1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Đắk Nông

102 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 633,83 KB

Cấu trúc

  • Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA 1. Một số khái niệm cơ bản (16)
    • 1.1. Di sản văn hóa Việt Nam (16)
    • 1.2. Di tích lịch sử văn hóa (16)
    • 1.4. Khái niệm quản lý di tích lịch sử gắn với phát triển kinh tế văn hóa xã hội (19)
      • 1.7.2. Tỉnh Lâm Đồng (0)
  • Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK NÔNG (37)
    • 2.1. Tổng quan về địa lý, lịch sử và văn hoá Đắk Nông (37)
      • 2.1.1. Địa danh và tiến trình lịch sử (37)
      • 2.1.2. Vị trí địa lý (38)
    • 2.2. Thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử ở Đắk Nông thời gian qua…31 1. Các di tích lịch sử vă hoá trên địa bàn tỉnh Đắk Nông hiện nay (39)
      • 2.2.2.1. Thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa tại tỉnh Đắk Nông (49)
      • 2.2.2.2. Thực trạng hoạt động phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa tại tỉnh Đắk Nông (51)
    • 2.3. Thực trạng công tác quản lý Nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị các (54)
    • 2.4. Các hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa ở Đắk Nông (59)
      • 2.4.1. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch, dự án bảo tồn di tích (0)
      • 2.4.2. Xây dựng kế hoạch bảo tồn di tích (0)
      • 2.4.3. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về di tích lịch sử văn hóa (62)
      • 2.4.4. Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di tích (0)
    • 2.5. Tổ chức hoạt động nghiệp vụ nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa (67)
      • 2.5.1. Hoạt động bảo tồn di tích (67)
      • 2.5.2. Hoạt động quản lý di vật, cổ vật tại các di tích (0)
      • 2.5.3. Hoạt động bảo tồn, phát huy các giá trị của di tích lịch sử gắn với du lịch (70)
      • 2.5.4. Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học về di tích (0)
      • 2.5.5. Tổ chức thanh tra, kiểm tra (0)
    • 2.6. Đánh giá những ưu điểm, hạn chế trong công tác quản lý, phát huy giá trị của các di tích lịch sử văn hóa ở Đắk Nông (75)
      • 2.6.1. Ưu điểm (75)
      • 2.6.3. Nguyên nhân của các hạn chế (79)
    • 3.1. Quan điểm tăng cường quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Đắk Nông (82)
      • 3.1.1. Thống nhất quản lý nhà n ướ c v ề di tích lịch sử - văn hóa trên đị a b à n tỉnh (83)
      • 3.1.2. Qu ả n l ý nh à nướ c v ề di t í ch l ị ch s ử văn hó a ph ải bảo tồn và phát huy đượ c c ác giá trị di tích trên đị a b àn tỉnh, phải đàm bảo tính trung thực, tính nguyên gốc của các di tích lịch sử (83)
      • 3.1.3. Qu ả n l ý nh à nướ c v ề c á c di t í ch l ị ch s ử văn hó a ph ải bảo tồn và phát (84)
      • 3.1.4. Qu ả n l ý nh à nướ c v ề c á c di t í ch l ị ch s ử văn hó a ph ải bảo tồn, phát huy đượ c c á c gi á tr ị c ủ a c ác di tích gắn với sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương (85)
    • 3.2. Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Đắk Nông (85)
      • 3.2.1. Xây dựng, thực hiện quy hoạch, kế hoạch bảo vệ, giữ gìn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa trên đị a b àn tỉnh Đắk Nông (86)
      • 3.2.2. Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về di t í ch (86)
      • 3.2.3. Ti ế p t ục tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị cá c di (87)
      • 3.2.5. Ti ế p t ục huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ, gìn giữ, phát huy giá trị di tích trên đị a b àn tỉnh (90)
      • 3.2.6. Đẩ y m ạ nh công t ác thi đua, khen thưở ng t ạo độ ng l ự c nâng cao ch ấ t lượ ng qu ả n l ý c á c di t í ch l ị ch s ử văn hóa trên đị a b àn tỉnh (91)
      • 3.2.7. Tăng cườ ng h ợ p t á c qu ố c t ế trong qu ả n l ý nh à nướ c v ề c á c di t í ch l ị ch (92)
      • 3.2.8. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lỷ vi phạm pháp luật trong quả n l ý nh à nướ c v ề c á c di t í ch l ị ch s ử văn hóa trên đị a b àn tỉnh (93)
    • 3.3. Kiến nghị (93)
      • 3.3.1. Với Trung ương (94)
      • 3.3.2. Với Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông (0)
      • 3.3.3. Đối với Sở Văn hoá – Thể thao và Du lịch (95)
      • 3.3.4. Đối với Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã (95)
  • KẾT LUẬN (98)

Nội dung

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA 1 Một số khái niệm cơ bản

Di sản văn hóa Việt Nam

- Di sản văn hóa Việt Nam

Di sản văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, bao gồm cả di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, là tài sản quý giá mang giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học Những sản phẩm tinh thần và vật chất này đã được gìn giữ và truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác, thể hiện sự đa dạng và phong phú của nền văn hóa Việt Nam.

- Di sản văn hóa vật thể

Sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học bao gồm các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia.

Di tích lịch sử văn hóa

Di sản văn hóa vật thể bao gồm các sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học Những di tích lịch sử - văn hóa này gồm các công trình xây dựng, địa điểm cùng với di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia, tất cả đều mang giá trị quan trọng về lịch sử và văn hóa.

1.2.1 Di tích lịch sử văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau

- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc địa phương.

Các công trình xây dựng và địa điểm gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp của những anh hùng dân tộc, doanh nhân, và các nhân vật lịch sử đã có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia và địa phương trong các giai đoạn lịch sử khác nhau.

- Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu.

Công trình kiến trúc nghệ thuật và quần thể kiến trúc đô thị là những biểu tượng tiêu biểu, phản ánh sự phát triển qua các giai đoạn khác nhau của nghệ thuật kiến trúc Những địa điểm cư trú này không chỉ mang giá trị văn hóa mà còn thể hiện sự sáng tạo và tinh hoa của kiến trúc trong từng thời kỳ.

1.2.2 Di tích lịch sử văn hóa là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia, bao gồm

Công trình xây dựng và địa điểm mang ý nghĩa lịch sử quan trọng không chỉ ghi dấu các sự kiện lớn của dân tộc mà còn gắn liền với những anh hùng, doanh nhân, và các nhà hoạt động chính trị, văn hóa, nghệ thuật, khoa học nổi bật Những địa điểm này đóng vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc.

Công trình kiến trúc và nghệ thuật tại Việt Nam phản ánh sự phát triển qua các giai đoạn lịch sử, bao gồm các quần thể kiến trúc và tổng thể kiến trúc đô thị Những địa điểm này không chỉ có giá trị tiêu biểu mà còn thể hiện bản sắc văn hóa và nghệ thuật độc đáo của đất nước.

Cảnh quan thiên nhiên đẹp là những địa điểm nổi bật, kết hợp hài hòa giữa vẻ đẹp tự nhiên và các công trình kiến trúc, nghệ thuật Ngoài ra, những khu vực này còn có giá trị khoa học cao về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học và hệ sinh thái đặc thù, tạo nên sự phong phú cho môi trường sống.

1.2.3 Di tích lịch sử - văn hóa được phân loại như sau

- Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia

- Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh

- Di tích lịch sử văn hóa cấp huyện

- Di tích lịch sử văn hóa cấp xã

1 3 Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa

Quản lý là quá trình tác động có kế hoạch và tổ chức nhằm điều khiển, hướng dẫn và kiểm tra các hoạt động xã hội và con người Mục tiêu của quản lý là phát triển các quá trình này theo quy luật, đạt được mục tiêu của tổ chức và phù hợp với ý chí của nhà quản lý, đồng thời tối ưu hóa chi phí.

Quản lý là hoạt động thiết yếu trong các tổ chức, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hoạt động tập thể nhằm đạt được các mục tiêu chung Sự tác động của chủ thể quản lý vào khách thể không chỉ giúp tổ chức vận hành hiệu quả mà còn phản ánh tầm quan trọng của quản lý trong đời sống xã hội Khi xã hội phát triển, vai trò và nội dung của quản lý ngày càng trở nên phức tạp hơn.

Quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể quyền lực nhà nước đến các đối tượng quản lý thông qua nhiều biện pháp, nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước Hoạt động này dựa trên các quy luật phát triển xã hội, với mục tiêu ổn định và phát triển đất nước.

Quản lý bắt nguồn từ sự phân công và hợp tác lao động, cần thiết cho việc đạt được mục tiêu chung thông qua nỗ lực tập thể Hoạt động quản lý hiện diện trong mọi tổ chức, từ quy mô nhỏ đến lớn và từ đơn giản đến phức tạp Khi trình độ xã hội hóa tăng cao, yêu cầu và vai trò của quản lý cũng trở nên quan trọng hơn Quản lý nhà nước, một dạng quản lý xã hội đặc biệt, sử dụng quyền lực nhà nước và pháp luật để điều chỉnh hành vi con người trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

11 máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội.

Quản lý nhà nước về văn hóa bao gồm các giải pháp pháp luật, thể chế, chính sách và kế hoạch nhằm quản lý các giá trị vật chất và tinh thần Điều này đảm bảo rằng các hoạt động văn hóa được thực hiện theo đúng đường lối của Đảng, đồng thời bảo vệ quyền tự do dân chủ trong sáng tạo văn hóa Qua đó, vai trò và vị trí của văn hóa trong sự phát triển của dân tộc được xác lập và củng cố.

Quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa là sự can thiệp có định hướng của các cơ quan hành chính nhằm điều chỉnh hành vi và hoạt động của cá nhân hoặc tổ chức trong lĩnh vực văn hóa Mục tiêu chính là bảo vệ và gìn giữ di sản, các di tích lịch sử - văn hóa, đồng thời phát huy giá trị của chúng để phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân.

Khái niệm quản lý di tích lịch sử gắn với phát triển kinh tế văn hóa xã hội

Quản lý là quá trình có mục đích, trong đó chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.

Mục đích của việc quản lý di tích lịch sử là bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của chúng Bảo tồn không chỉ đơn thuần là hoài cổ hay hoài niệm, mà còn là việc giữ gìn và phát triển những giá trị văn hóa lịch sử cho các thế hệ tương lai.

Để bảo tồn và phát triển, chúng ta không chỉ đơn thuần chiêm ngưỡng mà còn cần phát huy giá trị tinh thần như giáo dục truyền thống cội nguồn và bản sắc văn hóa Bên cạnh đó, việc phát triển giá trị kinh tế cũng rất quan trọng, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế trong tổng thể nền kinh tế.

Sự tăng trưởng và phát triển kinh tế từ di tích lịch sử không chỉ phụ thuộc vào giá trị của chúng mà còn cần các cơ chế và chính sách hợp lý, như vé tham quan, dịch vụ du lịch và lưu trú, để tăng nguồn thu Để đạt được sự phát triển bền vững, cần có hoạt động quản lý hiệu quả, bao gồm hoạch định, tổ chức, điều khiển và kiểm tra, nhằm tác động tích cực đến các di tích lịch sử và các tổ chức, cá nhân liên quan đến việc khai thác giá trị của chúng.

Với ý nghĩa đó, chúng ta có thể đưa ra khái niệm quản lý di tích lịch sử gắn với phát triển kinh tế, văn hóa xã hội như sau:

Quá trình quản lý di tích lịch sử là sự tác động liên tục của các cơ quan nhà nước như Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban nhân dân tỉnh, và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đến các đối tượng quản lý, bao gồm di tích lịch sử và các tổ chức, cá nhân có liên quan Mục tiêu của quá trình này là bảo tồn và phát huy giá trị của di tích, cả về mặt tinh thần và kinh tế, thông qua việc hoạch định cơ chế, chính sách, pháp luật, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra, đồng thời thúc đẩy hoạt động du lịch liên quan.

1.5 Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa

1.5.1 Xuất phát từ vai trò, giá trị của di tích lịch sử văn hóa

Nước Việt Nam có một lịch sử lâu dài với nhiều trang sử hào hùng được ghi lại qua các loại hình sử liệu khác nhau như di tích, di vật, hình ảnh và ngôn ngữ truyền miệng Trong đó, di tích lịch sử - văn hóa là nguồn sử liệu vật chất quan trọng nhất, cung cấp thông tin trực tiếp về hoạt động của con người trong quá khứ Những di tích này giúp các nhà nghiên cứu lịch sử xác thực sự hiện diện của cộng đồng dân cư đã sống và phát triển trên mảnh đất Việt Nam.

Di tích lịch sử - văn hóa là những không gian vật chất cụ thể chứa đựng các dấu tích lịch sử do con người sáng tạo ra Chúng phản ánh hoạt động của con người trong quá khứ và cung cấp thông tin quý giá cho việc nghiên cứu lịch sử và văn hóa dân tộc Việt Nam Kiến trúc của các di tích lịch sử - văn hóa có thể được nhận biết qua các dấu tích và di vật còn lại, chẳng hạn như kiến trúc đa dạng của các ngôi đình làng ở đồng bằng sông Hồng Việc phân tích các di vật, như chuông hay văn bia, giúp xác định niên đại và các giai đoạn xây dựng hoặc trùng tu di tích, đồng thời cung cấp thông tin về tín ngưỡng và nghệ thuật chạm khắc qua các thời kỳ.

Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia là phần quan trọng của di sản văn hóa dân tộc, cung cấp thông tin quý giá để khôi phục lịch sử Việt Nam Hiện nay, nhiều di tích được bảo vệ và phát huy giá trị, nhưng vẫn còn nhiều nơi bị bỏ quên, xuống cấp hoặc bị xâm hại nghiêm trọng Chúng ta cần chung tay bảo vệ và gìn giữ những tài sản vô giá mà cha ông đã để lại qua các thế kỷ.

Di tích là những dấu tích và công trình xây dựng phản ánh sự tiến hóa và các biến cố lịch sử, mang ý nghĩa văn hóa sâu sắc Chúng không chỉ là di sản văn hóa vật thể mà còn là kết quả của hoạt động sáng tạo văn hóa của nhân dân, bao gồm cả giá trị vật chất và tinh thần Di tích lịch sử - văn hóa là một phần quan trọng của di sản văn hóa dân tộc, chứa đựng những giá trị cao về cả mặt văn hóa lẫn kinh tế Những yếu tố này đóng vai trò thiết yếu trong việc bảo tồn bản sắc độc đáo của văn hóa dân tộc Việt Nam.

Di tích lịch sử - văn hóa được phân loại dựa trên giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học Di tích cấp tỉnh là những di tích tiêu biểu của địa phương, do Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh xếp hạng Di tích quốc gia là những di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia, được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Đặc biệt, di tích quốc gia đặc biệt là những di tích có giá trị nổi bật, do Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng.

Việt Nam, với lịch sử lâu dài và vẻ vang trong cuộc đấu tranh giành độc lập, đã để lại cho chúng ta một kho tàng di sản văn hóa quý giá Các di tích lịch sử - văn hóa không chỉ phản ánh những giá trị văn hóa đặc sắc mà còn là minh chứng cho quá trình dựng nước và giữ nước của các thế hệ trước Việc bảo vệ và gìn giữ những di tích này là trách nhiệm quan trọng để bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc.

Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc là nhiệm vụ quan trọng và cần thiết để lưu truyền văn hóa quốc gia cho các thế hệ mai sau Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 đã nhấn mạnh rằng việc này là một yếu tố then chốt trong việc phát triển văn hóa.

1.5.2 Thách thức của cơ chế thịtrường và quá trình hội nhập

Nước ta một nước đang phát triển, lại bị chiến tranh kéo dài tàn phá

Sau khi giành được độc lập, ưu tiên hàng đầu của Nhà nước và nhân dân Việt Nam là phát triển kinh tế và nâng cao đời sống Tuy nhiên, việc tập trung phát triển kinh tế mà chưa hoàn thiện hành lang pháp lý về bảo vệ di sản văn hóa có thể dẫn đến phát triển không bền vững Di sản văn hóa vật thể của Việt Nam chủ yếu làm bằng chất liệu hữu cơ, dễ bị tổn thương trước thiên tai và sự phát triển gia tăng của dân số, kinh tế Những yếu tố này đặt di sản văn hóa trước những thách thức lớn, khi mà nhận thức cộng đồng về bảo vệ di sản vẫn còn hạn chế so với nhu cầu phát triển kinh tế Do đó, di sản và di tích lịch sử - văn hóa của Việt Nam đang phải đối mặt với những tác động nhanh chóng từ biến đổi môi trường tự nhiên và xã hội.

Hiện nay, quản lý nhà nước về di sản văn hóa, đặc biệt là di tích lịch sử - văn hóa quốc gia, đang đối mặt với nhiều thách thức lớn.

Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa, chúng ta có cơ hội tiếp thu những tinh hoa văn hóa thế giới Tuy nhiên, điều này cũng đồng nghĩa với việc xuất hiện nguy cơ thay đổi quan niệm sống và lối sống, có thể tác động tiêu cực đến giá trị văn hóa truyền thống.

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK NÔNG

Tổng quan về địa lý, lịch sử và văn hoá Đắk Nông

2.1.1 Địa danh và tiến trình lịch sử

Vào thế kỷ XIX, Đắk Nông là vùng đất xa xôi, thưa thớt dân cư, chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số sống theo cộng đồng Khu vực này đã được nhận diện là có tiềm năng phát triển kinh tế và vị trí chiến lược quân sự quan trọng Các giáo sĩ phương Tây đã tiến hành khảo sát và vẽ bản đồ để phục vụ cho việc truyền giáo và khai thác của thực dân Pháp Sau khi xâm lược Việt Nam, Pháp nhanh chóng thiết lập bộ máy cai trị tại Đắk Nông, thành lập các đồn điền nhằm nghiên cứu và kiểm soát dân cư, tập trung chủ yếu ở huyện Đắk Mil và Đắk Song.

Năm 1959, chính quyền Ngô Đình Diệm thành lập tỉnh Quảng Đức Sau khi miền Nam được giải phóng và đất nước thống nhất vào tháng 5 năm 1975, tỉnh này vẫn giữ tên Quảng Đức theo chủ trương của Trung ương Tuy nhiên, đến tháng 11 năm 1975, tỉnh Quảng Đức đã được sáp nhập vào tỉnh Đắk Lắk.

Tỉnh Đắk Nông được thành lập từ ngày 01 tháng 01 năm 2004 theo Nghị quyết số 22/2003 QH11 của Quốc hội, trên cơ sở chia tách từ tỉnh Đắk Lắk Tại thời điểm thành lập, Đắk Nông có diện tích tự nhiên 6.514,32 km² và dân số 392.070 người, với sự hiện diện của 32 dân tộc anh em.

Tỉnh hiện có 8 huyện và một thị xã, với tổng dân số đạt 636.000 người Thu nhập bình quân đầu người trong tỉnh là 35 triệu đồng mỗi năm, trong đó dân tộc thiểu số chiếm 47%.

Tỉnh Đắk Nông, tọa lạc ở phía nam Tây Nguyên, giáp tỉnh Đắk Lắk ở phía bắc, tỉnh Bình Phước ở phía nam, tỉnh Lâm Đồng ở phía đông và đông nam, cùng với biên giới phía tây giáp Campuchia.

Cao nguyên Mnông theo thư tịch của người Pháp thường được gọi là cao nguyên trung tâm nam Đông Dương, gọi tắc là cao nguyên Trung Tâm

Cplatteau Central, nằm tại “ngã ba ranh giới” của ba vùng Trung Kỳ, Nam Kỳ và Cao Miên, được biết đến như một cao nguyên Mnông, được coi là “mái nhà của cực nam Đông Dương” với diện tích gần 4000km2 và độ cao trung bình 800m Từ cao nguyên này, địa hình dốc xuống với mạng lưới sông ngòi dày đặc Đắk Nông, tỉnh có vị trí chiến lược về kinh tế, chính trị và an ninh, là cửa ngõ phía Nam của Tây Nguyên, sở hữu hệ thống giao thông quan trọng như quốc lộ 14 kết nối với TP Hồ Chí Minh, tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông hàng hóa Quốc lộ 28 cũng nối Đắk Nông với huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, nơi có tiềm năng phát triển du lịch nhờ vào di tích lịch sử và danh thắng.

31 liền với tỉnh Mundunkiri qua cửa khẩu Bu Prang, đây là tuyến hết sức quan trọng cả về kinh tế lẫn an ninh quốc phòng.

Thực trạng công tác quản lý di tích lịch sử ở Đắk Nông thời gian qua…31 1 Các di tích lịch sử vă hoá trên địa bàn tỉnh Đắk Nông hiện nay

2.2.1 Các di tích lịch sử vă hoá trên địa bàn tỉnh Đắk Nông hiện nay Đắk Nông là tỉnh nằm ở vùng đất cổ trên cao nguyên Mơ Nông, phía Nam Tây Nguyên, Đắk Nông là nơi sinh sống lâu đời của các dân tộc bản địa, như Mnông, Mạ, Ê-đê,… với nền văn hóa truyền thống lâu đời và không ngừng được bồi đắp thông qua sự giao lưu, tiếp xúc văn hóa của các dân tộc anh em Thời gian qua, Đắk Nông có nhiều nỗ lực trong công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, góp phần gìn giữ sự đa dạng, phong phú và đặc sắc cho bức tranh văn hóa cho cả nước nói chung và cho khu vực Tây Nugyên nói riêng Cùng với các tỉnh ở Tây Nguyên, Đắk Nông là một trong những địa phương có bề dày truyền thống lịch sử với những địa danh kiên cườnggắn với những sự kiện lịch sử, những chiến công lừng lẫy suốt chiều dài 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Một trong những thành tố của kho tàng di sản văn hóa quý giá đó phải kể tới hệ thống di tích lịch sử văn hóa của tỉnh Theo thống kê, hiện nay Đăk Nông có 6 di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia

2.2.1.1 Di tích điểm lưu niệm N’Trang Gưh

N'Trang Gưh, tên thật là Y Gưh H'Dớk, sinh khoảng năm 1845 tại buôn Choáh Kplang, thuộc nhóm Êđê Bih bên bờ sông Krông Nô Ông là một nhân vật kiên cường, lãnh đạo đồng bào dân tộc Êđê trong cuộc kháng chiến kéo dài 14 năm (1900-1914), đánh dấu một trong những cuộc kháng chiến lớn nhất ở Tây Nguyên vào thời điểm đó.

Di tích lịch sử N‘Trang Gưh, nằm ở xã Buôn Choáh, huyện Krông Nô, đã được Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 2366/QĐ-BVHTTDL, ban hành ngày 02/8/2011.

Sau khi N'Trang Gưh qua đời, thi thể của ông được đưa về quê hương buôn Choáh (thuộc thôn 1, xã buôn Choáh, Krông Nô) để chôn cất Để tưởng nhớ những chiến công vĩ đại của người tù trưởng Ê đê N'Trang Gưh, một anh hùng trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, Di tích lịch sử Địa điểm lưu niệm N'Trang Gưh đã được Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 2366/QĐ-BVHTTDL, ngày 02/8/2011.

2.2.1.2 Di tích lịch sử các địa điểm về phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp của đồng bào M Nông do N Trang Lơng lãnh đạo

Khu di tích lịch sử về phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp của đồng bào M'Nông, do N'Trang Lơng lãnh đạo, bao gồm Đồn Buméra và Đồn Bu Nor, tọa lạc tại xã Đắk R'tih và xã Đắk Buk.

Huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông, đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 04/2007/QĐ-BVHTTDL, ban hành ngày 27 tháng 8 năm 2007.

N‘Trang Lơngtên thật là Lơng, sinh khoảng năm 1870 tại Buôn

Bupar là một làng thuộc M‘Nông Biệt, nằm dưới chân núi Nam Drôn, ở khu vực suối Đắk Nha, phía bắc cao nguyên M‘nông N‘Trang Lơng, một cậu bé nhanh nhẹn và tháo vát, đã sống ở phía đông Srê Khơtum trong thời thơ ấu của mình.

Rơ Leng Ong là một người dũng cảm, luôn sẵn sàng giúp đỡ người khác và được yêu quý bởi mọi người trong làng Khi lớn lên, cậu đã nghe nhiều câu chuyện về tấm gương chiến đấu của các tù trưởng nổi tiếng như Ama Jhao, N‘Trang Gưh và N‘Trang Lơng, từ đó cậu càng thêm khâm phục và ngưỡng mộ.

Kể từ năm 1909, sau khi Khunjunob đầu hàng, Pháp đã triển khai các đơn vị thám thính vào vùng cao nguyên M'nông Henri Maitre đã chiếm đóng và xây dựng đồn tại Buôn Bu Poustra, đồng thời tấn công làng Bu Nơtrang của N'Trang Lơng, gây hại cho gia đình ông.

Cuộc khởi nghĩa của các đồng bào dân tộc thiểu số chống thực dân

Cuộc kháng chiến chống Pháp kéo dài 24 năm (1911-1935) do thủ lĩnh N‘Trang Lơng lãnh đạo đã bị đàn áp, nhưng ý chí kiên cường và tinh thần đoàn kết của các dân tộc như M‘Nông, Stiêng, Ê đê, Mạ, Chàm, Kinh, K‘ho ở Đắk Nông, Krông Nô, Đắk Mil đã khích lệ các thế hệ tiếp nối đứng lên chống lại kẻ xâm lược Hành trình và sự nghiệp của anh hùng N‘Trang Lơng không chỉ là một phần của lịch sử đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam trước khi có Đảng, mà còn là biểu tượng cho sự liên kết giữa các dân tộc Tây Nguyên trong cuộc chiến giải phóng khỏi ách áp bức của thực dân Pháp, góp phần vào khối đại đoàn kết dân tộc trong cộng đồng Việt Nam.

Để tôn vinh công lao của vị thủ lĩnh người M‘nông, tỉnh Đắk Nông đang xây dựng Tượng đài anh hùng dân tộc N‘Trang Lơng và các dân tộc Tây Nguyên tại trung tâm thị xã Gia Nghĩa Đồng thời, dự án phục dựng di tích các địa điểm liên quan đến phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp do N‘Trang Lơng lãnh đạo cũng được triển khai tại xã Đắk R‘tih và xã Đắk Buk So, huyện Tuy Đức Di tích này sẽ bao gồm các điểm chiến đấu, hầm hào, công sự và khu vực hậu cần.

Phong trào N'Trang Lơng đã ghi dấu ấn quan trọng trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp với những trận địa chiến đấu và chiến thắng nổi bật như bon Bu Nơr, đồn Buméra và bia Henry Maitre Những di tích này không chỉ phản ánh ý chí kiên cường và bất khuất của dân tộc mà còn là biểu tượng cho tinh thần đoàn kết, gắn bó của các dân tộc Tây Nguyên trong cuộc chiến giành độc lập.

2.2.1.3.Di tích lịch sử căn cứ kháng chiến B4 - Liên tỉnh IV (1959-

Căn cứ kháng chiến B4 - liên tỉnh IV là địa bàn hoạt động an toàn của các cơ quan chính quyền và lãnh đạo, nơi tiếp đón các đồng chí từ Trung ương để thiết lập lực lượng chủ lực Miền, chỉ đạo cuộc tấn công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 Đồng thời, nơi đây cũng đóng vai trò là hành lang chiến lược, vận chuyển sức người và vật chất từ hậu phương ra tiền tuyến, kết nối Tây Nguyên với miền Đông Nam Bộ, miền Bắc với miền Nam.

Ngày nay, đến thăm Di tích lịch sử căn cứ kháng chiến B4 - liên tỉnh

Di tích nằm giữa thảm rừng nguyên sinh, được bao bọc bởi những cây cổ thụ, tạo nên một không gian lịch sử oai hùng và đầy ý nghĩa.

Để đến Khu di tích Tỉnh ủy B4 và Liên tỉnh IV, bạn có thể xuất phát từ Lâm trường Nâm Nung (huyện Krông Nô) và rẽ trái theo hướng Đông Ngoài ra, bạn cũng có thể di chuyển từ huyện Đăk Song theo tỉnh lộ 6 hoặc từ thị xã Gia Nghĩa theo tỉnh lộ 4.

Thực trạng công tác quản lý Nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị các

2.3.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý di tích lịch sử ở Đắk Nông

Cơ cấu tổ chức quản lý di tích lịch sử văn hóa tại Việt Nam được xây dựng thống nhất từ trung ương đến địa phương, với mỗi cấp quản lý có chức năng và nhiệm vụ rõ ràng Điều này nhằm đảm bảo sự đồng bộ trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, đặc biệt là các di tích lịch sử văn hóa, đạt hiệu quả cao trong công tác quản lý.

Việc quản lý di tích lịch sử văn hóa tại tỉnh Đắk Nông được quy định rõ ràng trong Quy chế quản lý và sử dụng di tích, ban hành năm 2010, cùng với những sửa đổi tại Quyết định số 37/2015/QĐ-UBND ngày 03-12-2015 của UBND tỉnh Quy định này bao gồm việc quản lý di tích, di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia trên địa bàn tỉnh Đắk Nông.

- Ủy ban nhân dân các cấp

Theo Luật di sản văn hóa, UBND tỉnh có trách nhiệm quản lý nhà nước về di sản văn hóa (DSVH) tại địa phương Quy chế quản lý và sử dụng di tích lịch sử văn hóa tỉnh Đắk Nông năm 2015 quy định UBND phải chỉ đạo các hoạt động quản lý DSVH, bao gồm xây dựng quy hoạch, lập kế hoạch bảo vệ và phát huy giá trị di tích, kiểm kê và nghiên cứu di tích cùng cổ vật, cấp phép cho các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di tích, cũng như thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật và xử lý vi phạm liên quan đến di tích.

UBND cấp huyện và thị xã có trách nhiệm quản lý, xây dựng và tổ chức thực hiện việc bảo tồn cũng như phát huy giá trị của di tích và di vật trong khu vực quản lý Đồng thời, cần thực hiện chế độ báo cáo định kỳ và đột xuất với UBND tỉnh về tình hình quản lý di tích và di vật trong phạm vi địa giới hành chính Ngoài ra, tổ chức các hoạt động thanh tra, kiểm tra, khen thưởng và xử lý vi phạm liên quan đến di tích, di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia theo thẩm quyền cũng là nhiệm vụ quan trọng.

Các UBND cấp xã, phường, thị trấn cần thành lập Ban Quản lý di tích cấp xã nhằm quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị của di tích, di vật, cổ vật cũng như bảo vật quốc gia tại địa phương.

Tiếp nhận và bảo vệ di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia được phát hiện trên địa bàn là nhiệm vụ quan trọng Cần phòng ngừa và ngăn chặn kịp thời mọi hành vi vi phạm có thể ảnh hưởng đến di tích, di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia.

Kiến nghị việc xếp hạng di tích; Thanh tra, kiểm tra, khen thưởng, xử lý vi phạm theo thẩm quyền…

- Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Cơ quan quản lý di tích cấp tỉnh có nhiệm vụ quản lý di sản văn hóa (DSVH) và di tích lịch sử văn hóa theo phân công của UBND tỉnh Sở VHTTDL chịu sự chỉ đạo và quản lý về tổ chức, biên chế và hoạt động cấp tỉnh, đồng thời được Bộ VHTTDL hướng dẫn và kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ.

Theo Quyết định số 37/2015/QĐ-UBND của UBND tỉnh Đắk Nông, Sở VHTTDL là cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, có nhiệm vụ tham mưu và giúp UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về di sản văn hóa (DSVH) Trách nhiệm của Sở VHTTDL trong việc quản lý di tích lịch sử văn hóa được quy định rõ trong Quy định về quản lý di tích, di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia trên địa bàn tỉnh Đắk Nông, bao gồm 9 nội dung liên quan đến quản lý nhà nước đối với các di sản này.

Để nâng cao hiệu quả quản lý các di tích lịch sử văn hóa, UBND tỉnh Đắk Nông đã ban hành quyết định số 127/2010/QĐ-UBND, thành lập Ban Quản lý di tích tỉnh Đắk Nông.

BQL di tích tỉnh Đắk Nông là đơn vị sự nghiệp có thu, trực thuộc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh, chịu sự lãnh đạo trực tiếp của giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin Đơn vị này có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng theo quy định của pháp luật.

Nông sẽ có chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa

Mô hình quản lý di tích tại địa phương kết hợp chặt chẽ giữa chính quyền và cộng đồng, trong đó, các trưởng ban đại diện cho chính quyền chịu trách nhiệm về an toàn của di tích và cổ vật Sự tham gia của các hội như người cao tuổi, cựu chiến binh, phụ nữ, và đoàn thanh niên không chỉ đại diện cho cộng đồng mà còn giúp họ trở thành những người bảo vệ và giám sát các di sản văn hóa của địa phương.

Trách nhiệm của Ban Quản lý di tích địa phương tại Đắk Nông được quy định rõ ràng trong văn bản về quản lý di tích và cổ vật, bao gồm 8 nhóm nhiệm vụ chính Các nhiệm vụ này bao gồm bảo vệ và gìn giữ toàn bộ di tích, chịu trách nhiệm khi di tích bị xâm phạm hoặc hủy hoại, thực hiện biện pháp phòng ngừa kịp thời đối với các hành vi xâm phạm, và thông báo cho cơ quan có thẩm quyền khi di tích gặp nguy cơ Bên cạnh đó, Ban Quản lý cũng cần tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước đến tham quan, nghiên cứu và tham gia các hoạt động lễ hội tại di tích lịch sử.

Quản lý di tích lịch sử tại tỉnh Đắk Nông được thực hiện theo hình thức tập trung và thống nhất, với tất cả các di tích quốc gia dưới sự quản lý của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ban Quản lý di tích tỉnh chịu trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn và quản lý các di tích này.

50 vụ cho các BQL di tích được xếp hạng, chính quyền địa phương nơi có di tích chưa được xếp hạng

Cơ chế phối hợp trong quản lý di tích được tổ chức theo cấp hành chính, từ tỉnh đến huyện/thị xã, xã/phường, và thôn/buôn/bon/khu dân cư.

Tổ chức quản lý di tích bao gồm BQL di tích cấp tỉnh, phòng Văn hóa - Thông tin cấp huyện/thị xã, BQL di tích cấp xã/phường và BQL di tích tại từng di tích cụ thể.

+ Về mô hình quản lý

Các hoạt động quản lý di tích lịch sử văn hóa ở Đắk Nông

Trong những năm qua, quản lý di tích lịch sử văn hóa ở Đắk Nông đã tuân thủ quy định tại Điều 54 của Luật di sản văn hóa Tác giả luận án đã nghiên cứu sâu về hoạt động quản lý di tích tại tỉnh này, tập trung vào vai trò và chức năng của các cơ quan quản lý Bài viết cũng đánh giá những thành công và hạn chế trong công tác quản lý di tích của Đắk Nông trong thời gian qua.

2.4.1 Xây dựng quy hoạch, kế hoạch, dự án bảo tồn di tích

Việc xây dựng quy hoạch cho di tích là nhiệm vụ quan trọng đầu tiên của cơ quan quản lý di tích, dựa trên Nghị định 70/2012/NĐ-CP về thẩm quyền, trình tự và thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử văn hóa Quy hoạch này bao gồm Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi hệ thống di tích và Quy hoạch tổng thể bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích Các di tích được đưa vào Quy hoạch tổng thể là những di tích quốc gia đặc biệt, cụm di tích quốc gia và di tích cấp tỉnh, được phân bố theo từng quần thể trên địa bàn các huyện, thị xã.

Hiện tại, Đắk Nông vẫn chưa có quy hoạch hệ thống cho toàn bộ các di tích trên địa bàn tỉnh, bao gồm cả di tích quốc gia đặc biệt và các di tích khác.

Trong những năm qua, Đắk Nông đã đưa nhiều di tích vào quy hoạch tổng thể và tiến hành trùng tu, bảo quản các di tích quan trọng như Căn cứ kháng chiến B4 – Liên tỉnh IV và địa điểm bắt liên lạc đường Hồ Chí Minh Giám đốc BQL di tích tỉnh cho biết, UBND tỉnh tập trung quy hoạch tu bổ các di tích trọng điểm gắn liền với phát triển du lịch Mục tiêu là giữ gìn tối đa các yếu tố nguyên gốc của di tích, đồng thời khai thác giá trị di tích để phục vụ phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội và đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người dân.

Quy hoạch tổng thể di tích tập trung vào ba vùng chính, trong đó Vùng I được xác định là vùng trung tâm hay vùng lõi, nơi bảo tồn các di tích gốc Việc giữ nguyên trạng các yếu tố gốc là cần thiết, tùy thuộc vào khả năng thực hiện trong không gian vật chất của từng di tích.

Vùng II là vùng để phát triển các công trình thuộc hạng mục trong tôn tạo di tích như các khu nhà khách, các công trình dịch vụ công cộng, khu vực bãi đỗ xe, xây dựng tượng đài, nhà trưng bày bổ sung… Vùng II có thể chiếm một không gian rộng lớn

Tại các điểm di tích được quy hoạch, sẽ có vùng III (vùng sinh thái) nhằm phát triển các hạng mục như cây xanh, hồ nước và khu vui chơi giải trí.

Năm 2011, tỉnh Đắk Nông đã phê duyệt quy hoạch tu bổ và tôn tạo di tích liên lạc khai thông đường Hồ Chí Minh, kết nối từ Nam Tây Nguyên đến Đông Nam Bộ Uỷ ban nhân dân tỉnh giao Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch lập quy hoạch cho khu di tích này.

Trong những năm tới, Đắk Nông sẽ tiếp tục triển khai các quy hoạch nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích lịch sử văn hóa đặc sắc Quy hoạch phát triển sự nghiệp văn hóa tỉnh Đắk Nông đến năm tới sẽ tập trung vào việc bảo vệ và phát triển các di sản văn hóa của địa phương.

Kế hoạch định hướng đến năm 2030, được ban hành vào năm 2015, đã xác định các giai đoạn cụ thể cho việc quy hoạch và bảo tồn di tích Trong giai đoạn 2015 - 2020, sẽ tiến hành lập quy hoạch và tu bổ một số di tích tiêu biểu, đồng thời thực hiện dự án phục hồi khu di tích lịch sử văn hóa.

2.4.2 Xây dựng kế hoạch bảo tồn di tích

Việc trùng tu và tôn tạo di tích lịch sử văn hóa hiện nay được thực hiện thông qua các kế hoạch cụ thể, bao gồm kế hoạch ngắn hạn hàng năm và các kế hoạch trung, dài hạn Đặc biệt, vào năm 2015, tỉnh Đắk Nông đã triển khai kế hoạch quản lý, bảo tồn và phát huy các di tích lịch sử cách mạng trong giai đoạn 2015-2020.

Kế hoạch được phê duyệt vào năm 2020 nhằm tăng cường quản lý và đầu tư cho việc tu bổ, tôn tạo, bảo tồn di tích Mục tiêu là phát huy giá trị di tích, góp phần vào việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc vùng cao nguyên Đắk Nông.

Trong kế hoạch nêu rõ nhiệm vụ:

- Về quản lý di tích:

Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, cần đầu tư hợp lý cho quy hoạch, bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng Việc nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền và nhân dân về công tác bảo tồn là rất quan trọng Cần thực hiện xã hội hóa để huy động mọi nguồn lực tham gia vào hoạt động này Đồng thời, xây dựng kế hoạch và tổ chức tổng điều tra để đánh giá thực trạng toàn bộ di tích cùng các tài liệu, hiện vật liên quan.

54 sự kiện cách mạng, triển khai nghiên cứu lập hồ sơ và đề nghị công nhận xếp hạng đối với các di tích có đủ điều kiện

- Về bảo tồn di tích:

Để khắc phục tình trạng xuống cấp của các di tích, cần triển khai các dự án tu bổ và tôn tạo Đồng thời, việc phục chế các di vật, hiện vật cũng cần được chú trọng Ngoài ra, cần tiếp tục sưu tầm và bổ sung tài liệu, hiện vật liên quan đến các di tích lịch sử trong tỉnh để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa.

- Về phát huy tác dụng di tích:

Tổ chức hội thảo, tọa đàm, lễ hội và xuất bản sách, tài liệu giới thiệu nhằm phát triển du lịch văn hóa Đầu tư vào việc tôn tạo, xây dựng các công trình và dịch vụ văn hóa tại di tích sẽ gắn kết văn hóa với kinh tế thông qua việc cung cấp dịch vụ và thu phí tham quan.

Tổ chức hoạt động nghiệp vụ nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa

2.5.1 Hoạt động bảo tồn di tích

Các di tích lịch sử văn hóa tại tỉnh Đắk Nông đang trong tình trạng xuống cấp do thời tiết khắc nghiệt và thiếu sự quan tâm trùng tu Để bảo vệ và duy trì các di sản văn hóa (DSVH) này, cần thực hiện các hoạt động quản lý cần thiết, bao gồm kiểm kê và lập hồ sơ khoa học để xác định giá trị của di tích Việc này không chỉ giúp phát hiện và thu thập tư liệu mà còn đề xuất xếp hạng di tích theo quy trình khoa học và pháp lý nghiêm ngặt Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch đã phối hợp với các ban quản lý để tiến hành kiểm kê di tích trên toàn địa bàn các huyện, thị xã một cách nhất quán và thường xuyên.

Hoạt động kiểm kê di tích được tiến hành theo các nội dung cơ bản sau:

- Nghiên cứu, phát hiện thống kê di tíchlịch sử;

- Khảo sát phân tích để nắm được giá trị, thực trạng và tình trạng kỹ thuật của di tíchlịch sử;

- Lập hồ sơ khoa học di tích lịch sử;

- Quản lý và phổ biến hồ sơ

Việc thống kê và kiểm kê di tích được thực hiện hàng năm tại các huyện, thị xã, xã, phường, thị trấn, thôn, bon, buôn Mỗi di tích được kiểm kê sẽ phản ánh rõ ràng tình trạng và giá trị lịch sử, bao gồm quá trình khởi dựng cũng như các công tác trùng tu, tôn tạo.

Vào năm 2013, cơ quan quản lý đã thực hiện thống kê các di tích trên toàn tỉnh, bao gồm di tích được xếp hạng cấp quốc gia, di tích xếp hạng cấp tỉnh và các di tích chưa được xếp hạng, được phân loại theo từng địa bàn cụ thể.

Tính đến cuối năm 2015, Đắk Nông đã có 8 di tích được công nhận xếp hạng, bao gồm 6 di tích lịch sử quốc gia và 2 danh thắng cấp quốc gia Việc xếp hạng di tích là một hoạt động quan trọng cần được nhận thức đầy đủ và đúng đắn, nhằm quản lý nhà nước hiệu quả Thực chất, xếp hạng di tích là biện pháp bảo vệ pháp lý của nhà nước, đảm bảo di tích được bảo hộ và nhìn nhận trong một quá trình hoạt động liên tục.

Xếp hạng di tích bắt nguồn từ nguyện vọng của cộng đồng và sự hỗ trợ từ các cơ quan quản lý Quá trình xây dựng hồ sơ xếp hạng di tích giúp nhận diện giá trị và nâng cao nhận thức của cộng đồng, đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo tồn và bảo vệ di tích khỏi các vi phạm Thực tế cho thấy, việc xếp hạng di tích không chỉ mang lại niềm tự hào cho người dân địa phương mà còn có thể nâng cao vai trò của di tích trong đời sống cộng đồng nếu được thực hiện đúng cách.

Hiện nay, việc thực hiện tu bổ, tôn tạo các di tích lịch sử chủ yếu bằng nguồn đầu tư từ ngân sách nhà nước

Mặc dù đã đạt được một số thành tựu, tình trạng xuống cấp của nhiều di tích, đặc biệt là những di tích có giá trị cao như N’Trang Gưh, vẫn chưa được cải thiện Di tích lịch sử cấp quốc gia này, sau 5 năm công nhận, vẫn thiếu sự quan tâm và đầu tư cần thiết Ông Phan Xuân Diến, Trưởng Phòng VH-TT huyện Krông Nô, cho biết địa phương chỉ nhận được một quyết định chứng nhận mà không có văn bản cụ thể nào về việc trùng tu hay bảo quản Do không có kinh phí từ cấp trên, các hoạt động tại di tích chỉ dừng lại ở mức duy trì hiện trạng.

Di tích lịch sử về phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp của đồng bào M’nông do N’Trang Lơng lãnh đạo đang bị xâm lấn bởi người dân để canh tác Tại một số di tích, việc tu bổ và tôn tạo còn diễn ra một cách tùy tiện, không tuân thủ quản lý của nhà nước và hướng dẫn của cơ quan chuyên môn Nhiều vi phạm trong quá trình này chưa được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời.

2.5.2 Hoạt động quản lý di vật, cổ vật tại các di tích

Di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia là những thành phần quan trọng trong các di tích lịch sử - văn hóa, liên quan chặt chẽ đến không gian của di tích Trong khi công trình kiến trúc là bất động sản không thể di dời, các di vật và cổ vật lại dễ dàng bị lấy đi khỏi nơi chúng tồn tại Hiện nay, số lượng di vật và cổ vật được xếp hạng tại tỉnh Đắk Nông còn hạn chế, điều này đòi hỏi sự chú ý và bảo tồn thích hợp.

62 hỏi hoạt động quản lý di vật, cổ vật phải được đặc biệt quan tâm Năm 2015,

Uỷ ban nhân dân tỉnh Đắk Nông cùng với sở Văn hoá, Thông tin, Thể thao và Du lịch đã ban hành các văn bản nhằm quản lý và sử dụng di vật, cổ vật Các văn bản này quy định rõ ràng về việc bảo vệ di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia tại các di tích.

Trong những năm qua, BQL di tích Đắk Nông đã tiến hành kiểm kê và thống kê di vật, cổ vật tại một số điểm di tích, tuân theo chỉ thị số 05/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý và bảo vệ cổ vật Cơ quan quản lý di tích đã tổ chức thống kê và liệt kê các di vật, cổ vật, đồng thời lập phiếu cho các di vật, cổ vật trong các di tích tiêu biểu.

Hiện nay, các di tích và cổ vật tại các di tích lịch sử ở tỉnh Đắk Nông thường được quản lý bởi Ban Quản lý di tích lịch sử.

2.5.3 Hoạt động bảo tồn, phát huy các giá trị của di tích lịch sử gắn với du lịch

Trong những năm gần đây, Đắk Nông đã chú trọng đến việc phối hợp giữa quản lý di tích lịch sử văn hóa và phát triển du lịch Với vị trí địa lý thuận lợi và tiềm năng du lịch phong phú, tỉnh có nhiều điều kiện để phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái Mặc dù Đắk Nông sở hữu hệ thống thác nước đẹp, tài nguyên du lịch từ các di tích lịch sử còn hạn chế và chưa được đầu tư một cách toàn diện, dẫn đến việc chưa tạo được dấu ấn đặc sắc và không trở thành điểm đến hấp dẫn cho việc mua sắm và nghỉ dưỡng.

63 dưỡng nên có thể khẳng định rằng, số lượng khách chủ yếu được thu hút bởi các lượt khách tự phát.

Năm 2011, tỉnh Đắk Nông đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch giai đoạn 2011 - 2020, với định hướng đến năm 2030, nhằm phát triển du lịch dựa trên nội lực và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc Mục tiêu là biến Đắk Nông thành trung tâm du lịch sinh thái của Cao Nguyên, khai thác tiềm năng di tích lịch sử văn hóa để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội, nâng cao tỷ trọng GDP du lịch và dịch vụ, tạo việc làm và tăng thu nhập cho cộng đồng Tỉnh sẽ phát triển các sản phẩm đặc thù dựa trên tiềm năng sẵn có, như lễ hội cồng chiêng Tây Nguyên.

Việc phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa không chỉ thông qua du lịch mà còn thông qua việc kết nối các di tích với hoạt động giảng dạy và học tập tại các trường học Các cuộc thi tìm hiểu về truyền thống lịch sử địa phương cũng góp phần quan trọng trong việc nâng cao nhận thức và giá trị di sản văn hóa.

Các di tích lịch sử, được hình thành từ hai cuộc kháng chiến, đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục truyền thống lịch sử và văn hóa Chúng không chỉ giúp động viên nhân dân đoàn kết mà còn khuyến khích thực hiện các chủ trương, đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước.

Đánh giá những ưu điểm, hạn chế trong công tác quản lý, phát huy giá trị của các di tích lịch sử văn hóa ở Đắk Nông

h uy giá trị của các di tích lịch sử văn hóa ở Đắk Nông

Bộ máy quản lý di tích lịch sử văn hóa đã được phân cấp đến cấp xã, phường, với việc thành lập Ban Quản lý (BQL) cho tất cả các di tích được nhà nước xếp hạng Điều này giúp tăng cường sự quan tâm từ chính quyền và cộng đồng địa phương đối với các di tích Hơn nữa, các BQL di tích đã bắt đầu phối hợp hiệu quả với chính quyền và BQL cấp trên, từ đó xây dựng cơ chế hợp tác trong công tác quản lý di tích.

- Vai trò quản lý của nhà nước được thể hiện thông qua các hoạt động cụ thể:

Chính quyền địa phương đã ban hành nhiều văn bản pháp quy nhằm chỉ đạo và định hướng cho hoạt động bảo tồn di sản văn hóa (DSVH), như Quy chế quản lý và sử dụng di tích lịch sử - văn hóa năm 2008 và Quy định về quản lý di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia năm 2015 Những văn bản này đóng vai trò quan trọng, tạo ra hành lang pháp lý giúp các ban ngành và tổ chức hiểu rõ quyền và nghĩa vụ trong quản lý và khai thác giá trị DSVH Cùng với các văn bản pháp quy từ Chính phủ và Bộ VHTTDL, các văn bản địa phương là cơ sở và chính sách đặc thù cho các cơ quan chuyên môn thực hiện công tác bảo tồn và phát huy giá trị DSVH hiệu quả nhất.

Chúng tôi thường xuyên tổ chức các lớp tuyên truyền về các văn bản luật và dưới luật liên quan đến di sản văn hóa (DSVH), cũng như tập huấn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ tại các phòng Văn hóa - Thông tin, Ban Văn hóa xã, thôn và Ban Quản lý các di tích Qua đó, chúng tôi phối hợp kiểm tra và nắm bắt tình hình quản lý các di tích lịch sử và lễ hội diễn ra trên địa bàn tỉnh, từ đó phát hiện và kịp thời ngăn chặn, xử lý nhiều hành vi vi phạm di tích.

Nghiên cứu và lập hồ sơ di tích là biện pháp quan trọng để bảo vệ và xếp hạng các di tích lịch sử Luật pháp bảo vệ các di tích, ngăn chặn và xử lý mọi hành vi xâm hại Tại tỉnh Đắk Nông, toàn bộ di tích đã được thống kê về loại, loại hình, đặc điểm và phân bố, từ đó cung cấp cái nhìn tổng quát về hệ thống di tích Dữ liệu này là cơ sở để xây dựng quy hoạch cho việc tu bổ và tôn tạo toàn bộ di tích trong khu vực.

Nguồn vốn nhà nước dành cho việc trùng tu và tôn tạo di tích đã được sử dụng hiệu quả và đúng mục đích Nhiều di tích quan trọng như nhà ngục Đắk Mil và khu căn cứ địa B4 đã được trùng tu và tôn tạo thành công.

Để bảo tồn và tôn tạo di tích, tỉnh Đắk Nông đã huy động nguồn kinh phí từ cộng đồng với phương châm “nhà nước và nhân dân cùng làm” Sở VHTTDL và BQL di tích tỉnh đã phối hợp hiệu quả với chính quyền địa phương và cộng đồng, giúp nhiều di tích thoát khỏi nguy cơ hủy hoại Các di tích như nhà Ngục Đắk Mil và Căn cứ kháng chiến B4 – Liên tỉnh IV đã được trùng tu, phục vụ nhu cầu tham quan, học tập và nghiên cứu.

Việc thanh tra và xử lý vi phạm liên quan đến di tích đã giúp giải quyết bức xúc của người dân tại một số địa phương, đồng thời khuyến khích các cá nhân, tập thể thông qua hình thức khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.

Cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý di tích lịch sử, giúp thu hút và huy động đông đảo người dân tham gia vào các hoạt động quản lý Hầu hết các Ban Quản lý di tích tại địa phương đều có sự tham gia của đại diện cộng đồng, điều này cho thấy sự gắn kết và trách nhiệm chung trong bảo tồn di sản văn hóa.

Các di tích lịch sử tại Đắk Nông, giống như nhiều vùng khác trên cả nước, đã tồn tại qua thời gian nhưng hiện nay đang trong tình trạng xuống cấp Khí hậu khắc nghiệt của khu vực Tây Nguyên đã ảnh hưởng trực tiếp đến sự bảo tồn của những di tích này.

+ Vai trò quản lý của cơ quan quản lý còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập

Việc tổ chức tuyên truyền và hướng dẫn về Luật di sản văn hóa cho cộng đồng hiện chưa có kế hoạch cụ thể và chưa được thực hiện thường xuyên Chương trình chỉ tập trung vào các Ban Quản lý di tích, trong khi cộng đồng địa phương nơi có di tích lại chưa được quan tâm đúng mức Điều này dẫn đến nhận thức của cộng đồng về di tích còn hạn chế, gây ra nhiều hành động đơn giản nhưng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến các di tích lịch sử.

Công tác kiểm kê di tích và cắm mốc giới các khu vực di tích trên thực địa đang diễn ra chậm do thiếu kế hoạch và lộ trình cụ thể Việc lập hồ sơ khoa học xếp hạng di tích lịch sử, quy hoạch khảo cổ và quy hoạch tổng thể cũng cần được đẩy nhanh, cùng với việc công bố danh mục di tích để bảo vệ theo quy định của Luật di sản văn hóa.

Nhiều di tích tại các địa phương vẫn đang trong tình trạng xuống cấp, bao gồm cả những di tích có giá trị đặc biệt Việc đầu tư hàng năm để chống xuống cấp và thực hiện các dự án tu bổ, tôn tạo di tích cách mạng còn thiếu tính bền vững, kế hoạch thường nhỏ lẻ và kinh phí đầu tư chưa tương xứng với quy mô và giá trị của các di tích này.

Nhiều vụ xâm phạm đất đai tại các khu di tích lịch sử chưa được xử lý kịp thời và biện pháp xử lý chưa hợp lý, dẫn đến dư luận không tốt và ảnh hưởng đến nhận thức của cộng đồng địa phương về quản lý di tích lịch sử.

Việc tổ chức khai thác và phát huy giá trị của di tích lịch sử hiện chưa có định hướng và biện pháp cụ thể, dẫn đến tình trạng chỉ chú trọng vào giá trị kinh tế mà không quan tâm đúng mức đến giá trị truyền thống Hơn nữa, hoạt động khai thác tại các di tích còn đơn điệu và nghèo nàn, với sản phẩm du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những giá trị sẵn có của các điểm di tích lịch sử.

Việc kết hợp khai thác di sản văn hóa vật thể và phi vật thể vẫn chưa được thực hiện hiệu quả, dẫn đến hạn chế trong công tác tuyên truyền về di tích và phát triển các tour du lịch di sản văn hóa.

Quan điểm tăng cường quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Đắk Nông

Quá trình Đổi mới tại Việt Nam, bắt đầu từ năm 1986, đã khẳng định khái niệm Bản sắc văn hoá dân tộc trong Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI Sự hoàn thiện về luật pháp trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá đã được khởi đầu bằng những quy định trong Hiến pháp.

Năm 1992, Nhà nước nhấn mạnh trách nhiệm của mình cùng các tổ chức xã hội và nhân dân trong việc bảo vệ, giữ gìn và phát huy di sản văn hóa dân tộc Chính phủ cam kết bảo tồn và phát triển nền văn hóa Việt Nam, các di tích lịch sử và những giá trị của nền văn hiến Việt Nam.

Vào ngày 28/6/1994, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành văn bản số 4739/KG -TƯ, cho phép Bộ VHTT triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, thể hiện sự đầu tư đúng đắn trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam đã trở thành thành viên của "Công ước bảo vệ văn hóa phi vật thể" của UNESCO, khẳng định cam kết của đất nước trong việc gìn giữ và phát triển di sản văn hóa.

Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã bổ sung mục tiêu sưu tầm, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể trong Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hoá giai đoạn 1997-2005 Chương trình này đã thực hiện tương đối trọn vẹn các mục tiêu đề ra.

Trong những năm qua, các cơ chế và chính sách của Nhà nước đã đóng góp quan trọng vào việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích cũng như danh lam thắng cảnh, từ đó nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vai trò và giá trị của các di sản văn hóa.

Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa tại tỉnh Đắk Nông, cần thực hiện các biện pháp bảo vệ và chuyển giao di sản văn hóa một cách nguyên gốc cho các thế hệ tương lai Điều này không chỉ cải thiện tình trạng kỹ thuật của di tích mà còn tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện chủ trương "xã hội hóa các hoạt động văn hóa".

3.1.1 Thống nhất quản lý nhà n ướ c v ề d i tích lịch sử - văn hóa trên đị a b àn tỉnh

Trách nhiệm quản lý và bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa là nhiệm vụ chung của toàn xã hội và hệ thống chính trị Ủy ban nhân dân huyện tỉnh Đắk Nông cần chủ động trong việc chỉ đạo và điều hành thống nhất quản lý nhà nước về di tích trên địa bàn tỉnh.

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh đóng vai trò quan trọng trong việc tham mưu và giúp Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa Cơ quan này phối hợp với các ngành và cấp quản lý để giám sát và điều hành các hoạt động bảo vệ, phát huy giá trị di tích Đặc biệt, vai trò của cộng đồng trong quản lý di tích được đề cao, khi cộng đồng tham gia vào các hoạt động bảo tồn dưới sự giám sát và hỗ trợ của cơ quan chuyên môn Điều này tạo ra cơ chế hoạt động hai chiều giữa các bên tham gia, đồng thời yêu cầu tất cả các thành phần tuân thủ nghiêm ngặt quy định pháp luật và tiêu chuẩn chuyên môn trong lĩnh vực bảo tồn và tôn tạo di tích lịch sử văn hóa.

3.1.2 Qu ả n l ý nh à nướ c v ề di t í ch l ị ch s ử văn hó a ph ải bảo tồn và

76 phát huy đượ c c á c giá trị di tích trên đị a b à n tỉnh, phải đàm bảo tính trung thực, tính nguyên gốc của các di tích lịch sử

Các di tích lịch sử văn hóa tại tỉnh Đắk Nông là chứng tích quan trọng phản ánh quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc Việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích cần phải đảm bảo không làm sai lệch các giá trị vốn có, nhằm phản ánh đúng lịch sử và tránh cái nhìn lệch lạc Tuy nhiên, bảo tồn không có nghĩa là giữ nguyên trạng một cách cứng nhắc, vì điều này có thể dẫn đến sự xuống cấp và hủy hoại di sản Cần có sự linh hoạt trong quá trình bảo tồn, căn cứ vào điều kiện cụ thể để đưa ra các giải pháp hợp lý, hài hòa giữa tính khoa học và nhu cầu văn hóa của cộng đồng, không để tính nguyên gốc cản trở sự phát triển và nâng cao chất lượng sống.

3.1.3 Qu ả n l ý nh à nướ c v ề c á c di t í ch l ị ch s ử văn hó a ph ải bảo tồn và phát huy đượ c giá trị cá c di tích gắn với cộng đồng, vì cộng đồng

Trong quá trình quản lý và bảo vệ các di tích, vai trò của cộng đồng cư dân địa phương và người dân cả nước là vô cùng quan trọng Những đóng góp của cộng đồng trong việc trùng tu và tu bổ di tích lịch sử đã được minh chứng qua nghiên cứu thực trạng quản lý Do đó, quan điểm bảo tồn và phát huy giá trị di tích cần gắn liền với cộng đồng, tôn trọng và đề cao vai trò của họ như những chủ thể sáng tạo văn hóa và chủ sở hữu.

77 di tích đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý di sản văn hóa địa phương, với người dân là những người hưởng thụ và tham gia chủ động Cần nhận thức rằng, việc bảo vệ di tích không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan quản lý mà còn phải được thực hiện bởi cộng đồng và cư dân địa phương Bảo tồn và gìn giữ giá trị di tích chính là bảo vệ bản sắc văn hóa và đặc trưng văn hóa của từng cộng đồng.

3.1.4 Qu ả n l ý nh à nướ c v ề c á c di t í ch l ị ch s ử văn hó a ph ải bảo tồn, phát huy đượ c c á c gi á tr ị c ủ a c ác di tích gắn với sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương

Di tích lịch sử văn hóa đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, là tài nguyên quý giá cho du lịch và mang lại lợi nhuận cho cộng đồng Việc bảo tồn và khai thác các di tích không chỉ phục vụ đời sống tinh thần mà còn thúc đẩy kinh tế địa phương thông qua phát triển dịch vụ Tuy nhiên, cần có chiến lược phát triển bền vững, điều chỉnh hài hòa giữa bảo vệ và khai thác di tích, tránh việc khai thác thái quá để bảo đảm giá trị lâu dài của các di tích.

Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Đắk Nông

3.2.1 Xây dựng, thực hiện quy hoạch, kế hoạch bảo vệ, giữ gìn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa trên đị a b àn tỉnh Đắk Nông

Triển khai quy hoạch chi tiết các di tích lịch sử văn hóa tại tỉnh nhằm bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội bền vững Cần bố trí quỹ đất hợp lý cho các khu dân cư, khu công nghiệp và đô thị mới, tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng các công trình văn hóa và hạ tầng xung quanh khu vực bảo vệ di tích lịch sử văn hóa.

Tập trung vào việc tổ chức và triển khai các dự án thành phần trong quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử và thắng cảnh như Khu bảo tồn Thiên nhiên Nâm Nung, Rừng đặc dụng Dray Sáp, Di tích lịch sử ngục Đắk Mil và Di tích lịch sử kháng chiến B4 để thúc đẩy du lịch Đồng thời, cần lập hồ sơ xây dựng công viên địa chất núi lửa tỉnh Đắk Nông, Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng, Công viên vui chơi giải trí Liêng Nung, cùng các điểm du lịch như Hồ Tây và thác Len Gun Việc thực hiện quy hoạch tổng thể bảo tồn khu di tích lịch sử - văn hóa sẽ giúp bảo vệ quần thể di tích và tạo cơ sở cho quản lý đất đai, trùng tu, tôn tạo công trình di tích, cũng như đầu tư hạ tầng phục vụ người dân và phát triển du lịch Hơn nữa, cần xây dựng phương án bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, không gian văn hóa cồng chiêng; đồng thời phê duyệt quy hoạch chi tiết các khu du lịch trong quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Đắk Nông đến năm 2020, với tầm nhìn đến năm 2030.

3.2.2 Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật v ề di t í ch l ị ch s ử văn hó a Ủy ban nhân dân tỉnh sớm phê duyệt kế hoạch bảo vệ khẩn cấp đối với các di tích lịch sử văn hóa quốc gia; ban hành quy định cụ thể danh mục di

79 tích ưu tiên đầu tư và huy động nguồn lực xã hội để tu bổ, sửa chữa chống xuống cấp các di tích lịch sửvăn hóa quốc gia.

Ban hành quy chế bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích trên địa bàn tỉnh nhằm đảm bảo sự bền vững cho các di tích lịch sử văn hóa quốc gia Cơ chế phối hợp công tác liên ngành sẽ được xây dựng để quản lý hiệu quả các di tích, đồng thời tăng cường sự hợp tác giữa các cơ quan, tổ chức chính trị - xã hội và đoàn thể nhân dân trong việc bảo vệ và phát huy giá trị của di tích Quy định cụ thể về trách nhiệm và chế độ đãi ngộ sẽ được áp dụng để động viên, khuyến khích những người trực tiếp trông coi các di tích lịch sử văn hóa quốc gia.

Cần sớm ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể từ Ủy ban nhân dân tỉnh về công tác xã hội hóa giữ gìn, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa Những văn bản này cần rõ ràng, dễ hiểu và cụ thể hóa các quy định của Nhà nước để người dân dễ tiếp thu và chấp hành Đồng thời, cần làm rõ lợi ích của người dân khi tham gia các hoạt động này, nhằm thu hút đông đảo sự tham gia trong việc bảo tồn di sản văn hóa truyền thống Trong bối cảnh kinh tế thị trường hiện nay, việc tuyên truyền nâng cao ý thức tự giác của người dân cần gắn liền với cuộc vận động xã hội hóa Chỉ khi người dân có ý thức thì mọi khó khăn trong công tác này mới được giải quyết nhanh chóng và hiệu quả.

3.2.3 Ti ế p t ục tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị cá c di t ích; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di s ản văn hó a trên đị a b àn tỉnh

Tăng cường các biện pháp quản lý di tích và các hoạt động bảo quản,

80 tu bổ và phục hồi di tích lịch sử văn hóa và tổ chức lễ hội tại các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh

Hạn chế các công trình phụ trợ như đường giao thông, hệ thống đèn chiếu sáng và thoát nước để bảo tồn vẻ đẹp truyền thống của di tích Cần thực hiện việc cắm mốc giới khu vực bảo vệ di tích một cách triệt để Tăng cường tuyên truyền và giáo dục pháp luật nhằm nâng cao nhận thức của người dân về giá trị lịch sử và văn hóa của di tích quốc gia, nhất là trong bối cảnh ý thức xã hội đang suy giảm Đổi mới hình thức và đa dạng hóa nội dung tuyên truyền để làm nổi bật giá trị của di tích Lồng ghép các chương trình vào các sự kiện thu hút đông đảo quần chúng Ngày Di sản văn hóa 23/11 hàng năm là cơ hội tốt để tôn vinh và tuyên truyền về giá trị di sản văn hóa dân tộc.

Hằng năm, tổ chức ghi danh và vinh danh thành tích học tập của con em nhân dân tại các di tích lịch sử văn hóa quốc gia, đồng thời ban hành quy chế ghi sổ vàng để tôn vinh những cống hiến nối tiếp truyền thống anh hùng Các cuộc thi tìm hiểu về nhân vật và sự kiện lịch sử liên quan đến di tích cũng được phát động, nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng Tăng cường tuyên truyền qua website và internet để quảng bá giá trị di tích lịch sử - văn hóa, cùng với việc xuất bản các ấn phẩm đa ngôn ngữ nhằm giới thiệu rộng rãi Ngoài ra, chương trình giáo dục ngoại khóa cho học sinh sẽ gắn liền với việc tham quan và tìm hiểu các di tích lịch sử văn hóa quốc gia, tạo sự kết nối với các giai đoạn và nhân vật lịch sử quan trọng của đất nước và địa phương.

Ngành Thể thao và Du lịch phối hợp với ngành Giáo dục và Đào tạo tổ chức cho học sinh tìm hiểu và chăm sóc các di tích lịch sử văn hóa quốc gia tại địa phương Hoạt động này không chỉ giúp học sinh giới thiệu các di tích với cộng đồng và du khách mà còn nâng cao nhận thức về giá trị văn hóa và lễ hội truyền thống Qua trải nghiệm thực tế, học sinh sẽ hiểu rõ hơn về di tích, thực hiện lời dạy của Bác Hồ rằng “dân ta phải biết sử ta” Việc giáo dục truyền thống văn hóa và lòng yêu nước cho thế hệ trẻ là cần thiết, giúp họ tự hào về văn hóa và lịch sử dân tộc, từ đó nâng cao ý thức trách nhiệm đối với di sản văn hóa.

3.2.4 Ti ế p t ục tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn là m công t á c qu ả n l ý c á c di t í ch l ị ch s ử văn hóa trên đị a b àn tỉnh

Tăng cường nghiên cứu khoa học về di tích lịch sử văn hóa quốc gia và tổ chức hội thảo về di sản văn hóa vật thể và phi vật thể gắn liền với lễ hội truyền thống Cần xin ý kiến chuyên gia để xác thực yếu tố gốc của di tích, đồng thời bồi dưỡng kiến thức hiện đại về bảo tồn và bảo tàng Cung cấp tài liệu, thông tin cho cán bộ quản lý di tích, ứng dụng hiệu quả các thành tựu khoa học và công nghệ mới Xây dựng ngân hàng dữ liệu về hiện vật quý hiếm và ứng dụng tin học vào lưu trữ tài liệu Thực hiện chính sách khuyến khích nghiên cứu, bảo quản hiện vật có giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học, đồng thời phổ biến di sản văn hóa phi vật thể và văn hóa dân gian liên quan đến di tích lịch sử văn hóa quốc gia Nghiên cứu văn hóa tinh thần không chỉ dừng lại ở di tích vật chất.

Để bảo quản và tu bổ di tích lịch sử - văn hóa quốc gia hiệu quả, cần nghiên cứu kỹ lưỡng chất liệu hóa học của di tích, từ hữu cơ đến vô cơ, nhằm phát hiện mức độ hư hại và dấu ấn các thời kỳ trùng tu Việc hiểu rõ giá trị của di tích sẽ giúp quý trọng tài sản văn hóa của dân tộc Huy động trí tuệ và kinh nghiệm của các nhà khoa học, văn hóa đã nghỉ hưu hoặc đang công tác để tiếp tục nghiên cứu, sáng tạo và đào tạo cán bộ trẻ là rất quan trọng Đồng thời, cần gắn thu nhập của cán bộ nghiên cứu với kết quả thực hiện đề tài khoa học và xây dựng cơ chế khuyến khích sự tham gia của cán bộ trẻ trong lĩnh vực này.

Để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa, cần xây dựng tiêu chuẩn và cơ chế lựa chọn, bố trí cán bộ quản lý có đủ năng lực Cần khuyến khích xã hội hóa hoạt động đào tạo và xây dựng chương trình cụ thể cho đội ngũ hướng dẫn viên văn hóa du lịch, những người có năng khiếu và hiểu biết sâu sắc về lịch sử, văn hóa truyền thống của tỉnh Ngoài ra, cần có chính sách khuyến khích vật chất và tinh thần để thu hút nhân tài và sử dụng chuyên gia có trình độ cao Việc chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức theo đúng chức danh và nhiệm vụ cũng rất quan trọng Hỗ trợ cán bộ trẻ tự đào tạo và nâng cao năng lực chuyên môn, cùng với chính sách ưu đãi đặc biệt cho chuyên gia và cán bộ có năng lực quản lý chuyên ngành di sản văn hóa sẽ góp phần phát triển bền vững lĩnh vực này tại địa phương.

3.2.5 Ti ế p t ục huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ, gìn giữ, phát huy giá trị di t ích trên đị a b àn tỉnh Ưu tiên tập trung đầu tư đồng bộ các dự án bảo tồn, tôn tạo di tích lịch sử văn hóa quốc gia, dự án hạ tầng giao thông, hạ tầng du lịch xung quanh

Kiến nghị

Sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng và chính quyền từ Trung ương đến địa phương, đặc biệt là Tỉnh uỷ và Uỷ ban nhân dân tỉnh, đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và bảo vệ các di tích lịch sử văn hoá Các cấp uỷ và chính quyền địa phương cần có những chính sách cụ thể và tổ chức hoạt động phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ chính trị, đặc biệt là trong việc tổ chức các ngày lễ lớn tại các di tích lịch sử cách mạng Điều này không chỉ thể hiện lòng tri ân đối với những người có công với nước mà còn góp phần bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích lịch sử văn hoá trên địa bàn tỉnh.

Các cơ quan chuyên môn quản lý di tích lịch sử văn hóa cần thường xuyên theo dõi và thực hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo từ các cấp ủy Đảng và chính quyền.

Để bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa, 86 địa phương cần nâng cao năng lực lãnh đạo và chỉ đạo của tổ chức Đảng và chính quyền các cấp Việc quản lý và phát huy các giá trị di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh cần được thực hiện một cách chất lượng và hiệu quả Do đó, xin đề xuất một số kiến nghị nhằm cải thiện công tác này.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa (DSVH) Việc xây dựng kế hoạch và chính sách kịp thời, phù hợp sẽ giúp cụ thể hóa Luật Di sản văn hóa trong các lĩnh vực bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích lịch sử văn hóa hiện nay.

Tăng cường tuyên truyền về Luật Di sản văn hóa là cần thiết để nâng cao nhận thức cộng đồng Cần xây dựng cơ chế và chính sách phù hợp nhằm hỗ trợ, khuyến khích và huy động sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong công tác xã hội hóa bảo vệ di tích.

Ba là, cần theo dõi chặt chẽ việc thực hiện quy hoạch các di tích, đồng thời xây dựng cơ chế chính sách tài chính chuyên ngành liên quan đến lập dự án, thiết kế và giám sát thi công tu bổ di tích, nhằm đảm bảo sự thống nhất trên toàn quốc.

Cần tăng cường kiểm tra công tác quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích trên toàn quốc Đồng thời, xây dựng cơ chế xử lý vi phạm trong lĩnh vực quản lý, bảo quản, tu bổ và phục hồi các di tích lịch sử văn hóa.

3.3.2 Với Ủ y ban nhân dân tỉnh Đắk Nông

Cần ban hành văn bản chỉ đạo các ngành và cấp tỉnh nhằm tăng cường quản lý và bảo tồn giá trị di tích lịch sử văn hóa Mục tiêu là ngăn chặn các hành vi vi phạm tại các di tích, đặc biệt là tình trạng lấn chiếm đất tại khu di tích.

Chỉ đạo các địa phương tiếp tục thực hiện nghiêm Quyết địnhSố: 37/2015/QĐ-UBND, có kế hoạch trùng tu, sửa chữa, chống xuống

87 cấp của các di tích.

Sở Tài Nguyên – Môi trường và Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch sẽ phối hợp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các di tích lịch sử văn hoá trên địa bàn tỉnh Điều này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý các di tích.

Chương trình mục tiêu giai đoạn 2020 – 2025 với tầm nhìn 2030 đã được ban hành nhằm hỗ trợ các di tích lịch sử trong giai đoạn đầu Ngân sách sẽ được ưu tiên để xây dựng trụ sở Bảo tàng tỉnh tại trung tâm Thị xã, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút khách tham quan, nghiên cứu, học tập và giáo dục về các giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống của tỉnh.

3.3.3 Đối với Sở Văn hoá – Thể thao và Du lịch

Tiếp tục thực hiện Chỉ thị 73/CT-BVHTTDL của Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch nhằm tăng cường quản lý di tích và nâng cao chất lượng bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích Đồng thời, xây dựng kế hoạch bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích cấp tỉnh đến năm 2025.

Cần tăng cường mở lớp tập huấn về nghiệp vụ và quản lý cho cán bộ phụ trách văn hóa tại các địa phương và ban quản lý di tích Đồng thời, cần thực hiện công tác tuyên truyền về Luật Di sản văn hóa và các văn bản hướng dẫn để nâng cao ý thức của người dân trong việc bảo vệ và gìn giữ giá trị di tích.

Thường xuyên tiến hành thanh tra và kiểm tra để phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm theo thẩm quyền Phối hợp với các ngành liên quan nhằm tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh xử lý triệt để các trường hợp vi phạm, từ đó hạn chế tình trạng xâm hại di tích.

Phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ nhằm nâng cao nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ trong quản lý nhà nước, bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa tại tỉnh, đồng thời kết hợp với phát triển kinh doanh du lịch.

3.3 4 Đối với Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã

Hàng năm, phòng Văn hoá thông tin cần xây dựng kế hoạch bảo vệ, bảo quản, tu bổ và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hoá, theo Quyết định số 37/QĐ-UBND của Uỷ ban nhân dân tỉnh Đắk Nông về việc phê duyệt Đề án phân cấp quản lý di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh.

Ngày đăng: 16/08/2021, 12:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN