1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ quốc tế giữa ASEAN và EU

45 55 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan Hệ Quốc Tế Giữa ASEAN Và EU
Người hướng dẫn Lý Quyết Tiến
Trường học Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Đông Nam Á Học
Thể loại Tiểu Luận Cuối Kì
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 0,96 MB

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ ASEAN VÀ EU 1.1. Khái quát về ASEAN (9)
    • 1.2. Khái quát về EU (10)
    • 1.3. Sự hình thành và phát triển quan hệ ASEAN – EU (10)
    • 1.4. Một số cột mốc quan trọng trong quan hệ ASEAN – EU (0)
  • CHƯƠNG 2. HỢP TÁC ASEAN – EU TRÊN CÁC PHƯƠNG DIỆN 2.1. Hợp tác Văn hóa – xã hội (14)
    • 2.2. Hợp tác Kinh tế (17)
    • 2.3. Hợp tác Chính trị (30)
    • 2.4. Hợp tác Quân sự (33)
  • CHƯƠNG 3. THÁCH THỨC VÀ TRIỂN VỌNG TRONG QUAN HỆ HỢP TÁC (40)
    • 3.2. Thách thức của ASEAN trong quan hệ hợp tác ASEAN – EU (40)
    • 3.3. Triển vọng phát triển của quan hệ hợp tác ASEAN – EU (41)
  • KẾT LUẬN (42)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (44)

Nội dung

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ ASEAN VÀ EU 1.1. Khái quát về ASEAN 2 1.2. Khái quát về EU 3 1.3. Sự hình thành và phát triển quan hệ ASEAN – EU 3 1.4. Một số cột mốc quan trọng trong quan hệ ASEAN – EU 6 CHƯƠNG 2. HỢP TÁC ASEAN – EU TRÊN CÁC PHƯƠNG DIỆN 2.1. Hợp tác Văn hóa – xã hội 7 2.2. Hợp tác Kinh tế 10 2.3. Hợp tác Chính trị 22 2.4. Hợp tác Quân sự 25 CHƯƠNG 3. THÁCH THỨC VÀ TRIỂN VỌNG TRONG QUAN HỆ HỢP TÁC ASEAN – EU 3.1. Thách thức chung 31 3.2. Thách thức của ASEAN trong quan hệ hợp tác ASEAN – EU 31 3.3. Triển vọng phát triển của quan hệ hợp tác ASEAN – EU 32 KẾT LUẬN 33 TÀI LIỆU THAM KHẢO 35 LỜI MỞ ĐẦU Bài tiểu luận của nhóm về “ Quan hệ quốc tế giữa ASEAN và EU” được hình thành và thực hiện bởi những lý do chính sau: Về tính cấp thiết, ASEAN và EU là hai hình mẫu hội nhập khu vực nổi bật nhất hiện nay. Tuy sự chênh lệch giữa hai khối là không hề nhỏ nhưng cả hai đều đã và đang đối mặt với những thách thức chung trong thế kỷ 21. Vì vậy, thông qua sự hợp tác này có thể học hỏi kinh nghiệm của nhau để giải quyết hiệu quả hơn những thách thức ở cấp độ quốc gia, khu vực và toàn cầu. Về ý nghĩa thực tiễn, trong khi EU là một trong ba nền kinh tế lớn nhất thế giới và ngày càng có ảnh hưởng trong quan hệ quốc tế thì ASEAN lại nổi lên tại châu Á với sự tăng trưởng nhanh chóng. Không những thế, ASEAN còn có vị trí chiến lược chủ chốt ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Do đó, ASEAN và EU đã trở thành đối tác quan trọng của nhau, cùng nhau trở thành cầu nối Đông Tây trên nhiều lĩnh vực, bình diện song phương và đa phương. Về ý nghĩa khoa học, làm rõ mối quan hệ hợp tác ASEAN EU, chỉ ra được sự phụ thuộc lẫn nhau của hai khối, mặc dù tồn tại sự khác biệt về trình độ nhưng lại sở hữu tiềm năng phát triển vô cùng to lớn. Để cùng tồn tại và phát triển, mỗi quốc gia trong ASEAN và EU cần phải tích cực đẩy mạnh các mối quan hệ. Mở rộng quan hệ hợp tác không chỉ giúp cho các nước, các tổ chức và các khu vực hiểu biết lẫn nhau mà còn thúc đẩy kinh tế phát triển, lấp chỗ trống trong sự thiếu hụt về nguồn lực. Bất chấp khoảng cách về vị trí địa lý, sự khác biệt về văn hoá xã hội, con người cũng như trình độ phát triển kinh tế, EU ngày càng đẩy nhanh quá trình hợp tác với các quốc gia ở Đông Nam Á. Và trong lịch sử hơn 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, hai tổ chức này đã đạt được nhiều thành tựu trên mọi lĩnh vực.   CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ ASEAN VÀ EU 1.1. Khái quát về ASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast Asian Nations ASEAN) được thành lập ngày 881967 bởi Tuyên bố Bangkok, Thái Lan, đánh dấu một mốc quan trọng trong tiến trình phát triển của khu vực. Khi mới thành lập ASEAN gồm năm nước là Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan. Năm 1984, ASEAN kết nạp thêm Brunei Darussalam làm thành viên thứ 6. Ngày 2871995, Việt Nam trở thành thành viên thứ 7 của ASEAN. Ngày 2371997, kết nạp Lào và Myanmar. Ngày 3041999, Campuchia trở thành thành viên thứ 10 của ASEAN, hoàn thành ý tưởng về một ASEAN bao gồm tất cả các quốc gia Đông Nam Á, một ASEAN của Đông Nam Á và vì Đông Nam Á. Các nước ASEAN (trừ Thái Lan) đều trải qua giai đoạn lịch sử là thuộc địa của các nước phương Tây và giành được độc lập vào các thời điểm khác nhau sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Mặc dù ở trong cùng một khu vực địa lý, song các nước ASEAN rất khác nhau về chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo và văn hoá, tạo thành một sự đa dạng cho Hiệp hội. ASEAN có diện tích hơn 4.5 triệu km2 với dân số khoảng 575 triệu người; GDP khoảng 1281 tỷ đô la Mỹ và tổng kim ngạch xuất khẩu 750 tỷ USD. Các nước ASEAN có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và hiện nay đang đứng hàng đầu thế giới về cung cấp một số nguyên liệu cơ bản như: cao su (90% sản lượng cao su thế giới); thiếc và dầu thực vật (90%), gỗ xẻ (60%), gỗ súc (50%), cũng như gạo, đường dầu thô, dứa... Công nghiệp của các nước thành viên ASEAN cũng đang trên đà phát triển, đặc biệt trong các lĩnh vực: dệt, hàng điện tử, hàng dầu, các loại hàng tiêu dùng. Những sản phẩm này được xuất khẩu với khối lượng lớn và đang thâm nhập một cách nhânh chóng vào các thị trường thế giới. ASEAN là khu vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao so với các khu vực khác trên thế giới, và được coi là tổ chức khu vực thành công nhất của các nước đang phát triển. Tuy nhiên mức độ phát triển kinh tế giữa các nước ASEAN không đồng đều. Myanmar hiện là nước có thu nhập quốc dân tính theo đầu người thấp nhất trong ASEAN, chỉ vào khoảng hơn 200 đôla Mỹ. Indonesia là nước đứng đầu về diện tích và dân số trong ASEAN, nhưng thu nhập quốc dân tính theo đầu người chỉ vào khoảng trên 600 đôla Mỹ. Trong khi đó, Singapore và Brunei là hai quốc gia nhỏ nhất về diện tích

KHÁI QUÁT VỀ ASEAN VÀ EU 1.1 Khái quát về ASEAN

Khái quát về EU

Liên minh châu Âu (EU) là một tổ chức liên chính phủ của các quốc gia châu Âu, được hình thành dựa trên ba yếu tố chính: Liên minh kinh tế và tiền tệ (EMU), sự mở rộng hợp tác chính trị trong việc hoạch định và thực hiện chính sách đối ngoại cũng như an ninh chung, và sự hợp tác chặt chẽ hơn trong lĩnh vực tư pháp và nội vụ.

Từ 6 thành viên ban đầu, hiện nay có 28 quốc gia thành viên EU được thành lập với tên gọi hiện nay theo Hiệp ước về Liên minh châu Âu được ký năm 1992, thường gọi là Hiệp ước Maastricht Tuy nhiên, nhiều phương diện của Liên minh châu Âu đã có từ trước, kể từ thập niên 1950, thông qua một loạt các tổ chức tiền thân Liên minh châu Âu (EU) có trụ sở đặt tại thủ đô Brussels của Bỉ Trước ngày 1 tháng 11 năm 1993 tổ chức này được gọi là Cộng đồng Châu Âu (EC)

Năm 1986, Đạo luật về một Châu Âu thống nhất (SEA) được ban hành, tạo nền tảng cho một thị trường Châu Âu thống nhất Đến năm 1993, Liên minh Châu Âu chính thức ra đời với thị trường thống nhất Năm 1999, Liên minh kinh tế và tiền tệ (EMU) được thành lập, dẫn đến việc ra mắt đồng Euro vào đầu năm 2002, được sử dụng tại 12 quốc gia thành viên EU EU đã trở thành một mô hình liên kết khu vực mạnh mẽ với số lượng thành viên đông đảo, góp phần nâng cao tiếng nói của khu vực trên trường quốc tế.

Sự hình thành và phát triển quan hệ ASEAN – EU

1.3.1 Bối cảnh lịch sử

Sau Chiến tranh Thế giới thứ II, sự quan tâm toàn cầu đối với khu vực Đông Nam Á gia tăng thông qua các sách báo và ấn phẩm Mặc dù các nước EU đã có quan hệ kinh tế với ASEAN trước khi hai cộng đồng được thành lập, nhưng sau chiến tranh, ASEAN không nhận được sự chú ý đáng kể từ EU do ưu tiên của họ chủ yếu tập trung vào các khu vực như Địa Trung Hải, Châu Phi và Mỹ Latinh Trong thời kỳ này, EU chủ yếu quan tâm đến các nước phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ và Brazil Đặc biệt trong thời kỳ chiến tranh lạnh, các nước ASEAN đang trong quá trình công nghiệp hóa và chủ yếu tập trung vào việc giải quyết bất đồng, xung đột mà chưa có chính sách cụ thể đối với thị trường EU.

Sau chiến tranh lạnh, Liên minh Châu Âu (EU) đã định hướng và triển khai các chính sách mới nhằm tăng cường hợp tác với các quốc gia Đông Nam Á EU nhanh chóng thúc đẩy quan hệ đối tác với ASEAN, với Cộng đồng kinh tế Châu Âu (EEC) là tổ chức đầu tiên thiết lập quan hệ chính thức với ASEAN vào năm 1972, đồng thời thành lập Ủy ban phối hợp đặc biệt của ASEAN (SCCAN).

Cả ASEAN và EU đều thu được lợi ích cụ thể từ sự hợp tác, đặc biệt khi ASEAN phụ thuộc vào các thị trường bên ngoài Trong bối cảnh công nghiệp hóa và đẩy mạnh xuất khẩu từ những năm 70 đến 80, ASEAN cần thị trường, đầu tư và công nghệ từ bên ngoài, dẫn đến việc thiết lập cơ chế đối thoại với các đối tác lớn, trong đó EU là một trong ba đối tác hàng đầu và là nhà đầu tư lớn nhất ASEAN tin rằng một thị trường Châu Âu thống nhất sẽ thúc đẩy tự do lưu thông hàng hóa, dịch vụ, lao động và vốn, tạo ra nhu cầu nhập khẩu lớn Đối với EU, Đông Nam Á cung cấp nhiều sản phẩm quan trọng và sau thời kỳ thực dân, mối quan hệ thương mại và đầu tư với khu vực này vẫn được duy trì chặt chẽ EU cũng đánh giá cao những thành tựu công nghiệp hóa của ASEAN trong thập niên 70 và 80, và vào những năm 90, cùng với quá trình nhất thể hóa, ASEAN trở thành một trong những đối tác triển vọng nhất của EU, đóng vai trò quan trọng trong thị trường hàng hóa châu Á.

Thời kỳ này, quan hệ giữa EU và ASEAN chưa được thiết lập chính thức, chủ yếu diễn ra qua các mối quan hệ song phương giữa các nước thành viên EU tập trung vào việc liên kết và ổn định nội bộ, đồng thời kết nạp thêm thành viên mới để tăng uy tín của cộng đồng và phát triển kinh tế Trong chính sách đối ngoại, EU chú trọng đến các cường quốc như Mỹ, Nhật Bản và các nước trong khu vực.

EU là Trung Cận Đông, Châu Phi, trung Mĩ, Caribbean.

Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Đông Nam Á trở thành điểm nóng, nhưng các nước ASEAN vẫn ở giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, dẫn đến việc khu vực này chưa thu hút được sự chú ý của EU Hoạt động chính của ASEAN chủ yếu tập trung vào việc giải quyết các bất đồng và xung đột giữa các quốc gia thành viên nhằm tìm kiếm sự đồng thuận về chính trị và khả năng hợp tác Vì vậy, ASEAN vẫn chưa có chính sách cụ thể nào đối với EU, một thị trường còn mới mẻ đối với khu vực này.

Giai đoạn mở đầu mối quan hệ ASEAN - EU đánh dấu sự nỗ lực của hai nhóm cộng đồng trong việc thiết lập các tuyên bố và tổ chức nhằm tăng cường sự gần gũi Ủy ban phối hợp đặc biệt của ASEAN (SCCAN) được thành lập, chính thức khởi động mối quan hệ này Cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa hai bên diễn ra vào tháng 11-1972 tại Brussels, và năm 1975, nhóm nghiên cứu hỗn hợp (JSG) được thành lập để thúc đẩy quan hệ EU trở thành đối tác đối thoại của ASEAN vào năm 1977, và hợp tác chính trị chính thức lần đầu tiên được ghi nhận trong Tuyên bố chung ASEAN-EC vào năm 1978.

Vào những năm 70 và 80, ASEAN chủ yếu phụ thuộc vào các thị trường ngoài khu vực và tập trung vào công nghiệp hóa, xuất khẩu Hiệp định hợp tác giữa ASEAN và EC, ký tại Kuala Lumpur vào ngày 7/3/1980, đánh dấu sự khởi đầu cho việc tăng cường hợp tác giữa hai cộng đồng nhằm phát triển quan hệ văn hóa, xã hội, kinh tế và thương mại trên cơ sở lợi ích chung EU đã hỗ trợ ASEAN về tài chính, kỹ thuật và cung cấp viện trợ cho các lĩnh vực khoa học, văn hóa – xã hội và phát triển nguồn nhân lực Thông qua hiệp định này, ASEAN hy vọng có cơ sở pháp lý để giảm nhẹ tác động của các chính sách bảo hộ mậu dịch của EU, đặc biệt là chính sách nông nghiệp chung (CAP).

Vào ngày 14 tháng 7 năm 1994, Liên minh Châu Âu (EU) đã thông qua tài liệu mang tên “Tiến tới một chiến lược mới đối với Châu Á” Tài liệu này đã xác định các phương hướng hợp tác và chính sách quan hệ trong tương lai, đồng thời giới thiệu tiềm năng và hình ảnh thị trường phát triển của Đông Nam Á.

EU đã cung cấp nhiều nguồn viện trợ phát triển cho ASEAN và hưởng các ưu đãi từ hệ thống GSP Đối với EU, ASEAN là một thị trường quan trọng, nơi tiêu thụ hàng hóa xuất khẩu từ các quốc gia thành viên.

1.4 Một số cột mốc quan trọng trong quan hệ ASEAN – EU

Tháng 11-1972 diễn ra cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa hai nhóm nước ở cấp đại sứ tại Brussels (Bỉ).

Năm 1977, ASEAN thiết lập cơ chế đối thoại với các đối tác lớn trên toàn cầu Đến ngày 7 tháng 3 năm 1980, Hiệp định hợp tác giữa các quốc gia thành viên ASEAN và Cộng đồng Châu Âu (EC) đã được ký kết tại Kuala Lumpur.

Ngày 14/7/1994, EU đã thông qua văn kiện “Tiến tới một chiến lược mới đối với Châu Á”.

Năm 2007, Tuyên bố Nuremberg đã được thông qua, thể hiện cam kết mạnh mẽ trong việc tăng cường hợp tác chính trị và thúc đẩy quan hệ kinh tế giữa ASEAN và EU.

Năm 2012, Liên minh châu Âu (EU) đã trở thành tổ chức khu vực đầu tiên tham gia Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á (TAC), nhằm thúc đẩy hòa bình, an ninh và ổn định cho khu vực.

Năm 2017 đánh dấu kỷ niệm 40 năm kể từ khi thiết lập quan hệ đối thoại ASEAN

- EU, 50 năm kể từ khi thành lập ASEAN và 60 năm kể từ khi thành lập EEC – tiền thân của EU.

Tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 52 diễn ra ở Bangkok vào ngày 1/8/2019, ASEAN và EU đã cam kết nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược, đồng thời tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực an ninh mạng, an ninh biển, biến đổi khí hậu và phát triển bền vững Hai bên cũng ghi nhận việc EU đã phê chuẩn Hiệp định thương mại tự do với Singapore và ký kết FTA với Việt Nam.

Một số cột mốc quan trọng trong quan hệ ASEAN – EU

HỢP TÁC ASEAN – EU TRÊN CÁC PHƯƠNG DIỆN 2.1 Hợp tác Văn hóa – xã hội

Hợp tác Kinh tế

2.2.1 Bối cảnh và tiềm năng kinh tế của ASEAN

ASEAN hiện là nền kinh tế lớn thứ năm thế giới với GDP đạt khoảng 3 nghìn tỷ USD vào năm 2018 và dự kiến sẽ trở thành nền kinh tế lớn thứ tư vào năm 2030, chỉ sau Trung Quốc, Mỹ và EU Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) được thành lập vào ngày 31 tháng 12 năm 2015, là một trong ba trụ cột của ASEAN, cùng với Cộng đồng An ninh ASEAN và Cộng đồng Văn hóa - Xã hội ASEAN, nhằm thực hiện Tầm nhìn ASEAN 2020 Mục tiêu của AEC là tạo ra một khu vực kinh tế ổn định, thịnh vượng và cạnh tranh, nơi hàng hóa, dịch vụ và đầu tư được lưu chuyển tự do, đồng thời giảm bớt đói nghèo và chênh lệch kinh tế - xã hội Tuy nhiên, AEC vẫn chưa thể coi là một cộng đồng kinh tế gắn kết như EEC do thiếu cơ cấu tổ chức chặt chẽ và cam kết ràng buộc cụ thể.

Theo cam kết của Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA), các nước ASEAN đã tiến gần đến mục tiêu xóa bỏ hoàn toàn hàng rào thuế quan, với 99,2% số dòng thuế của ASEAN 6 được xóa bỏ và 90,9% số dòng thuế của các nước gia nhập sau như Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam tính đến năm 2017 Dự kiến, tỷ lệ xóa bỏ thuế quan trong toàn ASEAN sẽ đạt 98,67% vào cuối năm 2018 Bên cạnh việc tự do hóa thuế quan, các nước ASEAN cũng triển khai các biện pháp tạo thuận lợi cho thương mại như cơ chế tự chứng nhận xuất xứ, hải quan một cửa và các thỏa thuận công nhận lẫn nhau (MRA) về tiêu chuẩn trong nhiều lĩnh vực Việt Nam và các nước ASEAN đã thực thi MRA về điện và điện tử, cũng như ký kết MRA về nghiên cứu sinh học và an toàn thực phẩm nhằm tạo ra một khu vực sản xuất thống nhất trong ASEAN.

Tự do hóa thương mại dịch vụ là một trong những ưu tiên hàng đầu trong Cộng đồng Kinh tế ASEAN Quá trình này được triển khai giữa các quốc gia ASEAN theo Hiệp định khung ASEAN, nhằm thúc đẩy sự phát triển và hội nhập kinh tế trong khu vực.

Theo cơ chế tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa (hệ thống REX), doanh nghiệp và nhà nhập khẩu sẽ chịu trách nhiệm chứng nhận nguồn gốc xuất xứ, thay vì các cơ quan chuyên trách Điều này yêu cầu họ tự thực hiện các thủ tục và đảm bảo đáp ứng các tiêu chuẩn về nguồn gốc xuất xứ, đồng thời tự chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin.

Cơ chế hải quan một cửa cho phép người khai hải quan gửi thông tin và chứng từ điện tử để thực hiện thủ tục hải quan liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua một hệ thống thông tin tích hợp Cơ quan quản lý nhà nước sẽ quyết định cho phép hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và quá cảnh, trong khi cơ quan hải quan sẽ thực hiện việc thông quan và giải phóng hàng hóa trên hệ thống này.

Ba Thoả thuận công nhận lẫn nhau (MRA) hỗ trợ thương mại dịch vụ bằng cách công nhận lẫn nhau các giấy phép và chứng nhận trình độ của các nhà cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp giữa các quốc gia tham gia MRA giúp tăng cường sự di chuyển của các chuyên gia nước ngoài bằng cách đơn giản hóa thủ tục xin giấy phép cung cấp dịch vụ tại nước khác Đặc biệt, Hiệp định về Thương mại Dịch vụ ASEAN (AFAS), được ký kết vào năm 1995, vẫn đang được đàm phán để dần dần tự do hóa thương mại dịch vụ trong khu vực ASEAN.

Trước sự cạnh tranh mạnh mẽ trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ các nước đang phát triển, vào ngày 15/12/1995, ASEAN đã thành lập Khu vực Đầu tư ASEAN (AIA) tại Thái Lan nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh và thu hút vốn đầu tư Với nguồn lao động trẻ và dồi dào, AIA cùng với Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA) đã được thực thi Đến năm 2017, các nước ASEAN đã ký kết Nghị định thư thứ hai sửa đổi ACIA và đang tiến tới hoàn thành Nghị định thư thứ ba để thúc đẩy luồng đầu tư trong khu vực Đông Nam Á.

2.2.2 Bối cảnh và tiềm năng kinh tế của EU

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), EU là cường quốc kinh tế lớn thứ hai thế giới với GDP khoảng 17.300 tỷ USD vào năm 2017 Năm 2018, EU tiếp tục giữ vị trí này, chiếm 22,1% GDP toàn cầu, chỉ sau Mỹ (24,2%) và trước Trung Quốc (15,8%) cùng Nhật Bản (5,9%).

Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, EU đã trải qua nhiều giai đoạn suy thoái nhưng đã phục hồi và đạt mức tăng trưởng GDP ít nhất 2%/năm từ năm 2013 Đặc biệt, vào năm 2017, GDP của tất cả các quốc gia EU lần đầu tiên tăng trưởng trở lại Cuộc khủng hoảng cũng dẫn đến sự gia tăng thâm hụt ngân sách và nợ công, nhất là trong khu vực Eurozone, nhưng các vấn đề này đã được cải thiện rõ rệt Đến quý II/2018, thâm hụt ngân sách của Eurozone chỉ còn 0,1% GDP và nợ quốc gia ở mức 86% GDP Tỷ lệ thất nghiệp đã giảm từ mức cao trong thời kỳ khủng hoảng xuống còn 6,6% vào tháng 1/2019.

Khu vực đồng euro là một liên minh tiền tệ bao gồm 19 trong số 28 quốc gia thành viên Liên minh châu Âu (EU) sử dụng đồng euro làm tiền tệ chung Các quốc gia này bao gồm Áo, Bỉ, Cộng hòa Síp, Estonia, Phần Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Ireland, Ý, Latvia, Litva, Luxembourg và Malta Trong khi đó, chín thành viên khác của EU vẫn duy trì đồng tiền quốc gia của mình, mặc dù họ có nghĩa vụ chấp nhận đồng euro trong tương lai.

Hà Lan, Bồ Đào Nha, Slovakia, Slovenia và Tây Ban Nha.

Nợ quốc gia là tổng số tiền mà chính phủ một quốc gia vay mượn từ các chủ nợ trong và ngoài nước Tình trạng nợ quốc gia xảy ra khi chính phủ chi tiêu vượt quá số tiền thu được từ thuế và các nguồn thu khác, dẫn đến thâm hụt ngân sách.

Liên minh Châu Âu (EU) hiện chiếm 7,9% GDP trong khu vực Eurozone và là cường quốc thương mại lớn nhất thế giới Thương mại của EU với các quốc gia khác đóng góp 15% vào tổng giá trị trao đổi thương mại toàn cầu.

EU đang khai thác tiềm năng tăng trưởng kinh tế bằng cách mở ra cơ hội thị trường mới cho doanh nghiệp châu Âu ở nước ngoài Một phần lớn tiềm năng này nằm ở các khu vực phát triển nhanh như Đông Nam Á Việc tự do hóa thị trường với ASEAN có thể cải thiện quan hệ thương mại và đầu tư giữa EU và các đối tác ASEAN, đồng thời thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho từng quốc gia trong khu vực.

2.2.3 Đối tác về kinh tế, thương mại và đầu tư

ASEAN và EU là hai tổ chức khu vực đầy tham vọng, có sự năng động và mục tiêu riêng, tạo nên mối quan hệ đối tác tự nhiên với nhiều cơ hội chia sẻ và học hỏi EU mong muốn tăng cường quan hệ với ASEAN vì tin rằng ASEAN sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển một thị trường tích hợp lớn hơn và kết nối Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) với phần còn lại của thế giới Điều này không chỉ góp phần vào sự thịnh vượng mà còn đảm bảo ổn định ở châu Á Vì vậy, EU đã trở thành một đối tác phát triển lớn của ASEAN, hỗ trợ trong nhiều lĩnh vực hợp tác, đặc biệt là thương mại và kinh tế.

EU là đối tác thương mại lớn thứ hai của ASEAN, chỉ sau Trung Quốc, trong khi ASEAN là đối tác thương mại lớn thứ ba của EU, sau Mỹ và Trung Quốc Đặc biệt, EU đứng đầu về đầu tư trực tiếp vào ASEAN, chiếm một phần tư tổng số cổ phiếu FDI trong khu vực Sự ký kết các Hiệp định thương mại tự do quan trọng giữa EU và các nước ASEAN sẽ tiếp tục mở ra tiềm năng to lớn cho cả hai bên.

• Các đối tác chính về xuất khẩu và nhập khẩu của ASEAN năm 2018

Hợp tác Chính trị

Trong năm 2012 và 2013, các quan chức cấp cao của EU đã thực hiện nhiều chuyến thăm chưa từng có tới ASEAN và các quốc gia thành viên, bao gồm Chủ tịch Hội đồng châu Âu Herman Van Rompuy, Chủ tịch EC Jose Manuel Barroso, và đại diện cấp cao về chính sách đối ngoại và an ninh Catherine Ashton Sự gia tăng rõ rệt trong các chuyến thăm của các quốc gia thành viên EU cũng được ghi nhận trong giai đoạn này.

7 năm 2012, đại diện cấp cao Ashton đã ký kết việc EU gia nhập Hiệp ước Thân thiện và

EU là một thành viên tích cực trong Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) và đã cùng Myanmar đồng chủ trì Nhóm hỗ trợ liên ngành của ARF Nhóm này tập trung vào các biện pháp xây dựng lòng tin và tổ chức Đối thoại giữa các quan chức quốc phòng liên quan, diễn ra vào năm 2013.

Vào năm 2014, đại diện cấp cao Ashton đã tham dự Hội nghị Diễn đàn khu vực ASEAN ở cấp Bộ trưởng, tiếp tục mối quan hệ giữa EU và ASEAN Hai bên đã tăng cường đối thoại về quyền con người, với cuộc gặp giữa Đại diện đặc biệt của EU về Nhân quyền Stavros Lambrinidis và Ủy ban Nhân quyền Liên Chính phủ ASEAN vào tháng 5 năm 2013 Ủy ban này dự kiến sẽ sớm thăm các tổ chức EU trong chuyến thăm thứ hai của họ Đồng thời, đối thoại và hợp tác cũng đã được khởi động trong một số lĩnh vực liên quan đến an ninh.

Trong những năm qua, EU đã tích cực tham gia vào Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) nhằm thúc đẩy hòa bình và an ninh qua đối thoại và hợp tác ở châu Á Thái Bình Dương EU đã chủ trì nhiều cuộc họp với ASEAN như AEMM, PCMs, ISMs, góp phần vào việc tăng cường đối thoại và trao đổi quan điểm về các vấn đề khu vực và quốc tế Mối quan hệ hợp tác EU – ASEAN đạt được cột mốc quan trọng với Tuyên bố Nuremberg năm 2007, nâng cao quan hệ đối tác giữa hai khu vực EU cũng gia nhập Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC) và thể hiện cam kết trong lĩnh vực an ninh thông qua Tuyên bố hợp tác chống khủng bố năm 2003 Hai bên đang thực hiện chương trình hợp tác 3 năm (2008 – 2011) về di cư và quản lý biên giới, khẳng định sự hợp tác chặt chẽ trong ứng phó với thách thức của khủng bố quốc tế.

Từ ngày 4 đến 6 tháng 5 năm 2015, Đối thoại cấp cao ASEAN - EU về Hợp tác an ninh trên biển lần thứ 2 đã diễn ra tại Kuala Lumpur, nhằm mục tiêu tăng cường sự phối hợp và hợp tác giữa ASEAN và EU trong lĩnh vực an ninh biển.

Cuộc đối thoại giữa Bộ Ngoại giao Malaysia và Cơ quan Hành động đối ngoại châu Âu, do Viện Biển của Malaysia (MIMA) chủ trì, đã thu hút hơn 100 đại biểu từ các nước ASEAN và EU với chủ đề ''Phát triển hợp tác trong khu vực và liên ngành nhằm tăng cường an ninh trên biển'' Đoàn Việt Nam do Đại sứ Phạm Cao Phong dẫn đầu đã thảo luận về khuôn khổ hợp tác trong phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, chia sẻ thông tin và kỹ thuật để đảm bảo an ninh biển, cũng như xây dựng cơ chế hợp tác khu vực dựa trên luật lệ Các đại biểu nhấn mạnh tầm quan trọng của Đối thoại cấp cao giữa ASEAN và EU như một chất xúc tác cho các hoạt động cụ thể trong tương lai, đồng thời đề cập đến vấn đề an ninh ở Biển Đông và đưa ra khuyến nghị nhằm giải quyết tranh chấp và đảm bảo hòa bình trong khu vực.

Kể từ khi bắt đầu tiến trình đổi mới, Việt Nam đã tái định hình quan hệ đối ngoại, đặc biệt là qua việc gia nhập ASEAN vào năm 1995, từ đó đóng vai trò tích cực trong việc thúc đẩy sự đoàn kết và hợp tác trong khu vực Năm 2015, EU đã đề xuất nâng cấp quan hệ đối tác với ASEAN, nhằm tạo ra một khuôn khổ hợp tác chặt chẽ hơn và tăng cường hợp tác chính trị Là một thành viên tích cực trong ASEAN, Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển quan hệ đối tác giữa ASEAN và EU thông qua các cơ chế như Sáng kiến Thương mại Liên Khu vực EU-ASEAN (TREATI) và Công cụ Đối thoại Khu vực EU-ASEAN (READI) Thêm vào đó, Việt Nam là thành viên sáng lập Hội Nghị Á-Âu (ASEM) từ năm 1996, nhằm tăng cường mối quan hệ giữa hai khu vực thông qua đối thoại chính trị, hợp tác kinh tế và các lĩnh vực xã hội, văn hóa.

Ngày 17-07-1995, Hiệp định khung về quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Ủy ban Châu Âu (EC) ký kết có hiệu lực vào ngày 01-06-1996, cung cấp cơ sở pháp lý cho quan hệ song phương với các mục tiêu:

- Tăng cường đầu tư và thương mại song phương

- Hỗ trợ phát triển kinh tế lâu dài của Việt Nam và cải thiện các điều kiện sống cho người nghèo;

- Hỗ trợ những nỗ lực của Việt Nam trong việc cơ cấu lại nền kinh tế và tiến tới một nền kinh tế thị trường

Hiệp định hợp tác và đối tác toàn diện Việt Nam – EU (PCA), ký kết vào ngày 27/6/2012, thiết lập một khuôn khổ mới, dài hạn và toàn diện cho quan hệ giữa Việt Nam và EU Hiệp định này phù hợp với các ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội và đối ngoại của cả hai bên, đồng thời phản ánh xu thế chung về hợp tác và phát triển toàn cầu Các thỏa thuận trong PCA đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra các cơ chế hợp tác cụ thể, góp phần tăng cường quan hệ đối tác và hợp tác song phương trong tương lai.

Vào tháng 7/2012, đại diện cấp cao Ashton đã ký kết việc EU gia nhập Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác của ASEAN (TAC) Ngày 2/11/2019, Đức chính thức gia nhập Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác tại Đông Nam Á, tiếp nối sự gia nhập của Liên minh Châu Âu Đức cam kết tạo ra sức mạnh tổng hợp trong hợp tác với các đối tác ASEAN và coi ASEAN là một đối tác an ninh quan trọng Từ 1/1/2020, Việt Nam đảm nhận chức Chủ tịch ASEAN, trong khi Đức sẽ trở thành Chủ tịch EU vào cuối năm 2020.

Trong năm 2020, Đức và Việt Nam sẽ cùng đảm nhiệm vị trí Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, từ đó hai nước sẽ nỗ lực thúc đẩy quan hệ giữa EU và ASEAN theo hướng chiến lược.

Hợp tác Quân sự

2.3.1 Bối cảnh lịch sử

Người châu Âu lần đầu tiên đặt chân đến Đông Nam Á vào thế kỷ 16, với động cơ chính là lợi nhuận thương mại Các nhà truyền giáo cũng theo chân họ để phổ biến Thiên chúa giáo trong khu vực Sự quản lý thuộc địa đã để lại ảnh hưởng sâu sắc, khi các cường quốc chiếm đoạt tài nguyên và thị trường rộng lớn của Đông Nam Á, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của khu vực theo nhiều cách khác nhau Các định chế như nhà nước kiểu nhà nước quan liêu, toà án, phương tiện truyền thông in ấn, và giáo dục hiện đại đã tạo nền tảng cho các phong trào quốc gia tại các lãnh thổ thuộc địa.

Indonesia tuyên bố độc lập vào ngày 17/8/1945 và đã phải chiến đấu quyết liệt chống lại sự trở lại của người Hà Lan Năm 1946, Philippines giành lại độc lập, trong khi Miến Điện đạt được độc lập từ Anh vào năm 1948 Năm 1954, Pháp bị đánh bại tại Đông Dương sau cuộc chiến khốc liệt với các phong trào dân tộc ở Việt Nam Liên hiệp quốc, mới được thành lập, đã trở thành diễn đàn cho các yêu cầu của những người theo chủ nghĩa quốc gia và các quốc gia mới đòi độc lập.

Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, việc chống lại chủ nghĩa cộng sản đã thúc đẩy quá trình phi thực dân hóa ở Đông Nam Á Sau khi dập tắt cuộc nổi dậy trong tình trạng khẩn cấp tại Malaya (1948-1960), Anh Quốc đã trao độc lập cho Malaya và các quốc gia như Singapore, Sabah, và Sarawak vào năm 1957 và 1963 trong khuôn khổ Liên bang Malaysia Sự can thiệp của Hoa Kỳ chống lại lực lượng cộng sản đã dẫn đến cuộc chiến kéo dài ở Việt Nam, Lào và Campuchia nhằm giành lại độc lập Năm 1975, sự cai trị của Bồ Đào Nha ở Đông Timor kết thúc, nhưng Đông Timor chỉ tồn tại độc lập ngắn ngủi trước khi bị Indonesia sáp nhập Cuối cùng, vào năm 1984, Anh Quốc chấm dứt sự bảo hộ đối với Brunei, đánh dấu sự kết thúc của thời kỳ cai trị châu Âu ở Đông Nam Á.

2.3.2 Sức mạnh quân sự của các nước Đông Nam Á

Sau khi giành độc lập vào năm 1949, Indonesia trở thành quốc gia Hồi giáo đông dân nhất thế giới với hơn 260 triệu dân GDP của nước này đạt 861,9 tỷ USD vào năm 2015, phản ánh sự phát triển kinh tế đáng kể Indonesia sở hữu quân đội lớn nhất khu vực với 476.000 quân nhân, trong đó có 300.000 lính lục quân Hải quân Indonesia mạnh mẽ với nhiều tàu hộ vệ và tàu tên lửa, sẵn sàng tái xây dựng lực lượng tàu ngầm Ngành công nghiệp vũ khí của Indonesia sản xuất vũ khí loại nhỏ và xe thiết giáp, đồng thời có khả năng lắp ráp khung máy bay và chiến hạm nhỏ Ngân sách quốc phòng của Jakarta là 8 tỷ USD, và nếu đầu tư 2,5% GDP cho quốc phòng, Indonesia có thể tiến tới vị thế cường quốc hàng đầu khu vực.

Kể từ khi giành độc lập vào năm 1957, Malaysia đã duy trì một nền hòa bình ổn định trong khu vực đầy căng thẳng, với GDP hiện đạt 296 tỷ USD nhờ vào nguồn tài nguyên phong phú và xuất khẩu năng lượng Mặc dù là một trong những quốc gia ổn định nhất trong ASEAN, Malaysia vẫn chú trọng đến vấn đề an ninh với ngân sách quốc phòng năm 2017 lên tới 3,6 tỷ USD, cao hơn Myanmar và Philippines Lực lượng vũ trang Malaysia gồm 110.000 quân và 300.000 quân dự bị, với không quân và hải quân được trang bị hiện đại, bao gồm các loại chiến đấu cơ như Hawk, F-5 Tiger, F/A-18D và Su-30 Malaysia cũng sở hữu một nền công nghiệp quốc phòng phát triển và lĩnh vực hàng không vũ trụ đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, với nhiều công ty chuyên bảo trì và sửa chữa máy bay dân sự và quân sự.

Myanmar giành độc lập vào năm 1947 và trải qua nội chiến kéo dài đến nay, trở thành quốc gia nghèo nhất Đông Nam Á khi gia nhập ASEAN năm 1997 Hiện tại, Myanmar đang trong quá trình chuyển đổi chính trị và kinh tế, với GDP đạt 60 tỷ USD Quân đội Myanmar có khoảng 250.000 đến 400.000 quân nhân, với ngân sách quốc phòng hàng năm 3 tỷ USD vào năm 2017 Ngành công nghiệp vũ khí Myanmar bắt đầu từ thập niên 1960, nhưng chỉ phát triển mạnh mẽ từ thập niên 1990 nhờ sự hỗ trợ từ Israel và Singapore trong sản xuất vũ khí nhỏ và đạn dược Các nhà cung cấp vũ khí chính cho Myanmar bao gồm Trung Quốc, Nga và Ukraine, trong khi không quân nước này phụ thuộc chủ yếu vào máy bay Trung Quốc Mặc dù còn kém phát triển, Myanmar có tham vọng lớn trong lĩnh vực quốc phòng, đã học được cách sửa chữa và bảo trì phương tiện quân sự, đồng thời hướng tới phát triển ngành công nghiệp hàng không vũ trụ và đóng tàu.

Singapore, quốc gia giàu nhất Đông Nam Á, được xây dựng như một pháo đài và giành độc lập vào năm 1965 Để đảm bảo an ninh, Singapore đã thực hiện chương trình xây dựng lực lượng quân đội mạnh mẽ, khiến các nước láng giềng phải kiêng nể Israel đã đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển quân sự của Singapore, và đến nay, hai quốc gia này đã thiết lập mối quan hệ đối tác an ninh độc đáo.

Chế độ nghĩa vụ quân sự khắc nghiệt của Singapore giúp huy động lực lượng cho quân đội, cơ quan tình trạng khẩn cấp và thực thi pháp luật, với khả năng tổng động viên gần 1 triệu công dân trong trường hợp khủng hoảng Quân đội Singapore (SAF) có 75.000 quân chính thức và ngân sách quốc phòng đạt 10 tỷ USD vào năm 2017 Lực lượng quân đội được trang bị hiện đại, với lục quân sở hữu hàng trăm xe thiết giáp và 196 xe tăng Leopard 2SG, không quân có 62 máy bay F-16C/D và 40 F-15SG, trong khi hải quân có tàu hộ vệ tàng hình và tàu ngầm Archer Ngành công nghiệp vũ khí của Singapore là tiên tiến nhất ASEAN, với sự phát triển của các loại vũ khí nhỏ và xe quân sự từ các công ty nhà nước như ST Engineering, cho phép xuất khẩu thiết bị quân sự ra toàn cầu.

Thái Lan, nổi bật với ngành du lịch phát triển, cũng là nơi diễn ra nhiều bất ổn chính trị, với ít nhất 14 cuộc đảo chính thành công từ đầu thế kỷ 20 Năm 2015, GDP của quốc gia này đạt 395 tỷ USD Chế độ quân chủ tại Thái Lan ưu ái lực lượng vũ trang, với quân số khoảng 310.000 người, trong đó có 190.000 binh sĩ thuộc lục quân.

2017 ở mức khá cao, tới 6,1 tỷ USD

Vịnh Thái Lan là lý do chính để Bangkok phát triển một lực lượng hải quân mạnh mẽ, bao gồm một tàu sân bay biểu tượng và nhiều tàu tuần tra nhỏ Không quân Thái Lan chủ yếu sử dụng máy bay chiến đấu một động cơ như F-16C/D và JAS 39 Gripen Với địa hình trải dài qua các cánh đồng và vùng châu thổ, lục quân Thái Lan sở hữu nhiều xe tăng hạng trung của Mỹ và Trung Quốc, cùng với một lô xe tăng T-84 từ Ukraine, tạo nên sự đa dạng cho lực lượng thiết giáp Bangkok cũng đã tăng cường hợp tác quân sự với Bắc Kinh, thể hiện nhu cầu cao về xe thiết giáp, trong khi ngành công nghiệp vũ khí Thái Lan chuyên về lắp ráp và sửa chữa các phương tiện quân sự.

Việt Nam sở hữu một lực lượng quân đội chính quy đông đảo và lực lượng dự bị mạnh mẽ, với Lục quân có đội hình thiết giáp lớn nhất ASEAN, chủ yếu là xe tăng T-54/55 và xe lội nước hạng nhẹ Sự phong phú về pháo binh cùng với việc triển khai nhiều loại vũ khí hiện đại từ Nga và Israel, như hệ thống phòng không S-300, tàu tuần tra tên lửa, tàu hộ vệ và 6 tàu ngầm lớp Kilo, tạo ra lợi thế cho Quân đội Nhân dân Việt Nam Ngoài ra, Không quân Việt Nam còn được trang bị các phi đoàn SU-30 hiện đại, góp phần bảo vệ không phận trước các cường quốc quân sự.

2.3.3 Hợp tác quân sự trong giai đoạn hiện nay

Mặc dù chiến tranh gây ra nhiều mất mát cho các quốc gia, việc hợp tác quốc phòng để tăng cường sức mạnh quân sự hiện nay là rất cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh tranh chấp Biển Đông giữa các quốc gia có chủ quyền và Trung Quốc Từ đầu năm 2019, Đức đã hợp tác chặt chẽ với Indonesia trong vai trò là hai Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, và Việt Nam cũng đang hướng tới sự hợp tác tương tự khi trở thành Ủy viên không thường trực vào đầu năm 2020 Đức ghi nhận những đóng góp quan trọng của các nước ASEAN trong các hoạt động gìn giữ hòa bình toàn cầu, với sự phối hợp chặt chẽ giữa quân đội Đức và quân đội các nước ASEAN tại nhiều khu vực khủng hoảng Ngoài ra, Đức mới được bầu vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc và sẽ tiếp tục hợp tác với Indonesia và Philippines tại đây.

Vào ngày 17/10/2019, Việt Nam và Liên minh Châu Âu đã ký kết Hiệp định khung về tham gia vào các hoạt động quản lý khủng hoảng của EU (Hiệp định FPA), đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quan hệ đối tác giữa hai bên Hiệp định này thể hiện tham vọng lớn hơn từ cả Việt Nam và EU nhằm tăng cường hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng và an ninh Thông qua việc ký kết Hiệp định FPA, Việt Nam sẽ có cơ hội tiếp cận các chương trình hỗ trợ quân sự và thông tin tình báo, đồng thời góp phần kìm bớt tham vọng của Trung Quốc trong khu vực.

Việt Nam là quốc gia thứ hai ở Châu Á ký Hiệp định FPA với Liên minh Châu Âu, chỉ sau Hàn Quốc, và là nước đầu tiên trong ASEAN Đồng thời, EU cũng đã công bố về việc hợp tác an ninh trong khuôn khổ Hội nghị.

Vào ngày 1/8/2019, Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN-EU đã diễn ra tại Bangkok, nơi EU cam kết tăng cường hợp tác an ninh với ASEAN Cụ thể, EU sẽ cử các cố vấn quân sự đến các cơ quan đại diện của tổ chức này trong khu vực, nhằm nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược Hai bên cũng nhất trí tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực an ninh mạng, quản lý biên giới, phòng chống khủng bố và tội phạm xuyên quốc gia, an ninh biển, biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

THÁCH THỨC VÀ TRIỂN VỌNG TRONG QUAN HỆ HỢP TÁC

Ngày đăng: 20/08/2021, 15:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w