1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Thơ tình yêu của Y Phương

103 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thơ tình yêu của Y Phương
Tác giả Trần Phương Trang
Người hướng dẫn PGS. TS Nguyễn Đức Hạnh
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Ngôn ngữ, văn hóa và văn học Việt Nam
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 784,82 KB

Cấu trúc

  • A. M Ở ĐẦ U (7)
    • 1. Lý do ch ọn đề tài (7)
    • 2. Lịch sử vấn đề (8)
    • 3. Đối tượ ng và ph ạ m vi nghiên c ứ u (11)
    • 4. M ục đích và nhiệ m v ụ nghiên c ứ u (11)
    • 5. Phương pháp nghiên cứ u (12)
    • 6. Đóng góp của luận văn (12)
    • 7. C ấ u trúc c ủ a lu ận văn (12)
  • B. N Ộ I DUNG (14)
  • Chương 1: THƠ Y PHƯƠNG TRONG NỀN THƠ CÁC DÂN TỘ C (14)
    • 1.1. Tiểu sử, sự nghiệp sáng tác và quan điểm nghệ thuật của nhà thơ Y Phương (14)
      • 1.1.1. Ti ể u s ử (14)
      • 1.1.2. S ự nghi ệ p sáng tác (16)
      • 1.1.3. Quan điểm nghệ thuật (18)
    • 1.2. Thơ Y Phương trong thơ các dân tộ c thi ể u s ố Vi ệ t Nam hi ện đạ i (23)
      • 1.2.1. Khái quát v ề thơ các dân tộ c thi ể u s ố Vi ệ t Nam hi ện đạ i (23)
      • 1.2.2. Khái quát v ề thơ Y Phương (26)
      • 1.2.3. Khái quát về thơ tình yêu của Y Phương (32)
  • Chương 2: NHỮNG ĐẶ C S Ắ C Ở PHƯƠNG DIỆ N N Ộ I DUNG (35)
    • 2.1. B ứ c tranh thiên nhiên, b ả n làng mi ền núi trong thơ tình yêu Y Phương (35)
      • 2.1.1. B ứ c tranh thiên nhiên, b ản làng thơ mộng trong thơ tình yêu Y Phương (35)
      • 2.1.2. Bức tranh thiên nhiên hoang sơ, dữ dội trong thơ tình yêu Y Phương (42)
    • 2.2. Hình ả nh con ngườ i mi ền núi trong thơ tình yêu Y Phương (45)
      • 2.2.1. Con ngườ i mi ề n núi trong n ỗ i nh ớ ngườ i yêu (45)
      • 2.2.2. Con ngườ i mi ề n núi th ủ y chung, s ẵn sàng vượ t qua tr ở ng ạ i th ử thách (47)
      • 2.2.3. Con người miền núi hồn nhiên, mãnh liệt trong tình yêu và tình dục (50)
      • 2.2.4. Con ngườ i mi ền núi giàu đứ c hy sinh trong tình yêu (53)
    • 2.3. Ý nghĩa triế t lu ận trong thơ tình yêu Y Phương (54)
      • 2.3.1. Tình yêu mang l ạ i v ẻ đẹ p và s ứ c s ố ng kì di ệu cho con ngườ i (54)
      • 2.3.2. Vĩ đại nhất trong tình yêu là người phụ nữ (57)
      • 2.3.3. S ự ng ậ m ngùi cho tu ổ i già và tình yêu (61)
  • Chương 3: NHỮNG ĐẶ C S Ắ C Ở PHƯƠNG DIỆ N HÌNH TH Ứ C (64)
    • 3.1. Biểu tượng nghệ thuật trong thơ tình yêu Y Phương (64)
    • 3.2. Ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ tình yêu Y Phương (72)
      • 3.2.1. Các t ừ lo ại được ưa thích sử d ụng trong thơ tình yêu Y Phương (73)
      • 3.2.2. Các bi ệ n pháp tu t ừ được ưa thích sử d ụng trong thơ tình yêu Y Phương (80)
    • 3.3. Gi ọng điệ u ngh ệ thu ật trong thơ tình yêu Y Phương (88)
      • 3.3.1. Giọng điệu ngợi ca tự hào (88)
      • 3.3.2. Gi ọng điệ u hoài ni ệ m, ti ế c nu ố i (91)
      • 3.3.3. Gi ọng điệ u chiêm nghi ệ m tri ế t lý (93)
    • C. K Ế T LU Ậ N (97)
    • D. TÀI LI Ệ U THAM KH Ả O (100)

Nội dung

M Ở ĐẦ U

Lý do ch ọn đề tài

1.1 Y Phương là một trong số ít những nhà thơ xuất sắc nhất của thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại nói riêng và cả nền thơ Việt Nam hiện đại nói chung Bằng tài năng và đam mê sáng tạo của mình, ông luôn nhận được sự đánh giá cao của giới nghiên cứu, phê bình văn học và lớp lớp thế hệ độc giả yêu văn học trong cả nước Nhà thơ đã được trao tặng nhiều giải thưởng cao quý: Giải A cuộc thi thơ Tạp chí Văn nghệ Quân đội 1984; Giải thưởng loại A của Hội Nhà văn Việt Nam (1987) với tập thơ Ti ế ng hát tháng

Y Phương, một nhà thơ nổi bật, đã nhận nhiều giải thưởng danh giá trong sự nghiệp văn học của mình Ông đã đạt Giải A của Hội đồng Văn học dân tộc - Hội Nhà văn Việt Nam với tập thơ "Lời chúc", cùng với Giải B của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam và Giải B của Bộ Quốc phòng vào năm 2001 với trường ca "Chín tháng" Đặc biệt, vào năm 2007, ông vinh dự nhận giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật Năm 2010, với tác phẩm tản văn "Tháng Giêng, tháng Giêng một vòng dao quắm", Y Phương đã được trao tặng giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam.

Việc chọn đề tài Thơ tình yêu của Y Phương cho luận văn Thạc sĩ không chỉ mang lại giá trị lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc.

1.2 Đã có nhiều bài viết, luận văn, luận án tìm thiểu về thơ Y Phương nói chung những chưa có một nhà nghiên cứu hay một công trình nghiên cứu chuyên biệt nào tìm hiểu về thơ tình yêu của Y Phương Do đó, công trình nghiên cứu của chúng tôi sẽ “lấp đầy” những “khoảng trắng” ấy Đề tài góp phần nhỏ bé vào việc giải mã những độc đáo, đặc sắc về nội dung và hình thức nghệ thuật trong thơ tình yêu Y Phương nhằm nhận diện và đánh giá đầy đủ, toàn diện hơn về giá trị, sự đóng góp của thơ Y Phương cho thành tựu chung của nền văn học nước nhà

1.3 Hiện nay, phân môn Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại đã được biên soạn và giảng dạy tại trường ĐHSP Thái Nguyên ở cấp học sau Đại học Nếu đề tài được thực hiện thành công thì đây sẽlà tư liệu tham khảo

Hai phương pháp hữu ích cho việc giảng dạy và học tập môn này, cũng như cho những ai mong muốn khám phá sâu hơn về thơ của các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại.

Lịch sử vấn đề

Y Phương, với kho tàng tác phẩm phong phú và đậm đà bản sắc văn hóa Tày, đã thu hút sự chú ý của đông đảo độc giả cũng như các nhà nghiên cứu và phê bình văn học trên toàn quốc Hiện tại, nhiều công trình nghiên cứu và đánh giá về Y Phương đã được công bố, bao gồm các bài viết trên báo chí, tạp chí và các chương trình phát thanh truyền hình.

- Nhà thơ Tày “tự đục đá kê cao quê hương” , tác giả Lê Thị Bích

- Nhà thơ Y Phương: Nói như người kinh thì tôi thua , tác giả Nông

Hồng Diệu, báo Tiền Phong.

- Y Phương “kê cao” thơ Tày hiện đại , tác giả Nguyễn Thúy Quỳnh,

Trang Nhà văn TP HCM

- Nhà thơ Y Phương , tác giả Vũ Bình Lục, Trang Văn hiến Việt Nam

- Nhà thơ Y Phương: Nhà văn và bạn đọ c không h ề có kho ả ng cách , tác giả Hoàng Thanh Hương.

- Thơ Y Phương , tác giả Nguyễn Sĩ Đại, báo Nhân dân

- Thơ tình yêu Y Phương , tác giả Phạm Quang Trung, Blog cá nhân

- M ột nét riêng thơ tình , tác giả Nguyễn Việt Siêu, báo điện tử Hải Dương.

Lê Thị Bích Hồng trong bài viết "Nhà thơ Tày tự đục đá kê cao quê hương" trên báo điện tử Cao Bằng đã nhấn mạnh rằng thơ Y Phương thể hiện khát vọng bảo tồn những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc Tày Ông tự hào về bầu không khí văn hóa độc đáo của vùng núi Cao Bằng, nơi ông có thể thỏa sức sáng tạo.

Cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của anh luôn thể hiện sự tiếc nuối về những ngày đã qua, những khoảnh khắc sắp rời xa, hoặc những điều sẽ mãi mãi mất đi trong đời sống của người Tày.

Nhận xét về giọng điệu thơ Y Phương, Nguyễn Thúy Quỳnh cho rằng:

Nhà thơ đã tạo nên một giọng điệu đa dạng trong tác phẩm của mình, kết hợp giữa chất trữ tình êm đềm và sắc thái sử thi hùng tráng Sự trải nghiệm cuộc sống, bản lĩnh, niềm tin cùng với tài năng và ý thức nghề nghiệp đã giúp ông thể hiện những tâm tư sâu lắng, vừa hồn nhiên chân chất Điều này tạo ra sự khác biệt rõ nét so với giọng điệu mạnh mẽ, hào sảng của các nhà thơ thế hệ trước, vốn tập trung vào lối kể tả chân thực mang đậm chất sử thi.

Trong lời kết bài viết “Thơ Y Phương” đăng trên trang báo Nhân dân,

Nguyễn Sĩ Đại nhấn mạnh rằng những câu thơ nhỏ bé của Y Phương, giống như chiếc ba-lô, chứa đựng những điều xa xôi và đẹp đẽ Ông cho rằng không cần bàn về triển vọng của Y Phương, mà điều quan trọng là khẳng định một hướng đi rõ nét từ tác giả này.

Trong bài viết trên blog cá nhân, Phạm Quang Trung đã nhận xét về hình ảnh “người tình” trong thơ tình yêu của Y Phương, cho rằng người tình trong tác phẩm của Y Phương luôn mang hình ảnh lý tưởng Họ thường không ưa thích sự ba hoa, mà thường thể hiện cảm xúc một cách kín đáo, ít lời hoặc có phần ấp úng khi đối diện với người mình yêu.

Tình yêu trong thơ Y Phương chủ yếu được thể hiện qua sự im lặng, giao tiếp bằng ánh mắt và cảm xúc Theo Nguyễn Việt Siêu, mặc dù chủ đề tình yêu không mới, nhưng thơ của Y Phương vẫn mang đến sự tươi mới và khác biệt, vượt qua những rào cản thông thường của thể loại này Sự nén lại của tình yêu có thể dẫn đến những bùng nổ cảm xúc mãnh liệt, tạo nên nét đặc trưng trong tác phẩm của anh.

Các bài viết được xuất bản trên các tờ báo, tạp chí và các phương tiện truyền thông khác chưa phải là những nghiên cứu hoàn chỉnh.

4 nghiên cứu có tính hệ thống sâu sắc nhưng cũng cho chúng ta thấy chân dung

Y Phương với những đứa con tinh thần của ông

Trong các tập thơ của Y Phương, bên cạnh những lời đề từ và lời bạt, có nhiều nhận xét và đánh giá sâu sắc về thơ tình yêu của ông, cũng như về thể loại thơ nói chung Những ý kiến này không chỉ làm nổi bật giá trị nghệ thuật của tác phẩm mà còn giúp người đọc hiểu rõ hơn về cảm xúc và tư tưởng trong thơ Y Phương.

Trong cuốn "Vũ Khúc Tày", Lê Thị Bích Hồng nhấn mạnh rằng tình yêu và vẻ đẹp của người phụ nữ là chủ đề chính, với màu sắc chủ đạo là màu yêu, thể hiện qua những gam màu và cung bậc khác nhau Nguyễn Đức Hạnh cũng chỉ ra rằng tập thơ này mang đến những điểm đặc sắc về tình yêu, không chỉ đơn thuần mô tả mà còn thể hiện triết luận sâu sắc Ngoài ra, các thủ pháp nghệ thuật như điệp cấu trúc và cách nói tăng cấp cũng được sử dụng một cách tinh tế Hiện nay, đã có một số công trình nghiên cứu khoa học về Y Phương, góp phần làm phong phú thêm hiểu biết về tác giả.

- Nguyễn Thị Thu Huyền (2009), Bản sắc Tày trong thơ Y Phương và

Dương Thuấn , Luận văn Th.s, Đại học Sư phạm Thái Nguyên.

- Sùng Thị Hương (2013), Đặc sắc tản văn Y Phương , Luận văn Th.s, Đại học Sư phạm Thái Nguyên.

Thơ tình yêu của Y Phương là một đề tài độc đáo và đặc sắc, nhưng hiện tại chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt và hệ thống về vấn đề này Các tài liệu hiện có chỉ dừng lại ở những bài viết chung chung và nhỏ lẻ Chính thực tế này đã thúc đẩy chúng tôi lựa chọn "Thơ tình yêu của Y Phương" làm đối tượng nghiên cứu.

Đối tượ ng và ph ạ m vi nghiên c ứ u

Luận văn này nghiên cứu về bức tranh thiên nhiên, bản làng miền núi, hình tượng con người miền núi, cùng với ý nghĩa triết luận và các biểu tượng nghệ thuật trong thơ Ngoài ra, nó còn phân tích hệ thống từ loại, biện pháp tu từ mà nhà thơ ưa dùng, ngôn ngữ nghệ thuật và giọng điệu nghệ thuật Qua đó, luận văn khẳng định phong cách nghệ thuật, thành tựu và đóng góp của nhà thơ vào nền thơ Việt Nam hiện đại, đặc biệt là trong bộ phận thơ dân tộc thiểu số.

Chúng tôi đã tuyển chọn, thống kê và nghiên cứu những bài thơ tình yêu thể hiện khát vọng hạnh phúc lứa đôi trong 6 tập thơ của Y Phương, từ "Tiếng hát tháng giêng" đến "Vũ khúc Tày".

+ Ti ế ng hát tháng Giêng (1986), NXB sởVăn hóa thông tin Cao Bằng + L ờ i chúc (1991), NXB Văn hóa dân tộc

+ Ngượ c gió (2006), NXB Văn hóa dân tộc

+ Thơ Y Phương (2002), NXB Hội nhà Văn

+ Đàn then (1996), NXB Hội nhà văn.

+ Vũ khúc Tày (2016), NXB Đại học Thái Nguyên

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã mở rộng và so sánh thơ tình yêu của Y Phương với tác phẩm của một số nhà thơ dân tộc khác.

Triệu Kim Văn, Mai Liễu, Dương Thuấn, Lò Ngân Sủn….

M ục đích và nhiệ m v ụ nghiên c ứ u

Nghiên cứu những đặc sắc về nội dung và hình thức nghệ thuật trong thơ tình yêu của Y Phương nhằm khẳng định giá trị các tác phẩm và cá tính sáng tạo độc đáo của nhà thơ.

Tìm hiểu một số vấn đề lí luận và thực tế liên quan đến đề tài.

Khảo sát, thống kê, phân tích, đánh giá những đặc sắc về nội dung và hình thức nghệ thuật trong thơ tìnhyêu của Y Phương.

Khám phá thêm các bài thơ tình yêu của các nhà thơ dân tộc cùng thời như Lò Ngân Sủn, Mai Liễu, Triệu Kim Văn, Dương Thuấn để so sánh và làm rõ cá tính sáng tạo cũng như những đóng góp của Y Phương trong nền văn học.

Phương pháp nghiên cứ u

Để thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng đồng bộ, linh hoạt các phương pháp nghiên cứu sau đây:

Phương pháp phân tích tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại

Phương pháp thi pháp học

Phương pháp nghiên cứu liên ngành (Văn hóa học, dân tộc học…).

Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng hàng loạt các thao tác nghiên cứu quen thuộc như: Thống kê, phân loại, so sánh…

Đóng góp của luận văn

Nghiên cứu này là công trình đầu tiên đi sâu và toàn diện vào bộ phận thơ tình yêu trong sự nghiệp sáng tác của Y Phương Qua đó, bài viết khẳng định phong cách nghệ thuật, thành tựu và đóng góp của thơ Y Phương đối với thơ ca dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại cũng như nền thơ ca nước nhà ngày nay.

Luận văn này cung cấp một tài liệu tham khảo quý giá cho việc giảng dạy và học tập môn Văn học Dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại trong các trường học.

C ấ u trúc c ủ a lu ận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được cấu trúc gồm 3 chương:

Chương 1: Thơ Y Phương trong nền thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại

Chương 2: Những đặc sắc ở phương diện nội dung trong thơ tình yêu

Chương 3: Những đặc sắc ở phương diện hình thức nghệ thuật trong thơ tình yêu Y Phương.

N Ộ I DUNG

THƠ Y PHƯƠNG TRONG NỀN THƠ CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

VIỆTNAM HIỆN ĐẠI 1.1 Tiểu sử, sự nghiệp sáng tác và quan điểm nghệ thuật của nhà thơ

Nhà thơ Y Phương, tên thật là Hứa Vĩnh Sước, sinh ngày 24 tháng 12 năm 1948 tại làng Hiếu Lễ, xã Lăng Hiếu, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng Ông đã thể hiện quê hương và cuộc đời mình qua những vần thơ sâu sắc trong tác phẩm "Tên làng".

“Con là con trai của mẹ Người đàn ông ở làng Hiếu Lễ

Ba mươi tuổi từ mặt trận về Vội vàng cưới vợ”

Làng Hiếu Lễ, nơi gắn liền với hình ảnh “ngôi nhà xây bằng đá hộc”, là quê hương của Y Phương, người được biết đến với danh xưng “Người trai làng Hiếu Lễ” Ông may mắn sinh ra tại vùng đất văn hóa Tày, Cao Bằng, nơi có cảnh sắc thiên nhiên tuyệt đẹp và nền văn hóa truyền thống đặc sắc Tại đây, các giá trị văn hóa dân tộc Tày hiện rõ trong đời sống của cư dân, đồng thời nơi này cũng lưu giữ những chiến công vẻ vang của quân và dân trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập tự do cho dân tộc.

Bế Khắc Thiệu, Nông Đắc Thái, Lê Văn Khôi, Nông Văn Vân….

Cao Bằng, với lịch sử phong phú và nền văn hóa đa dạng, là nơi sản sinh ra nhiều nhà thơ, nhà văn nổi tiếng của dân tộc Việt Nam, trong đó có Hoàng Đức Hậu, một nhà thơ người Tày, nổi bật với khả năng sử dụng chữ Nôm Tày một cách thành thạo.

THƠ Y PHƯƠNG TRONG NỀN THƠ CÁC DÂN TỘ C

Tiểu sử, sự nghiệp sáng tác và quan điểm nghệ thuật của nhà thơ Y Phương

Nhà thơ Y Phương, tên thật là Hứa Vĩnh Sước, sinh ngày 24 tháng 12 năm 1948 tại làng Hiếu Lễ, xã Lăng Hiếu, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng Ông đã thể hiện quê hương và cuộc đời mình một cách sâu sắc qua những vần thơ trong bài thơ "Tên làng".

“Con là con trai của mẹ Người đàn ông ở làng Hiếu Lễ

Ba mươi tuổi từ mặt trận về Vội vàng cưới vợ”

Làng Hiếu Lễ, nơi gắn liền với Y Phương, nổi bật với “ngôi nhà xây bằng đá hộc”, là cái nôi văn hóa của người Tày tại Cao Bằng Tại đây, văn hóa truyền thống dân tộc Tày được thể hiện rõ nét trong đời sống vật chất và tinh thần của cư dân Làng cũng là nơi ghi dấu những chiến công vĩ đại của quân và dân ta trong các cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập, với những tên tuổi đã đi vào lịch sử.

Bế Khắc Thiệu, Nông Đắc Thái, Lê Văn Khôi, Nông Văn Vân….

Cao Bằng, với lịch sử phong phú và nền văn hóa đa dạng, đã sản sinh ra nhiều nhà thơ, nhà văn nổi tiếng của dân tộc Việt Nam, trong đó có Hoàng Đức Hậu, một nhà thơ Tày tài năng, người sử dụng chữ Nôm Tày một cách thuần thục.

Có 9 tác phẩm nổi bật để lại di sản cho thế hệ sau, bao gồm "Dặn vợ dặn con" của nhà thơ Dao Bàn Tài Đoàn (1944) và "Muối cụ Hồ" (1960) Bên cạnh đó, nhà thơ Tày Hoàng Triều Ân cũng góp mặt với các tác phẩm như "Tung Còn" và "Suối đàn" (1963) cùng "Trên vùng mây trắng".

Vi Hồng, người dân tộc Tày, đã trở thành thầy giáo dạy Văn tại trường ĐHSP Việt Bắc từ năm 2011 Ông là tác giả của 19 đầu sách, trong đó có nhiều tác phẩm văn xuôi nổi bật như "Người trong ống" và "Gã ngược đời" (1990) cùng với "Tháng năm biết nói".

Cao Duy Sơn, một nhà văn dân tộc Tày nổi bật từ Cao Bằng, đã ghi dấu ấn với các tác phẩm tiểu thuyết nổi tiếng như "Người lang thang" (1992), "Đàn trời" (2006) và "Chòm ba nhà" (2009) Bên cạnh đó, Hữu Tiến, cũng là một nhà văn Tày, đã cho ra mắt 7 đầu sách, trong đó nhiều tác phẩm truyện ngắn của ông đã giành được giải thưởng cao, nổi bật là "Trăng gần".

(1993), Ngọn suối chân rừng (1997), Đèo không lặng gió (2002)…Đó là

Hoàng Quảng Uyên, một tác giả người dân tộc Tày, đã thành công trong nhiều lĩnh vực như văn học, báo chí, viết kịch bản phim và phê bình văn học Một số tác phẩm nổi bật của ông bao gồm "Thầy giáo đại học" (1998) và "Vọng tiếng non ngàn" (2011) Bên cạnh đó, còn có nhiều nhà văn, nhà thơ khác như Đoàn Văn Lư và Đoàn Minh cũng đóng góp đáng kể cho nền văn học Việt Nam.

Ngọc…Truyền thống văn học này có ảnh hưởng rất lớn đến các sáng tác của nhà thơ Y Phương

Y Phương lớn lên trong một gia đình trí thức dân tộc thiểu số với truyền thống hiếu học Cha của ông, cụ Hứa Văn Cường, là người biết chữ Nho, làm thầy tào và chữa bệnh Ngày nhỏ, cậu bé Sước đã theo cha tham gia các nghi lễ, được cha truyền dạy chữ viết của người Tày, từ đó sớm biết chữ Nôm Tày và hiểu rõ văn học Tày Mẹ Sước, bà Nông Thị Lộc, là một người phụ nữ tháo vát, luôn khích lệ con trai về lòng can đảm và bản lĩnh Hứa Vĩnh Sước lớn lên với niềm tự hào về truyền thống quê hương và gia đình.

Lên 9 tuổi, Hứa Vĩnh Sước mới tập nói tiếng Kinh Niềm đam mê văn chương manh nha và phát lộ khi cha thấy cậu con trai nghiền ngẫm sách như một “con mọt” Vĩnh Sước tâm sự “Tôi coi sách như bạn Vì tôi không có hứng thú ham chơi thả diều, đá bóng như nhiều bạn cùng lứa…" [13] Ngày ngày, cậu tiết kiệm tiền ăn sáng mẹ cho để mua sách về đọc Mỗi khi mệt mỏi hay chán trường, sách chính là người bạn tri kỷ giúp Vĩnh Sước vượt qua tất cả

Học hết cấp I, cấp II, đang học dở cấp III ở Trùng Khánh, chàng trai làng

Hiếu Lễ đã có một quyết định táo bạo: tạm thời nghỉ học để nhập ngũ năm

1968 vào Binh chủng Đặc công Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã

“kích hoạt”, “châm ngòi”, dung dưỡng, tạo nên hồn thơ cho chàng lính trẻ đặc công

Sau khi miền Nam được giải phóng và đất nước thống nhất, anh quyết định theo đuổi giấc mơ học vấn còn dang dở Năm 1976, anh gia nhập Trường Điện ảnh Việt Nam và đến năm 1982, anh đã thực hiện được ước mơ khi trở thành học viên của Trường Viết văn Nguyễn Du (khóa II, 1982-1985) Anh say mê tiếp thu tri thức từ thầy và tích cực học hỏi từ các bạn văn chương trên khắp đất nước.

Pờ Sảo Mìn, Phạm Ngọc Chiểu, Đức Ban, Phùng Khắc Bắc, Thanh Kim, Hà Đình Cẩn, Nguyễn Trác

Năm 1986, Y Phương về nhận công tác tại Sở Văn hóa - Thông tin Cao

Ông đã đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng tại tỉnh Cao Bằng, bắt đầu từ năm 1991 khi được bầu làm Phó Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin Đến năm 1993, ông trở thành Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Cao Bằng và là ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn.

Việt Nam khóa VI Hiên nay, ông là ủy viên BCH hội Nhà văn Việt Nam, phó

CT hội đồng thơ – hội Nhà văn Việt Nam

Vốn là có năng khiếu văn chương, Y Phương đến với thơ ca như một

“định mệnh” không thể chối từ, như là duyên nghiệp và lẽ sống Ông bắt đầu

Vĩnh Sước, một chiến sĩ bộ đội đặc công, bắt đầu sáng tác thơ từ năm 1972 khi tham gia cuộc thi Báo tường cùng đồng đội Hai bài thơ của ông, "Bếp nhà trời" và "Dáng một con sông," đã được nhà thơ Văn Thảo Nguyên chọn đăng trên tạp chí Văn nghệ Quân đội, đánh dấu khởi đầu sự nghiệp văn học của ông Tên tuổi Vĩnh Sước được khẳng định với bài thơ "Tiếng hát tháng Giêng," đạt giải A tại cuộc thi thơ tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1984 Ông được công nhận là một nhà thơ xuất sắc với sự nghiệp văn chương đáng khâm phục.

Từ khi “bước chân”vào làng văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam đến nay,

Y Phương đã là tác giả của 1 tập kịch, 7 tập thơ, 2 trường ca, 3 tập tản văn Các tác phẩm tiêu biểu phải kểđến:

Tiếng hát tháng giêng (1986), Lời chúc (1987), Đàn then (1996), Thơ Y Phương (2000), Thất tàng lồn – Ngược gió (Thơ song ngữ Việt – Tày, 2006), Bài hát cho sả (2011), và Tủng Tày – Vũ khúc Tày (Thơ song ngữ Việt – Tày, 2016) là những tác phẩm tiêu biểu thể hiện sự phong phú và đa dạng trong văn học và âm nhạc của cộng đồng dân tộc Tày, góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

Tháng Giêng, tháng Giêng một vòng dao quắm (2009), Kungfu người

Cô Xàu (2010), Fừn nèn – củi tết (2015)

Với khối lượng tác phẩm đồ sộ và có giá trị như trên, Y Phương đã vinh dự được nhận nhiều giải thưởng cao quý:

Giải A Hội nhà văn Việt Nam, 1987 (Tiếng hát tháng Giêng - thơ) Giải A Hội nhà văn Việt Nam, 1992 (Lời chúc - thơ)

Giải B (không có giải A) Bộ quốc phòng, 2000 (Chín tháng - Trường ca) Giải Nhất cuộc thi thơ tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1984 (Chùm

12 thơ: Phòng tuyến Khau Liêu, Tên Làng, Nói với con) và nhiều giải thưởng khác của Tuần báo Văn nghệ

Giải thưởng nhà nước về Văn học Nghệ thuật (3 tập thơ Tiếng hát tháng giêng, Chín tháng, Lời chúc)

Hồn thơ Y Phương là sự kết tinh của tài năng nghệ thuật bẩm sinh, quá trình lao động nghệ thuật gian khổ, và tình yêu quê hương đất nước sâu sắc Ông mang trong mình vốn văn hóa phong phú, được hình thành từ nền văn hóa Tày đặc sắc, thể hiện tình cảm mãnh liệt với quê hương qua từng câu chữ.

Y Phương là tác giả có nhiều trăn trở về sáng tác văn chương Ông có những “tuyên ngôn” thể hiện rõ quan điểm nghệ thuật của mình

Trong truyện ngắn “Đời thừa”, Nam Cao nhấn mạnh rằng văn chương không cần những người chỉ biết làm theo mẫu, mà cần những người có khả năng đào sâu, tìm tòi và sáng tạo Tương tự, nhà thơ Y Phương cũng khẳng định quan niệm sáng tác của mình là thể hiện những cảm xúc chân thật, như việc tháo dòng nước tình cảm đang tràn đầy trong con người.

Thơ Y Phương trong thơ các dân tộ c thi ể u s ố Vi ệ t Nam hi ện đạ i

1.2.1 Khái quát về thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại

Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, mặc dù còn non trẻ với chưa đầy một thế kỷ hình thành và phát triển, đã nhanh chóng gia tăng về số lượng tác giả và tác phẩm Mảng văn học này nổi bật với sự phong phú và đa dạng trong nhiều thể loại khác nhau.

Thơ dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại đã đóng góp đáng kể vào sự phát triển của văn học nước nhà, với ba chặng đường phát triển chính.

Giai đoạn trước và sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1954 đánh dấu sự xuất hiện của những tác giả và tác phẩm đầu tiên trong nền thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại Một trong những tác giả tiêu biểu là Nông Quốc Chấn, nổi bật với các tác phẩm như "Mưa gió" (1942), "Việt Bắc đánh giặc" (1948) và "Rời rừng."

(1954), Thư lên biên giới(1954); Nông Viết Toại với Lẩn tuyển cáu(1954);

Lương Quy Nhân với Cán bộ với dân mường(1947); Bàn Tài Đoàn với

Kỷ niệm 69 năm giải phóng thủ đô (1954), các tác phẩm văn học thời kỳ này nổi bật với sự kết nối giữa thơ ca và cách mạng Những bài thơ không chỉ phản ánh tinh thần yêu nước mà còn làm nổi bật văn hóa đa dạng của các dân tộc thiểu số thông qua những hình thức thơ độc đáo và giản dị.

Từ năm 1954 đến 1975, đội ngũ sáng tác văn học trở nên phong phú và đông đảo, dẫn đến sự ra đời của nhiều tác phẩm có giá trị.

Nông Quốc Chấn với tác phẩm "Người núi hoa" (1958) và "Đèo gió" (1968), cùng với Nông Viết Toại trong "Đét chang nâm" (1974), Vương Anh với "Sao chóp núi" (1968), Mã A Lềnh trong "Rừng sáng" (1978), và Bàn Tài Đoàn với "Xuân về trên núi" (1963) và "Sáng cả hai miền" (1975) đã thể hiện sự mở rộng đề tài trong thơ ca giai đoạn này Sự thay đổi này chủ yếu là do miền Bắc được giải phóng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu giữa hai miền Bên cạnh đó, nhân dân các dân tộc thiểu số có cơ hội tiếp xúc nhiều hơn với Hà Nội - trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị và xã hội của cả nước thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như đài và báo Hơn nữa, nhiều con em dân tộc thiểu số đã được đào tạo trong hệ thống giáo dục xã hội chủ nghĩa, mở rộng tầm nhìn cho các nhà thơ dân tộc thiểu số.

Sau năm 1975, nhiều tác giả gặp khó khăn trong sáng tác do sự phức tạp của cuộc sống xã hội và khủng hoảng Nông Viết Toại ngừng sáng tác, trong khi Cầm Biêu viết ít hơn Dù vậy, nhiều cây bút quen thuộc vẫn tiếp tục cho ra đời những tác phẩm nổi bật, như Nông Quốc Chấn với "Dòng thác" (1977) và bài thơ Pác.

Bó (1982), Triều Ân với Chốn xa xăm (1990), Bàn Tài Đoàn với Gửi đồng bào dao (1979)… Cùng với đó là sự xuất hiện của nhiều tác giả mới:

Lò Ngân Sủn đã có nhiều tác phẩm nổi bật như Chiều biên giới (1989) và Đám cưới (1991) Dương Thuấn với Đi tìm bóng núi (1993) và Mai Liễu với Suối làng (1994) cũng góp phần làm phong phú thêm nền văn học Các tác phẩm như Mây vẫn bay về núi (2001) và Pờ Sảo Mìn với Cây hai ngàn lá (1992) thể hiện sự đa dạng trong sáng tác Bài ca hoang dã (1993) và Cung đàn biên giới (2003) là những tác phẩm tiêu biểu khác Đặc biệt, Y Phương đã để lại dấu ấn sâu sắc với hàng loạt tập thơ xuất sắc như Tiếng hát tháng giêng (1986), Lời chúc (1991), Đàn then (1996) và Ngược gió (2006).

Mỗi nhà thơ dân tộc thiểu số Việt Nam đều thể hiện tiếng nói tâm hồn riêng, tạo nên sắc thái độc đáo trong thơ ca nhưng vẫn hòa quyện vào dòng chảy văn hóa chung của đất nước Dù có sự khác biệt về độ đậm nhạt trong sáng tác, tác phẩm của họ luôn là sự kết tinh giữa bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc và văn hóa Việt Nam.

Thơ của các nhà thơ dân tộc thiểu số mang đậm phong cách miền núi với sự mộc mạc, tinh tế và độc đáo, thể hiện sự giao thoa hài hòa giữa văn hóa dân tộc và vùng miền Mặc dù có sự tương đồng, mỗi tác giả vẫn bộc lộ bản sắc văn hóa và cá tính sáng tạo riêng, tạo nên sự khác biệt trong tác phẩm của họ Sự kết hợp giữa những điểm tương đồng và khác biệt này đã hình thành một nền thơ các dân tộc thiểu số vừa nhất quán vừa phong phú, đặc sắc.

Hòa chung trong dòng mạch ấy là các nhà thơ dân tộc Tày Trong đó,

Y Phương đã khẳng định vị trí của mình như một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của nền thơ ca dân tộc thiểu số Việt Nam Những sáng tác của ông không chỉ hòa nhập vào dòng chảy chung của văn học mà còn giữ được bản sắc riêng biệt Thơ Y Phương góp phần làm phong phú bức tranh thơ ca dân tộc, đặc biệt là sắc thái văn hóa dân tộc Tày, tạo nên một dấu ấn quan trọng mà nếu thiếu đi sẽ làm cho bức tranh ấy trở nên khuyết thiếu.

Khánh, Cao Bằng, thơ Y Phương là tiếng nói tâm hồn của người Tày, phản ánh niềm vui, nỗi buồn và những chủ đề tự nhiên, xã hội qua những hình thức và dáng vẻ mới Dù bề ngoài giản dị, kín đáo, ít nói, nhưng thơ của Y Phương thể hiện một tâm hồn đầy nhiệt huyết và tình yêu mãnh liệt với cuộc sống.

1.2.2 Khái quát về thơ Y Phương

Y Phương là một trong những nhà thơ tiêu biểu của văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại Nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học và các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng đã có những đánh giá sâu sắc về thơ ca của ông.

Khảo sát toàn bộ các tập thơ của Y Phương và nghiên cứu ý kiến, nhận định từ các chuyên gia, chúng tôi đã rút ra những đặc điểm chung nổi bật trong thơ của ông.

* Đềtài trung tâm trong thơ Y Phương

Thơ Y Phương nổi bật với tinh thần dân tộc và lòng yêu nước mãnh liệt Đặc điểm này cũng được thể hiện rõ trong tác phẩm của nhiều nhà thơ dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại như Triều Ân, Nông Minh Châu và Nông Viết.

NHỮNG ĐẶ C S Ắ C Ở PHƯƠNG DIỆ N N Ộ I DUNG

B ứ c tranh thiên nhiên, b ả n làng mi ền núi trong thơ tình yêu Y Phương

Y Phương thể hiện tình yêu sâu sắc với vẻ đẹp của thiên nhiên quê hương qua các bài thơ về tình yêu Ông khám phá thiên nhiên với nhiều hình ảnh đa dạng, từ hùng vĩ, dữ dội đến thơ mộng, diễm lệ Phong cảnh núi cao được miêu tả vừa hoang sơ, hiểm trở, vừa trữ tình, phản ánh tâm trạng của con người miền núi khi yêu, như một minh chứng cho câu nói của Nguyễn Du.

“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”

Truyện Kiều trở nên độc đáo và kỳ diệu nhờ tình yêu, với những nét vẽ uyển chuyển về hình ảnh, âm thanh, màu sắc và hương vị.

2.1.1 B ứ c tranh thiên nhiên, b ả n làng thơ mộ ng trong thơ tình yêu Y Phương

Khung cảnh thiên nhiên Cao Bằng hiện lên thơ mộng và tinh khôi, như một thế giới cổ tích qua những bài thơ của Y Phương Nơi đây có cây cối, chim muông, hoa thơm trái ngọt và những mùa lúa chín vàng, tạo nên không gian lý tưởng cho tình yêu nở hoa và hạnh phúc.

Còn gì tuyệt vời hơn việc mỗi chiều xuân được ngắm em gái chăn bò bên đồi hoa sim bạt ngàn sắc tím:

Hỡi người em gái nhỏ Chăn con bò nhỏ Chiều xuân Bên đồi hoa sim

Em nhỏ bé bên đồi sim tím, nơi anh lặng lẽ ngắm nhìn cô gái chăn bò Hương thơm của em hòa quyện với thiên nhiên, tạo nên một cảm giác thanh khiết Cái "hương đồng gió nội" ấy sẽ theo anh suốt đời, nhờ tình yêu mà sự mộc mạc và đắm say của hương sắc ấy trở nên đặc biệt hơn bao giờ hết.

Cảnh sắc thiên nhiên đẹp nhất khi vào mùa xuân Nếu như Dương

Mùa xuân về mang đến vẻ đẹp rực rỡ cho quê hương, với sắc hoa mận, hoa mơ nở rộ, làm bừng sáng khung cảnh núi rừng Thuấn đã miêu tả một cách say sưa: “Mùa xuân lại đến với non ngàn bao la/Dọc thung trời trắng hoa mận hoa mơ” trong bài thơ "Mùa xuân bản Hon" Trong khi đó, Y Phương cũng có những cách diễn đạt độc đáo riêng về vẻ đẹp mùa xuân.

Lá vừa thơm Hoa vừa non

Quả vừa giòn Con cái nhà ai đi ngang qua e thẹn

Tết ở lại Mưa sương như hoa rơi

Rừng đào ló lé nụ Khuôn mặt cười

Chàng Đông đã từng đứng giữa gió lạnh, nhưng giờ đây nàng Xuân đã trở mình thức dậy, mang theo sự rộn ràng của thời gian Sự xuất hiện của Xuân được thể hiện qua sự thay đổi của lá, hoa và quả, đánh dấu sự khởi đầu của mùa mới.

Mùa xuân mang đến vẻ đẹp và hương vị tuyệt vời, là thời điểm của những cơn mưa phùn kéo dài, tạo điều kiện cho sự hồi sinh của cây cối và muôn loài Những giọt "mưa sương" rơi xuống như những cánh hoa xoan, góp phần làm cho không gian thêm sống động và tươi mới.

Trong không khí xuân nhẹ nhàng, 31 hoa ban rơi lả tả giữa gió, tạo nên bức tranh mùa xuân sống động Nét vẽ nổi bật nhất chính là hương sắc của rừng đào đang nở những nụ hoa đầu tiên Khác với những cây đào đơn lẻ ở dưới xuôi, nơi đây là những cánh rừng hoa đào trải dài tít tắp Vào mùa đông, rừng đào trút lá, chỉ còn lại những cành cây khẳng khiu, nhưng khi xuân về, nó bừng tỉnh với sức sống mới, khoe sắc nụ và cánh hoa cùng những mầm non xanh tươi Bức tranh thiên nhiên đầu xuân thêm phần tươi đẹp nhờ hình ảnh các cô gái mới lớn, e thẹn và duyên dáng, trở thành biểu tượng cho mùa xuân vùng cao.

Thiên nhiên vào cuối mùa xuân cũng mang một vẻđộc đáo:

Tháng ba quê tôi Núi ra hoa

Cây ra lộc ra cành Đàn bà ra bầu Đàn ông ra râu Đá vật mình đê mê ngấn nước Tháng ba quê tôi

Tháng ba tưng bừng Đất trời gieo tương lai vào giống cái

Tháng ba, khi xuân chuẩn bị nhường chỗ cho hè, thiên nhiên khoác lên mình vẻ đẹp rực rỡ với sắc hoa, lá và cành Đây là mùa sinh sôi nảy nở, không chỉ của vạn vật mà còn của con người, khi tình yêu thăng hoa, dẫn đến việc xây dựng tổ ấm và thực hiện thiên chức sinh con, đẻ cái.

Ta cũng từng bắt gặp bức tranh thiên nhiên cuối xuân trong thơ Lò Ngân Sủn:

Rừng mặc áo xanh Núi đội nón mây Gió quẩy hương hoa

(Lò Ngân Sủn –Đường dốc)

Và đây, thiên nhiên cuối xuân trong thơ Pờ Sảo Mìn:

Lá cây mai mọc dài xanh biếc Hoa rừng toa hương bay

Bầy ong mật ngất ngây

Bức tranh thiên nhiên cuối xuân trong thơ tình yêu của Y Phương và các nhà thơ dân tộc thiểu số khác đều được miêu tả với sự rực rỡ, lộng lẫy và đầy sức sống Tuy nhiên, điều đặc sắc trong sáng tác của Y Phương là sự kết hợp tình yêu đôi lứa, làm cho bức tranh thiên nhiên trở nên độc đáo và kỳ diệu hơn.

Xuân qua, hè tới, mảnh đất Trùng Khánh được bao phủ bởi gam màu vàng rực của những cánh đồng lúa chín:

Gánh lúa vàng Nghít ngát gánh lúa vàng Cánh đồng khỏe

Những bắp chân đàn bà

Pặp pặp dội về làng

Bỏ lại cánh đồng Gió hoang

Mùa thu hoạch lúa đã đến, những người phụ nữ vạm vỡ gánh những bông lúa chín vàng từ cánh đồng trở về làng, tạo nên khung cảnh tuyệt đẹp, gợi lên cảm giác no đủ và bình yên của quê hương.

Buổi sáng mùa hè hiện lên trong thơ tình yêu Y Phương cũng không kém phần thơ mộng:

Thấp thoáng nhà khép hờ Sương mơn man quanh hồ Mặt trời long lanh tươi

Ta ngồi nhâm nhi ai Tia nắng sớm rong chơi Loang loang mây ngang trời Sao lòng ta bồn chồn

Bồn chồn quá người ơi

Những ngôi nhà ẩn mình trong khe núi với cửa "khép hờ" tạo nên vẻ đẹp bình yên Hạt sương đêm vẫn còn đọng lại quanh hồ, khi mặt trời bắt đầu ló rạng với những tia nắng sớm len lỏi khắp bản làng Cảnh vật thật nên thơ với mây "loang loang" ngang trời, mang đến cảm giác thư thái cho mọi người.

Khung cảnh ấy khiến con người không khỏi bồn chồn nhớ nhung Thật lý tưởng khi ngồi "ninh nhớ" vào những buổi sáng mùa hè như thế

Vẫn là sáng sớm mùa hè, nhưng trong bài "Đàn chim trắng", Y Phương lại có những nét vẽ mới mẻ:

Sớm nay khẽ mở cửa ra Giàn mướp hương rung rinh đài hoa Con ếch cốm vịt bơi rinh rích

Ngọn gió nồm chảy quanh người xanh mướt Thung lũng em như chìm lặng yêu thương

Mỗi sáng sớm, mở cửa đón nhận sự sống tươi mới với giàn mướp nở hoa và những chú ếch bơi lội, báo hiệu mùa sinh nở Giữa cái nóng oi ả của mùa hè, những cơn gió nồm thổi qua, mang lại sự mát mẻ cho không gian Tất cả tạo nên một "thung lũng" đầy yêu thương và sự sinh sôi nảy nở của thiên nhiên.

Đêm hè mang vẻ đẹp tĩnh lặng, khác hẳn với sự rực rỡ của buổi sáng Ánh trăng nhẹ nhàng chiếu sáng, sương lắng đọng dịu dàng và mây trôi chầm chậm, tất cả đều hoạt động "khe khẽ" để gìn giữ không gian yên ả Trong khung cảnh tĩnh lặng ấy, con người dễ dàng cảm nhận nỗi nhớ nhung về một nửa yêu thương.

Khung cảnh thơ mộng của dòng sông, với hàng tre xanh mát hai bên bờ, tạo nên không gian lý tưởng cho những cuộc hẹn hò, chắp cánh cho tình yêu đôi lứa.

Chúng tôi lớn lên hai triền sông Hiến

Chỗ hàng tre vừa đủlá đan sàng

Hình ả nh con ngườ i mi ền núi trong thơ tình yêu Y Phương

2.2.1 Con ngườ i mi ề n núi trong n ỗ i nh ớ ngườ i yêu

Tình yêu luôn gắn liền với nỗi nhớ sâu sắc Đối với Lò Ngân Sủn, nỗi nhớ trở nên cụ thể, như thể có thể chạm vào và cảm nhận được, thể hiện rõ ràng qua những hình ảnh sống động.

"quả nhớ" "Quả nhớ" ấy nằm ở mọi nơi, mọi chốn trên tất cả cơ thể rực cháy của người con trai miền núi:

Quả nhớ bằng trái núi

Quả mong bằng quả trời"

(Lò Ngân Sủn – Con của núi)

Y Phương thể hiện nỗi nhớ một cách giản dị nhưng độc đáo qua hình ảnh "như chim nhớ tổ" Dù cố gắng kiềm chế bằng lý trí, trái tim vẫn không thể ngăn cản cảm xúc mãnh liệt Nhân vật trữ tình chỉ ao ước được gặp gỡ và hôn người mình yêu để thỏa lòng nhớ nhung Trong tâm trạng đó, anh nhớ em như chim nhớ tổ, mong em trở về, dù không cần cười tươi, chỉ cần hiện diện trước mặt để anh có thể hôn em.

Trong bài thơ "Xé," nỗi nhớ của người miền núi được thể hiện một cách độc đáo qua những câu thơ như: "Ta nhớ em đến chín," "Ta nhớ em đến sống," và "Ta quên mình đang thai." Tác giả khắc họa tình yêu sâu sắc, mạnh mẽ với hình ảnh "Ta yêu em sớm mai," thể hiện sự khao khát và niềm đam mê mãnh liệt dành cho người mình yêu.

Trong tình yêu, nỗi nhớ trở nên da diết và mãnh liệt, thể hiện qua những cảm xúc cháy bỏng như "đến chín", "đến sống" Anh yêu em đến mức không ngừng nghĩ về em, yêu em ở mọi lúc, mọi nơi, từ sớm mai đến chiều tà Tình yêu này ngày càng dữ dội, như những cơn giông bão bất ngờ Cuối cùng, "ta" sẵn sàng dâng hiến cả thân thể cho người yêu, thể hiện sự tận tụy và sâu sắc trong tình cảm.

Bài thơ dưới đây cũng mang vẻđẹp tương tựnhư thế:

Trời đùng đục mây buồn

Tiếng giao khẽ qua ngõ

Ta ngồi nhâm nhi nhớ

Ta ngồi ninh nỗi nhớ

Nỗi nhớ người yêu được mô tả bằng động từ đặc sắc "ninh" Ta thường nghe nói đến "ninh xương" chứ chưa bao giờ nghe nói đến "ninh nhớ" Y

Phương thể hiện nỗi nhớ người yêu một cách độc đáo, khiến người đọc cảm nhận được sự da diết và kéo dài vô tận của nhân vật trữ tình Đôi khi, nỗi nhớ ấy mạnh mẽ đến mức có thể làm đảo lộn cả thế giới.

Một người nhớ một người Làm trái đất nghiêng

Cả nhân loại không hay biết

Nỗi nhớ là âm thanh vang vọng, là ngọn lửa cháy bỏng trong tâm hồn, và là sức mạnh mãnh liệt như dòng thác lũ Khi yêu, ta dồn hết tâm huyết vào người mình thương, vì vậy sự vắng mặt của họ trở thành nỗi đau đớn tột cùng.

Thế giới âm thanh câm Ngày mai

Thế giới sắc hình mù

Ta lên giường giả vờ ngủ Giấc mơ vò nát chăn chiếu

Thế giới trở nên sống động và đẹp đẽ nhờ âm thanh và sự phát triển của mọi thứ xung quanh Tuy nhiên, khi bước vào tình yêu, chỉ cần thiếu vắng nửa kia trong một ngày hay đêm, mọi thứ dường như sụp đổ Thế giới trở nên "câm" và "mù", chỉ còn lại hình bóng của người yêu trong tâm trí Cảm giác này khiến họ rơi vào trạng thái điên loạn, và dù cố gắng tìm đến giấc ngủ để quên đi nỗi nhớ, những khắc khoải vẫn không thể xóa nhòa.

"Giấc mơ vò nát chăn chiếu"

Nỗi nhớ trong tình yêu của người miền núi được Y Phương thể hiện một cách mãnh liệt và độc đáo, tạo nên phong cách nghệ thuật thơ tình yêu riêng biệt của ông Sự sáng tạo trong cách diễn đạt nỗi nhớ này đã góp phần quan trọng vào giá trị nghệ thuật của tác phẩm.

2.2.2 Con ngườ i mi ề n núi th ủ y chung, s ẵ n sàng vượ t qua tr ở ng ạ i th ử thách trong tình yêu

Những chàng trai, cô gái miền núi còn rất thủy chung trong tình yêu:

Hôm nay, khi đi trên đường, tôi thấy nhiều cây cối, hoa nở rực rỡ và trái chín ngọt Cảnh vật xung quanh tràn đầy cỏ lạ Tôi nhớ về cây mác mật ở nhà, với những chiếc lá treo từng giọt sương, luôn dõi theo và lắng nghe tôi.

Trong bài viết này, tác giả thể hiện nỗi nhớ và tình yêu thương mạnh mẽ giữa những người yêu nhau, dù bên ngoài có bao nhiêu điều mới mẻ và hấp dẫn Hình ảnh "cây mác mật" được ví như một biểu tượng cho tình cảm giản dị nhưng sâu sắc, luôn gắn bó với những kỷ niệm đẹp Mỗi lá của cây không chỉ là một phần của thiên nhiên mà còn là mắt trông chờ, ngóng đợi những người đã rời xa trở về, khẳng định rằng tình yêu chân thành không bao giờ bị lung lay bởi những cạm bẫy bên ngoài.

Họ luôn giữ lòng chung thủy với tình yêu, bất kể khoảng cách hay thời gian Dù bận rộn hay nhàn rỗi, hình ảnh của nhau luôn hiện hữu trong tâm trí Những kỷ niệm mùa hè, từ cây gạo làng đến cánh đồng lấm má, đều gợi nhớ về tình yêu sâu sắc Dù ở đâu, từ những công việc giản dị như cấy lúa đến những khoảnh khắc đơn độc bên bờ ao, tình cảm vẫn luôn hiện diện Mỗi chi tiết nhỏ, như tiếng chim hay việc hái củi, đều mang theo thông điệp yêu thương, khẳng định rằng dù ở nơi nào, họ vẫn gần gũi bên nhau trong tâm hồn.

Người miền núi có tình yêu sâu sắc và trung thành, họ chỉ dành trọn trái tim cho một người duy nhất Người đó sẽ luôn hiện hữu trong tâm trí và trái tim họ suốt cuộc đời, bất kể hoàn cảnh ra sao, tình yêu của họ vẫn vững bền và chung thủy.

Trong cuộc sống, ai cũng khao khát một tình yêu êm đềm, nhưng thử thách và sóng gió lại là điều không thể tránh khỏi Nhiều nhà thơ đã phản ánh những khó khăn mà các cặp đôi phải đối mặt trong tình yêu Thơ tình yêu của Y Phương cũng không ngoại lệ, nhưng điều đặc biệt là ông khắc họa nhân vật trữ tình cảm nhận được giá trị của những thử thách, vì đó chính là cách thể hiện tình cảm chân thật nhất.

Mùa đông không thể ngăn cản tình yêu, dù là mưa rét hay bão tuyết Chàng trai vẫn quyết tâm vượt qua mọi thử thách để đến bên cô gái mình yêu Tình yêu mạnh mẽ hơn cả thời tiết khắc nghiệt của mùa đông.

Khi yêu, mọi thử thách trở nên thú vị vì chúng giúp củng cố tình cảm Những thử thách này chỉ là cơ hội để kiểm chứng và làm sâu sắc thêm mối quan hệ.

Chàng trai sẵn sàng "ngược đông" để yêu cô gái

Ý nghĩa triế t lu ận trong thơ tình yêu Y Phương

Những bài thơ tình yêu của Y Phương khi còn trẻ thể hiện nhiều cung bậc cảm xúc, trong khi các tác phẩm sau này lại mang đậm triết lý sâu sắc Nguyễn Đức Hạnh đã chỉ ra rằng tập thơ "Vũ khúc Tày" nổi bật với sự kết hợp giữa triết lý và tình yêu, không chỉ đơn thuần là những mô tả say đắm mà còn chứa đựng những suy ngẫm đầy ngậm ngùi về tình yêu.

[53] Qua nghiên cứu chúng tôi khái quát được những ý nghĩa triết luận trong thơ tình yêu Y Phương như sau:

2.3.1 Tình yêu mang l ạ i v ẻ đẹ p và s ứ c s ố ng kì di ệu cho con ngườ i

Ngay trong lời đề từ tập thơ "Vũ khúc Tày", Y Phương khiến độc giả nhận ra một triết lý nhân sinh sâu sắc:

Khi chưa có tình yêu Con người chỉ là từng hạt thóc riêng lẻ

Có tình yêu rồi Con người mới trởthành cơm nghi ngút

Tình yêu là chất xúc tác quan trọng giúp con người trở nên đẹp hơn và có ý nghĩa hơn trong cuộc sống Thiếu tình yêu, mỗi cá nhân chỉ như những "hạt thóc riêng lẻ", không có sự kết nối Chỉ khi có tình yêu, những "hạt thóc" ấy mới có thể biến thành cơm nồi thơm ngon, mang lại sự sống và hạnh phúc cho cuộc đời.

Tình yêu làm cho mọi thứ xung quanh trở nên đẹp đẽ và tràn đầy sức sống Mía không chỉ ngọt từ lá hay rễ, mà chính là từ "lòng người" Khi con người yêu thương, đùm bọc và giúp đỡ lẫn nhau, cuộc sống trở nên ngọt ngào hơn, xóa tan đi những cay đắng Những tình cảm chân thành này góp phần làm cho cuộc sống đáng sống hơn.

Trong thơ Bùi Thị Tuyết Mai, tình yêu đã làm thay đổi người vợ, người mẹ, khiến họ trở nên đẹp hơn Trước khi yêu, hình ảnh của họ như "Con chim bay cao, con cá bơi sâu/mạnh như con hổ con báo", nhưng khi đã biết yêu và lấy chồng, họ trở nên dịu dàng hơn với câu thơ "Đi ngoan như câu hát về nhà anh".

Trong thơ tình yêu Y Phương, tình yêu lại khiến anh – người chồng – người cha trởnên đẹp hơn:

Có em Anh mất dần thói xấu

Biết ăn năn trước lúc bình minh

(Em –cơn mưa rào – ngọn lửa)

Tình yêu luôn làm đẹp nhau, tôn nhau, làm đầy nhau Với họ, biết sai phải sửa để trở thành người tốt, ấy mới là con người đích thực

Tình yêu là động lực khiến con người biết cho đi để sống ý nghĩa hơn Mỗi khoảnh khắc trôi qua, hàng triệu người chào đời, trong khi một số khác già đi và rời xa Cuộc sống luôn diễn ra trong vòng luân hồi sinh – di – dị Hãy nhớ rằng, yêu thương chính là cách để sống đẹp.

Sinh – Dị - Diệt là quy luật không thể tránh khỏi trong cuộc đời mỗi con người Mỗi người đều trải qua quá trình sinh ra, lớn lên, già đi và cuối cùng trở về với cát bụi Trong khi còn yêu thương, hãy sống trọn vẹn và ý nghĩa, đó chính là thông điệp sâu sắc mà nhà thơ muốn truyền tải qua bài thơ độc đáo này.

Tình yêu mang lại vẻ đẹp cho cuộc sống và có sức sống mãnh liệt trong mọi hoàn cảnh Khi con người phải đối mặt với khó khăn và thất bại, những thứ như danh phận, chức tước và tiền bạc sẽ trở nên vô nghĩa Tình yêu, trái lại, sẽ luôn lắng đọng và tồn tại như trầm tích, chứng minh rằng giá trị thực sự của cuộc sống không nằm ở vật chất mà ở tình cảm chân thành.

"Tình yêu là điều duy nhất tồn tại mãi mãi, lắng đọng và tạo ra những trầm tích vĩnh cửu, sống cùng thời gian, bất chấp mọi thứ xung quanh."

Tình yêu có sức mạnh bền vững, mang lại ấm áp và xua tan nỗi cô đơn trong cuộc sống hàng ngày, vì vậy nó được ban tặng cho mọi người trên thế giới này.

Có một chiều mưa ngâu

Tắm vạt rừng khô khát

Trời không để cây khô khát Đời không để ai héo quắt cô đơn

Trong cuộc sống, mỗi người đều có quyền yêu và được yêu, như câu nói "nồi nào vùng nấy" thể hiện Tạo hóa sắp đặt cho đàn ông và đàn bà gặp gỡ, yêu thương và xây dựng gia đình Giống như cây cối được tưới mát bởi những cơn mưa, con người cũng sẽ tìm thấy một nửa của mình, không ai phải sống trong cô đơn.

2.3.2 Vĩ đạ i nh ất trong tình yêu là ngườ i ph ụ n ữ

Người phụ nữ luôn được coi là biểu tượng của cái đẹp, là sự kết tinh của những gì tinh túy nhất trên thế gian Các nghệ sĩ, đặc biệt là nhà thơ như Y Phương, thường tìm thấy cảm hứng mãnh liệt từ vẻ đẹp ấy Khi viết về người phụ nữ miền núi, Y Phương thể hiện niềm say mê, sự ngưỡng mộ và tình yêu thương chân thành Những hình ảnh người phụ nữ trong thơ của ông hiện lên thật đẹp đẽ, sinh động và đáng yêu, phản ánh quan niệm thẩm mỹ vĩ đại của người miền núi.

Ngày ra suối, gặp bông hoa, anh luôn nhớ em – cô gái hiền lành, chậm chạp, với đôi chân to khỏe đã vượt qua bao gian khổ để đến bên anh Em mang đến cho anh sự cảm hóa, giúp anh từ bỏ những thói xấu, biết ăn năn trước mỗi bình minh Em như cơn mưa rào, ngọn lửa trong cuộc đời anh, là mực trong ngòi, cơm trong nồi, và là những điều tốt đẹp nhất Từ khi có em, cuộc sống của anh trở nên ý nghĩa hơn, và mọi thứ đều bắt đầu từ em Em về cấy gặt, làm ngắn ngày tháng Chạp, và bàn tay mềm mại của em đã thổi hồn vào cuộc sống của anh.

Cô gái với bàn tay nhỏ bé, mềm mại mang trong mình sức mạnh kỳ diệu, có khả năng mang lại vẻ đẹp ngây thơ và sự sống mới cho thiên nhiên Khi đắm mình trong dòng suối mát lạnh, bàn tay ấy chạm vào cây cối, khiến búp non nảy lộc và sự sống bắt đầu Đặc biệt, ngọn khói bếp do cô tạo ra là biểu tượng cho hạnh phúc gia đình, giữ cho niềm vui và sự bình yên tồn tại vững vàng trước những thử thách của cuộc sống Nhờ có cô, hạnh phúc gia đình luôn được bảo vệ và nguyên vẹn.

Trong cuộc sống hôn nhân, phụ nữ dân tộc thể hiện tình yêu thương và sự hy sinh vô bờ bến cho chồng con mà không đòi hỏi đền đáp Họ chăm sóc gia đình với sự dịu dàng và tận tâm, như hình ảnh người vợ đảm đang trong thơ Bùi Thị Tuyết Mai Người phụ nữ được ví như những con ong, luôn nỗ lực chăm sóc chồng con Còn theo Y Phương, sự vĩ đại của người phụ nữ vùng cao nằm ở đức hy sinh, họ chấp nhận gánh vác khó khăn để mang lại hạnh phúc cho gia đình Hình ảnh người phụ nữ như bông sen, sẵn sàng đón nhận "bùn đen" và "nước đục" để nhường lại những điều tốt đẹp cho người thân, thể hiện sự hiến dâng thầm lặng và vẻ đẹp trong sáng, đáng trân trọng của họ.

Không cần những gì hoa mỹ bóng bẩy, giản dị thôi nhưng người phụ nữ miền núi vẫn khiến người đàn ông của đời mình đắm say, rạo rực

Em là củi Đun đời anh chín thơm

Tắm đời anh sạch thơm

Củi là nguồn sống thiết yếu của đồng bào vùng cao, giống như em đã giúp anh trở nên "chín thơm" Nước, khởi nguồn sự sống, cũng chính là em, không chỉ giúp anh tồn tại mà còn làm anh "sạch thơm" Em được ví như cơm, món ăn giản dị nhưng không thể thay thế, chàng trai ăn cơm cả đời vẫn không chán, luôn cảm thấy thèm khát Đây chính là sức cuốn hút kỳ diệu mà không phải cô gái miền xuôi nào cũng có được.

Người phụ nữ miền núi không hề yếu đuối, mong manh, dễ vỡ Họ luôn mang trong mình sức mạnh tiềm tàng:

Người đàn ông tựa lưng người đàn bà Còn người đàn bà tựa lưng biển cả

NHỮNG ĐẶ C S Ắ C Ở PHƯƠNG DIỆ N HÌNH TH Ứ C

Ngày đăng: 10/08/2021, 16:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. L ạ i Nguyên Ân (2004), 150 t ừ điể n thu ậ t ng ữ Văn họ c , NXB Đạ i h ọ c qu ố c gia, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 từ điển thuật ngữ Văn học
Tác giả: L ạ i Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia
Năm: 2004
2. Nguyễn Duy Bắc (1998), B ả n s ắ c dân t ộc trong thơ ca Việ t Nam hi ệ n đạ i , NXB Văn hóa dân tộ c Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc dân tộc trong thơ ca Việt Nam hiện đại
Tác giả: Nguyễn Duy Bắc
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 1998
3. Nguy ễ n Quang C ả nh (2006), Ngôn ng ữ thơ , NXB Lý lu ậ n chính tr ị , H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguy ễ n Quang C ả nh
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
Năm: 2006
4. Nông Qu ố c Ch ấn, Phan Đăng Nhậ t, Lâm Ti ế n – đồ ng ch ủ biên (1997), Văn họ c các dân t ộ c thi ể u s ố Vi ệ t Nam, NXB Văn hóa dân tộc, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Nông Qu ố c Ch ấn, Phan Đăng Nhậ t, Lâm Ti ế n – đồ ng ch ủ biên
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 1997
5. Nông Hồng Diệu (2014), Nhà thơ Y Phương: Nói như ngườ i kinh...thì tôi thua, https://www.tienphong.vn, 12/10/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà thơ Y Phương: Nói như người kinh...thì tôi thua
Tác giả: Nông Hồng Diệu
Năm: 2014
6. Nguy ễn Sĩ Đạ i (2004), Thơ Y Phương , http://www.nhandan.com.vn/, 21/4/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Y Phương
Tác giả: Nguy ễn Sĩ Đạ i
Năm: 2004
7. Phạm Gia Đức (2000), T ổ ng t ập Nhà văn quân độ i - t ậ p 7 - k ỷ y ế u và tác ph ẩ m , NXB Quân độ i nhân dân, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập Nhà văn quân đội - tập 7 - kỷ yếu và tác phẩm
Tác giả: Phạm Gia Đức
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
Năm: 2000
8. Hà Minh Đứ c, Lê Bá Hán (1996), Cơ sở lý lu ận văn họ c, NXB Giáo d ụ c, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đứ c, Lê Bá Hán
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
9. Hà Minh Đứ c (1974), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đứ c
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1974
10. Nguyễn Đức Hạnh (2016), Văn học địa phương miề n núi phía B ắ c, NXB Đạ i h ọ c Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học địa phương miền núi phía Bắc
Tác giả: Nguyễn Đức Hạnh
Nhà XB: NXB Đại học Thái Nguyên
Năm: 2016
11. Nguy ễn Đứ c H ạ nh, Tr ầ n Th ị Vi ệ t Trung – đồ ng ch ủ biên (2015), Văn h ọ c dân t ộ c thi ể u s ố Vi ệ t Nam truy ề n th ố ng và hi ện đạ i, NXB Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam truyền thống và hiện đại
Tác giả: Nguy ễn Đứ c H ạ nh, Tr ầ n Th ị Vi ệ t Trung – đồ ng ch ủ biên
Nhà XB: NXB Đại học Thái Nguyên
Năm: 2015
12. H ội nhà văn Việ t Nam (2007), Nhà văn Việ t Nam hi ện đạ i, NXB h ộ i nhà văn, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Việt Nam hiện đại
Tác giả: H ội nhà văn Việ t Nam
Nhà XB: NXB hội nhà văn
Năm: 2007
13. Lê Th ị Bích H ồ ng (2015), Nhà thơ tày “tự đục đá kê cao quê hương, http://www.baocaobang.vn/ , ngày 17/2/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà thơ tày “tự đục đá kê cao quê hương
Tác giả: Lê Th ị Bích H ồ ng
Năm: 2015
14. Nguy ễn Văn Huy (1998), B ứ c tranh văn hóa các dân tộ c Vi ệ t Nam, NXB Giáo d ụ c Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Nguy ễn Văn Huy
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
15. Hoàng Thanh Hương, Nhà thơ Y Phương: Nhà văn và bạn đọ c không h ề có kho ả ng cách, http://baogialai.com.vn/, 24/3/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà thơ Y Phương: Nhà văn và bạn đọc không hềcó khoảng cách
16. Sùng Th ị Hương (2013), Đặ c s ắ c t ản văn Y Phương , Lu ận văn Th.s, Đạ i học Sư phạm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc sắc tản văn Y Phương
Tác giả: Sùng Th ị Hương
Năm: 2013
17. Nguy ễ n Th ị Thu Huy ề n (2009), B ả n s ắc Tày trong thơ Y Phương và Dương Thuấ n, Lu ận văn Th.s, Đạ i h ọc Sư phạ m Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc Tày trong thơ Y Phương và Dương Thuấn
Tác giả: Nguy ễ n Th ị Thu Huy ề n
Năm: 2009
18. Hoàng Ng ọc La, Hoàng Hoa Toàn, Vũ Anh Tuấ n – đồ ng ch ủ biên (2002), Văn hóa dân gian Tày, Sở Văn hóa thông tin Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian Tày
Tác giả: Hoàng Ng ọc La, Hoàng Hoa Toàn, Vũ Anh Tuấ n – đồ ng ch ủ biên
Năm: 2002
19. Mã Giang Lân (2003), Nh ậ n xét ngôn ng ữ thơ hiện đạ i Vi ệ t Nam, tạp chí văn họ c s ố 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận xét ngôn ngữ thơ hiện đại Việt Nam
Tác giả: Mã Giang Lân
Năm: 2003
20. Phong Lê, Vũ Văn Sỹ, Bích Thu, Lưu Khánh Thơ (2002), Thơ Việ t Nam hi ện đạ i, NXB Lao đông, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phong Lê, Vũ Văn Sỹ, Bích Thu, Lưu Khánh Thơ
Nhà XB: NXB Lao đông
Năm: 2002

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN