương xã hội hóa, cơ sở vật chất trường lớp đã được cải thiện đáng kể với 74.011 phòng học mới được xây dựng trong giai đoạn 2002-2006, xóa bỏ 4.206 phòng học 3 ca và 55.848 phòng học tạm Tổng vốn huy động cho kiên cố hóa trường lớp lên tới 9.310 tỉ đồng, trong đó ngân sách Trung ương hỗ trợ 5.223 tỉ đồng và ngân sách địa phương 3.174 tỉ đồng, còn lại 913 tỉ đồng từ nhân dân, doanh nghiệp và các nhà hảo tâm Đầu tư ngân sách nhà nước đã đảm bảo kinh phí cho giáo dục phổ cập và các chương trình mục tiêu quốc gia, tập trung vào các vùng khó khăn và dân tộc thiểu số, bao gồm dự án giáo dục tiểu học cho trẻ em hoàn cảnh khó khăn tại 222 huyện với 5.000 trường tiểu học và 15.000 điểm trường lẻ.
Sự đóng góp của người học và xã hội cho giáo dục đào tạo rất phong phú và đa dạng, với 150 tổ chức xã hội, doanh nghiệp và hơn 150 cá nhân đã đóng góp xuất sắc tổng cộng hơn 900 tỉ đồng, 22.356.000 USD, 232.000 bảng Anh và 1.500.000m2 đất tính đến ngày 25-5-2007 Đặc biệt, đầu tư cho giáo dục mầm non được coi là một trong những yếu tố quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực.
Theo báo cáo từ các tỉnh, thành phố, năm 2007, số lượng trường mầm non và trẻ em ăn bán trú trên toàn quốc đã tăng đáng kể, với TP.HCM dẫn đầu khi 100% trẻ nhà trẻ và 93% trẻ mẫu giáo được ăn tại trường Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Bình và Bắc Giang cũng ghi nhận sự cải thiện tương tự Đặc biệt, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng đã giảm từ 11% trong giai đoạn 2005-2006 xuống còn 10%.
Trong giai đoạn 2000-2008, quy mô giáo dục mầm non và phổ thông đã có những bước tiến đáng kể, đặc biệt là về chất lượng đội ngũ giáo viên Các giáo viên mầm non không chỉ được nâng cao chất lượng chuyên môn mà còn được chú trọng về đạo đức nghề nghiệp Chính sách đãi ngộ đối với giáo viên mầm non, bao gồm chế độ tiền lương, phụ cấp, bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế, đã được cải thiện Đồng thời, đầu tư cho giáo dục cấp tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông cũng được tăng cường nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.
Sau giáo dục đào tạo mầm non, thì đầu tư giáo dục đào tạo cấp phổ thông là cơ sở hình thành cho sự phát triển nguồn nhân lực
Giáo dục tiểu học đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao dân trí và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao Do đó, Nhà nước đã dành ngân sách hợp lý để thực hiện chương trình phổ cập giáo dục tiểu học.
Vào tháng 8/2007, Hà Nội đã khởi động dự án Giáo dục Trung học cơ sở (THCS) tại 103 huyện khó khăn thuộc 17 tỉnh, với mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số và khắc phục sự chênh lệch giữa các khu vực Dự án kéo dài từ 2007 đến 2014, nhằm hỗ trợ mục tiêu phổ cập giáo dục THCS Trong những năm gần đây, mạng lưới trường lớp đã phát triển đa dạng, đặc biệt là sự gia tăng của hệ thống trường ngoài công lập, hiện có 6.049 cơ sở mầm non (52,2%), 90 trường tiểu học (0,61%), 49 trường THCS (0,47%) và 617 trường THPT (26,2%) Hệ thống trường ngoài công lập đã góp phần quan trọng vào việc đảm bảo quyền lợi học tập cho trẻ em và mở rộng quy mô giáo dục, đồng thời thúc đẩy đầu tư phát triển giáo dục đại học, cao đẳng và kỹ thuật chuyên nghiệp.
Theo thống kê của Bộ GD&ĐT, tính đến tháng 7/2007, cả nước có 325 Học viện, trường ĐH, trường CĐ, trong đó có 155 ĐH, Học viện, trường ĐH;
Trong năm học 2006 – 2007, cả nước có 170 trường cao đẳng, bao gồm cả các trường thuộc khối an ninh quốc phòng, và 54 trường đại học, cao đẳng ngoài công lập Tổng số sinh viên theo học tại các trường cao đẳng và đại học đạt 1.415.563, tăng 10,21% so với năm học trước Tỷ lệ sinh viên trên giảng viên trung bình trong hệ thống giáo dục đại học là 27,15 sinh viên cho mỗi giảng viên, trong khi khối các trường ngoài công lập có tỷ lệ cao hơn, với 31,1 sinh viên trên một giảng viên.
Nhiều dự án đầu tư xây dựng trường đại học đang được triển khai trên khắp cả nước, với sự hợp tác giữa các trường đại học và doanh nghiệp, ngân hàng Các trường tổ chức nhiều hội thảo hướng nghiệp nhằm tạo mối liên kết chặt chẽ, đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp Ngoài các doanh nghiệp trong nước như Vietcombank, Techcombank, Mobifone, trường còn hợp tác với các tổ chức quốc tế như ACCA.
Trong những năm qua, các trường nghề thuộc doanh nghiệp đã đào tạo từ 90.000 đến 100.000 học sinh hệ dài hạn mỗi năm, cùng với hàng trăm ngàn học sinh theo học nghề ngắn hạn Cụ thể, Trường CĐN mỏ Hữu Nghị đào tạo trung bình 4.000 học sinh mỗi năm, trong khi các trường thuộc Tổng công ty VINASHIN cũng đạt được con số từ 6.000 đến 7.000 học sinh hàng năm.
Trong thời gian qua, đã có sự gắn kết bước đầu giữa nhà trường và doanh nghiệp trong lĩnh vực dạy nghề Nhiều hình thức hợp tác đã được triển khai, như tổ chức cho học sinh thực tập và thực hành tại doanh nghiệp sau khi hoàn thành lý thuyết tại trường, ví dụ như tại Trường CĐN LILAMA 1 và 2, cùng với các trường thuộc VINASHIN.
Ngành giáo dục hiện nay đang thực hiện những đầu tư lớn nhằm cải cách phương pháp đào tạo, chuyển từ hệ thống niên chế-học phần sang mô hình đào tạo theo tín chỉ Thay đổi này được áp dụng cho tất cả các trường đại học và cao đẳng trên toàn quốc.
1 1.2 Tình hình đào tạo nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp
Việt Nam đang phát triển nhanh chóng, nhưng xã hội chưa sẵn sàng để đáp ứng nhu cầu về nhân lực chất lượng cao Đầu tư vào đào tạo nhân viên trong công việc là giải pháp hiệu quả để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Tuy nhiên, mỗi doanh nghiệp có nhu cầu và điều kiện làm việc riêng, do đó không có một hình thức đào tạo chung cho tất cả Đào tạo nhân viên trở thành chiến lược kinh doanh quan trọng, và hiểu biết về các hình thức đào tạo khác nhau sẽ giúp lãnh đạo chọn lựa phương pháp phù hợp nhất với đặc điểm doanh nghiệp của mình.
Thành tựu và thách thức đặt ra cho vấn đề phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay
Tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 1 tuổi :16 phần ngàn ( 2007);
Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng: 21,2% (2007)
Tuổi thọ trung bình :71,3 tuổi
Chiều cao trung bình của thanh thiếu niên và người trưởng thành Việt Nam đã có sự cải thiện đáng kể trong 25 năm qua, với nam thanh niên 20 tuổi hiện cao hơn 4,7 cm so với năm 1975, đạt 163,7 cm, trong khi nữ thanh niên cao 153 cm, tăng 4,5 cm Tuy nhiên, chiều cao này vẫn thấp hơn so với nhiều quốc gia khác, như Nhật Bản (nam thấp hơn 8 cm, nữ thấp hơn 4 cm) và chỉ đạt mức tương đương với thanh niên Lào và Myanmar, thấp hơn cả thanh niên Campuchia So với tiêu chuẩn thế giới, chiều cao trung bình của nam thanh niên Việt Nam kém 13,1 cm và nữ kém 10,7 cm, cho thấy cần cải thiện hơn nữa về thể lực, đặc biệt là sức bền.
Chỉ số dung lượng tim và sức bền của thanh niên Việt Nam đang ở mức thấp, với chỉ số công năng tim trong vận động (theo dõi nhịp tim khi đứng lên ngồi xuống 30 lần trong 30 giây) đạt loại kém Thực trạng này phản ánh lối sống ít vận động, dẫn đến tình trạng béo phì, trầm cảm và ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển trí tuệ của giới trẻ.
Tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 1 tuổi đã giảm từ 44,4 phần ngàn năm 1989 xuống còn 16 phần ngàn năm 2007, trong khi tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng cũng giảm mạnh từ 51,5% năm 1990 xuống còn 21,2% năm 2007 Năm 2007, chiều cao trung bình của trẻ dưới 2 tuổi tăng 5 cm so với 22 năm trước, nhưng vẫn thấp hơn 5 cm so với chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới Điều tra dinh dưỡng mới nhất cho thấy, khoảng cách giữa chiều cao trung bình của trẻ em Việt Nam và chuẩn quốc tế càng lớn hơn ở lứa tuổi lớn hơn, với trẻ 5 tuổi cao hơn gần 6 cm so với thời điểm trước đó.
1985 nhưng vẫn phải cố 7 cm nữa mới đạt mức chuẩn 109,4 cm mà Tổ chức Y tế Thế giới đưa ra.
Trong những năm gần đây, tuổi thọ trung bình của người Việt Nam đã tăng đáng kể, từ 68,6 tuổi vào năm 2003 lên 71,3 tuổi vào năm 2006 Mặc dù con số này cao so với thu nhập của nền kinh tế, nhưng theo Tổ chức Y tế Thế giới, tuổi thọ bình quân khỏe mạnh của Việt Nam chỉ đạt 58,2 tuổi, xếp thứ 116 trong số 174 quốc gia.
1 1.2 Về trình độ văn hóa
Từ năm 1989 đến năm 2000, tỷ lệ người biết chữ tại Việt Nam đã tăng từ 88% lên 93% Đến cuối năm 2000, tất cả các tỉnh thành phố đều đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ, đồng thời đã triển khai chương trình phổ cập trung học cơ sở.
2 1.3 Về chuyên môn kỹ thuật
Theo thống kê, tỷ lệ công nhân tốt nghiệp tiểu học đạt 7,4%, tốt nghiệp THCS là 28,4% và tốt nghiệp PTTH trở lên là 62,3% Hiện nay, khoảng 25% công nhân và 39% lao động phổ thông chưa được đào tạo tay nghề, đặc biệt là trong các ngành như cao su và thủy sản.
Hiện nay, Việt Nam có 65% dân số trong độ tuổi lao động, tương đương khoảng 53 triệu người, nhưng chỉ 27,5% trong số đó đã qua đào tạo, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ 60-70% ở các nước phát triển Theo Bộ LĐ-TB-XH, lực lượng lao động chủ yếu là nông thôn, chiếm trên 50%, trong đó khoảng 70% chưa qua đào tạo, chỉ 0,8% có trình độ cao đẳng và 0,7% có trình độ đại học Điều này cho thấy trình độ chuyên môn và tay nghề của lao động Việt Nam còn yếu kém, cùng với ý thức kỷ luật và tác phong công nghiệp chưa đạt yêu cầu.
Trong những năm gần đây, trình độ học vấn của lao động trên toàn quốc, đặc biệt là ở nông thôn, đã có sự nâng cao đáng kể Tuy nhiên, vẫn tồn tại sự chênh lệch lớn giữa khu vực thành thị và nông thôn, cũng như giữa nam và nữ và các vùng kinh tế khác nhau về trình độ giáo dục Các nghiên cứu cho thấy, tại nông thôn, dân trí thấp hơn 2 lần, nhân tài thấp hơn 8,6 lần và tỷ lệ lao động được đào tạo nghề thấp hơn 10 lần so với khu vực thành thị Hơn nữa, cơ cấu lao động theo trình độ kỹ thuật cũng không cân đối với yêu cầu phát triển, với tỷ lệ lao động trí óc ở thành thị chiếm 30%, trong khi ở nông thôn chỉ là 4,4%.
Hiện nay, Việt Nam đang nhập khẩu khoảng 2% lao động cho một số ngành đặc biệt, trong khi nhiều doanh nghiệp tại các khu công nghiệp đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt nhân lực Một số địa phương chỉ đáp ứng được khoảng 50% nhu cầu về lao động Đáng chú ý, năng suất lao động của Việt Nam chỉ đứng thứ 77 trong số 125 quốc gia, thấp hơn nhiều so với các nước như Philippines, Thái Lan và Malaysia.
Theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới, Việt Nam chỉ đạt 45 điểm về khung pháp lý, 20 điểm về năng suất lao động, 40 điểm về thái độ lao động, 16 điểm về kỹ năng lao động và 32 điểm về chất lượng lao động trên thang điểm 100 Các nhà kinh tế cảnh báo rằng những nền kinh tế có chất lượng nguồn nhân lực dưới 35 điểm sẽ đối mặt với nguy cơ mất sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.
3 1.4 Về số lượng lao động
Việt Nam có cơ cấu dân số trẻ với 52 triệu người trong độ tuổi lao động năm 2005 và đã tăng lên khoảng 63,4 triệu năm 2007
Mỗi năm có khoảng 200.000 sinh viên tốt nghiệp ra trường (chưa kể số lượng công nhân kỹ thuật tốt nghiệp từ các trường đào tạo nghề - PV) GS-TS
Hồ Đức Hùng từ Viện Nghiên cứu kinh tế TP.HCM nhận định rằng đội ngũ lao động hiện nay chủ yếu nặng về lý thuyết nhưng thiếu hụt kỹ năng thực hành Do đó, các doanh nghiệp khi tuyển dụng cần phải đào tạo lại nhân viên từ kỹ năng cho đến ý thức hệ và tính kỷ luật công nghiệp.
Mặc dù nguồn nhân lực của Việt Nam có nhiều ưu thế về số lượng, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế về chất lượng Những hạn chế này chủ yếu bao gồm kỹ năng nghề nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu, thiếu kinh nghiệm thực tiễn, và khả năng ngoại ngữ còn yếu.
- Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi khu vực thành thị
- Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề nghiệp và kỹ năng trong tổng lực lượng lao động còn rất thấp.
Cơ cấu lực lượng lao động hoạt động kinh tế thường xuyên chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật (đến 1/7/2002)
Không có TĐ chuyên môn kỹ thuật
Trong đó chia ra theo trình độ
Cả nước: số lao động (người)
33 265.875 307.393 352.903 307.393 332.144Chiếm tỷ lệ (%) 80.38 19.62 3.33 3.85 4.42 3.85 4.16Theo giới tính:
Nguồn: Báo cáo kết quả "Điều tra lao động, việc làm", Bộ LĐ-TB-XH, 1/7/2002
- Đội ngũ "lao động chất xám" còn thiếu về số lượng và yếu kém về chất lượng
- Thể lực của người lao động Việt Nam còn kém
- Tác phong và kỷ luật lao động công nghiệp còn chưa cao