NHỮNG ĐẶC ĐIỂM Ở VÙNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TÂY NGUYÊN LIÊN QUAN ĐẾN SỰ DU NHẬP ĐẠO TIN LÀNH
Đặc điểm về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, dân cư
* Vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên
Tây Nguyên là vùng đất bao gồm năm tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông và Lâm Đồng, với tổng diện tích tự nhiên lên tới 54.460 km², chiếm 16,7% diện tích cả nước Địa hình Tây Nguyên khá phức tạp, với độ dốc cao, nhiều đồi núi và rừng rậm, tạo nên một cảnh quan thiên nhiên độc đáo.
Tây Nguyên, với vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng và an ninh, được coi là "mái nhà" của Đông Dương Nằm ở phía Tây các tỉnh duyên hải miền Trung và giáp ranh với Lào, Campuchia, Tây Nguyên sở hữu nhiều dãy núi và cao nguyên rộng lớn, có độ cao từ 300m đến 2.500m Khu vực này có hệ thống giao thông phát triển, kết nối với miền Bắc qua quốc lộ 1B, miền Đông Nam Bộ và thành phố Hồ Chí Minh qua quốc lộ 14, 20, cùng với các tỉnh ven biển miền Trung qua quốc lộ 7, 18, 19, 21 Đặc biệt, đường Hồ Chí Minh đi qua hầu hết các tỉnh Tây Nguyên, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu với nhiều vùng trong nước và quốc tế.
Trước đây, khi mới đặt chân lên Tây Nguyên và thiết lập bộ máy cai trị ở vùng này, thực dân Pháp đã đặc biệt quan tâm đến vấn đề
Tây Nguyên giữ vai trò chiến lược quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, được xem là "phòng thủ Tây Nguyên để bảo vệ Đông Dương" Đế quốc Mỹ nhận thức rằng để chiến thắng miền Nam Việt Nam, cần kiểm soát vùng cao nguyên Trung phần này Trong cuộc Tổng tiến công mùa xuân năm 1975, Tây Nguyên được chọn làm chiến dịch mở màn, đóng vai trò then chốt trong việc giải phóng toàn bộ miền Nam.
Tây Nguyên có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú, nổi bật là các nguồn tài nguyên cơ bản sau đây:
Tây Nguyên là một vùng kinh tế nông nghiệp với tiềm năng lớn, sở hữu bình quân diện tích đất cao nhất cả nước, đạt 15ha/hộ Khu vực này có 1,36 triệu ha đất đỏ Bazan, chiếm 66% tổng diện tích đất Bazan quốc gia, với tầng phân hoá sâu và giàu chất khoáng, rất thuận lợi cho việc phát triển nông trường và vùng chuyên canh quy mô lớn Ngoài ra, khoảng 15,6 vạn ha đất phù sa dọc các sông, suối đã hình thành các cánh đồng lớn, tạo nền tảng vững chắc cho sản xuất lương thực tại Tây Nguyên.
Tây Nguyên là vùng đầu nguồn sinh thủy quan trọng, giữ cân bằng sinh thái cho khu vực Đông - Tây Nam Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ Với lượng mưa trung bình hàng năm đạt 1.900 mm, tương đương 106 triệu m³ nước, Tây Nguyên có đủ nguồn nước để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Vùng này có nhiều sông, suối nghiêng dốc, trong đó nổi bật là bốn hệ thống sông lớn: Sêsan, Sêrepoc chảy về sông MêKông, sông Ba đổ về Tuy Hoà và sông Đồng Nai Ngoài ra, còn có các sông, suối nhỏ khác chảy về duyên hải Nam Trung Bộ, tạo tiềm năng lớn cho phát triển thủy điện tại Tây Nguyên.
Tây Nguyên sở hữu khoảng 3,9 triệu ha đất lâm nghiệp, trong đó 2,9 triệu ha là diện tích rừng, chiếm 54% tổng diện tích tự nhiên của vùng và khoảng 36% diện tích rừng toàn quốc Với trữ lượng gỗ cây đứng đạt 286 triệu m³, rừng Tây Nguyên còn nổi bật với nhiều loại gỗ quý như Cẩm lai, Gụ mật, Sến, Trắc, Nghiến, cung cấp 52% sản lượng gỗ có thể khai thác của cả nước.
Quặng Bôxít ở Tây Nguyên là một loại khoáng sản quan trọng với trữ lượng quặng nguyên đạt 3,05 tỉ tấn và dự báo quặng tinh sẽ đạt 1,5 tỉ tấn Ngoài Bôxít, khu vực này còn có các khoáng sản khác như vàng sa khoáng 8,82 tấn, thiếc từ 20-30 nghìn tấn, đá vôi 239 triệu tấn, và cao lanh 94,7 triệu tấn phục vụ sản xuất gốm sứ Tây Nguyên cũng sở hữu các loại đá quý, than bùn và than nâu, góp phần làm phong phú thêm nguồn tài nguyên khoáng sản của cả nước.
Khí hậu Tây Nguyên có tính chất cận xích đạo, với một mùa khô và một mùa mưa kéo dài, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loại cây trồng và vật nuôi nhiệt đới, cũng như một số loài có nguồn gốc ôn đới Đặc biệt, sự khác biệt về độ cao khiến các cao nguyên từ 400 - 500m có khí hậu khô nóng, trong khi các cao nguyên trên 1000m lại mát mẻ, từ đó tạo ra nhiều cơ hội cho phát triển nông nghiệp Hơn nữa, với đặc thù khí hậu này, Tây Nguyên cũng có tiềm năng lớn để phát triển du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng.
Tây Nguyên sở hữu vị trí địa lý thuận lợi và tài nguyên thiên nhiên phong phú, đặc biệt là đất và rừng, tạo ra nhiều lợi thế so với các vùng khác trong nước Các nhà phân tích và hoạch định chiến lược nhận định rằng Tây Nguyên có vai trò chiến lược quan trọng trong kinh tế, quốc phòng và an ninh Kiểm soát Tây Nguyên đồng nghĩa với việc nắm giữ toàn bộ vùng duyên hải miền Trung, cửa ngõ Sài Gòn, khu vực Đông Nam bộ, cũng như ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định rằng Tây Nguyên là một địa bàn chiến lược quan trọng đối với cả nước về kinh tế - xã hội và quốc phòng.
Tây Nguyên là khu vực mà các tổ chức tôn giáo và thế lực thù địch trong và ngoài nước tìm cách thiết lập cơ sở hoạt động lâu dài và thường xuyên.
Tây Nguyên là nơi sinh sống của khoảng 4,7 triệu người thuộc 45 dân tộc khác nhau, trong đó có hơn 1,5 triệu người là đồng bào các dân tộc thiểu số Người Kinh chiếm 67,7% dân số, trong khi các dân tộc thiểu số chiếm 32,3% Dân cư trong khu vực này được chia thành hai nhóm chính: nhóm dân cư bản địa và nhóm dân cư từ các nơi khác đến Tây Nguyên.
Nhóm các dân cư bản địa
Tây Nguyên là vùng đất có sự hiện diện lâu đời của nhiều dân tộc thiểu số, trong đó dân tộc Giarai là đông nhất với 332.519 người, chiếm 24,4% tổng dân số Tiếp theo là dân tộc Êđê với 249.245 người (18,17%), Bana 154.236 người (11,24%), K’ho 112.837 người (8,22%) và Xuđăng 84.789 người (6,18%) Ngoài ra, còn có các dân tộc khác như M’nông, Giẻ - Triêng, Mạ, Chơro, Hrê Đặc biệt, tại Tây Nguyên còn tồn tại hai dân tộc với số dân rất ít là Brâu (313 người) và Rơmăm (352 người) ở tỉnh Kon Tum.
Các dân tộc thiểu số bản địa Tây Nguyên được phân chia thành hai nhóm ngôn ngữ chính: nhóm Môn - Khơmer thuộc ngữ hệ Nam Á, bao gồm các dân tộc như Bana, Xuđăng, M’nông, K’ho, và nhóm Malayo - Polynêxia thuộc ngữ hệ Nam Đảo, bao gồm các dân tộc như Êđê, Giarai, Chơro Sự phân bố dân cư của các dân tộc này thường tập trung theo vùng miền; cụ thể, dân tộc Êđê và M'nông chủ yếu sinh sống ở tỉnh Đăk Lăk, trong khi dân tộc Giarai và Bana tập trung đông ở tỉnh Gia Lai, và dân tộc K'ho chủ yếu cư trú tại Lâm Đồng.
Mật độ dân số ở vùng các dân tộc thiểu số bản địa Tây Nguyên còn thấp, với các điểm dân cư nhỏ bé, phân tán và tương đối biệt lập theo từng buôn, làng Những khu vực này chủ yếu tập trung ở các xã đặc biệt khó khăn, và mỗi tộc người sống trong khu vực cư trú riêng, quy mô khác nhau tùy theo số dân Khu vực cư trú hình thành tự nhiên, mở rộng từ vùng đất gốc sang những vùng đất bỏ trống lân cận, và hầu như không có hiện tượng di cư xa rời đất gốc.
Khu vực cư trú của các tộc người ở Tây Nguyên hình thành tự nhiên, với mối quan hệ chủ yếu dựa trên văn hóa, ngôn ngữ và nguồn gốc thân thuộc Mặc dù mỗi tộc người có vùng đất cư trú riêng biệt, nhưng điều này không dẫn đến ý thức chủ quyền lãnh thổ độc lập Thiếu tổ chức đại diện khiến các tộc người không có quyền sở hữu rõ ràng về vùng đất của mình, do đó, ý thức chủ quyền lãnh thổ chung giữa các tộc người tại Tây Nguyên không thể hình thành.
Đặc điểm về kinh tế
Kinh tế của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên chủ yếu dựa vào điều kiện tự nhiên và khí hậu đặc thù của vùng cao nguyên, với các hoạt động chủ yếu là trồng trọt, chăn nuôi và khai thác tài nguyên rừng.
Cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên trước đây chủ yếu dựa vào nghề trồng trọt và chăn nuôi, với phương thức sản xuất du canh và công cụ thô sơ Kỹ thuật canh tác lạc hậu, chủ yếu là "phát, đốt, chọc, trỉa", khiến người dân sống trong tình trạng đói nghèo và nền kinh tế tự cấp, tự túc Nền kinh tế hàng hoá chỉ mới bắt đầu hình thành, chủ yếu là trao đổi giữa các cư dân.
Trong những năm gần đây, nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, kinh tế vùng Tây Nguyên đã phát triển mạnh mẽ Thu nhập bình quân đầu người tăng lên, góp phần cải thiện đời sống của đại bộ phận dân cư, bao gồm cả đồng bào các dân tộc thiểu số.
Kinh tế Tây Nguyên đang đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm sự phát triển nhanh nhưng không bền vững, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp chưa đáp ứng nhu cầu thị trường, dẫn đến khó khăn khi thị trường biến động Hơn nữa, sự phát triển kinh tế không đồng đều, chủ yếu tập trung ở các khu đô thị và ven các trục giao thông, trong khi vùng sâu, vùng xa và nơi sinh sống của các dân tộc thiểu số vẫn chậm phát triển Tỷ lệ lao động nông nghiệp cao và trình độ sản xuất hạn chế, nhiều nơi vẫn giữ thói quen canh tác lạc hậu và phụ thuộc vào thiên nhiên.
Theo báo cáo của Tổng cục thống kê, năm 1999, Tây Nguyên có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất cả nước, đạt 24,9%, trong khi tỷ lệ chung của cả nước chỉ là 13,3% Đến năm 2000, tỷ lệ nghèo đói ở các tỉnh Tây Nguyên vẫn cao, với Đăk Lăk 8,63%, Lâm Đồng 8,53%, Gia Lai 16,8% và Kon Tum 13,23% Sự chênh lệch giữa hộ giàu và hộ nghèo ở đây là 12,9 lần, cao hơn so với 6,8 lần ở các tỉnh phía Bắc Theo giám sát của Hội đồng Dân tộc Quốc hội, tỷ lệ nghèo đói ở một số dân tộc thiểu số như M’nông ở Đăk Lăk lên tới 67,1% và dân tộc Bana ở Gia Lai là 30,83% Hệ số chênh lệch thu nhập giữa 10% hộ có thu nhập cao nhất và 10% hộ thu nhập thấp nhất ở Tây Nguyên là 10,8 lần, và nếu so với 5% hộ thu nhập cao nhất và thấp nhất, hệ số này tăng lên 16,2 lần.
Theo báo cáo năm 2002, thu nhập bình quân đầu người của toàn tỉnh so với thu nhập của đồng bào dân tộc thiểu số cho thấy sự chênh lệch lớn: Gia Lai gấp 4,29 lần, Kon Tum 1,95 lần, Đăk Lăk 1,56 lần và Lâm Đồng 1,66 lần Đặc biệt, so với các xã vùng sâu, vùng xa đặc biệt khó khăn, sự chênh lệch này còn cao hơn, với tỉnh Gia Lai gấp 10,6 lần.
Theo báo cáo của Ủy ban nhân dân các tỉnh, tỷ lệ đói nghèo của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên vẫn ở mức cao, với tỷ lệ hộ nghèo trung bình toàn vùng trên 60% vào cuối năm 2007 Cụ thể, tỷ lệ hộ nghèo ở các tỉnh như Lâm Đồng là 55%, Đăk Nông 63%, Đăk Lăk 62%, Gia Lai 81% và Kon Tum 88% Tốc độ giảm nghèo trong cộng đồng dân tộc thiểu số chỉ đạt khoảng 2-3% mỗi năm trong những năm qua.
Theo số liệu điều tra, tình trạng đói nghèo và phân hóa giàu nghèo ở khu vực Tây Nguyên đang diễn ra nghiêm trọng, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc thiểu số Các vùng nghèo thường nằm ở những khu vực sâu, xa và là nơi có nhiều căn cứ cách mạng, kháng chiến cũ Sự chênh lệch giữa đồng bào Kinh và đồng bào dân tộc bản địa không chỉ làm gia tăng cảm giác tự ti cho đồng bào dân tộc thiểu số mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của đạo Tin Lành.
1.1.3 Đặc điểm về văn hoá - xã hội
Các dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên sở hữu nền văn hóa phong phú và độc đáo, thể hiện rõ nét bản sắc dân tộc qua kiến trúc, điêu khắc và lễ hội.
Văn hóa Tây Nguyên nổi bật với cồng, chiêng, âm nhạc, hát múa và các lễ hội truyền thống như đâm trâu và Pơthi Đây là nền tảng tinh thần của các dân tộc thiểu số, chứa đựng những giá trị quý báu từ ngàn xưa Những giá trị này được thể hiện qua cồng chiêng, lễ hội, và những đêm Khan huyền bí, tạo nên sự gắn kết cộng đồng vững chắc Dù xã hội Tây Nguyên có thay đổi, nền tảng văn hóa này vẫn là hành trang quý giá giúp các dân tộc thích nghi và phát triển, đồng thời là điểm tựa tinh thần quan trọng trong bối cảnh kinh tế thị trường.
Trong những năm gần đây, đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên đã chứng kiến sự suy giảm nghiêm trọng Các hoạt động văn hóa truyền thống như Khan, luật tục, tâm thức cồng chiêng và lễ hội đang dần bị mai một, nhường chỗ cho những cuộc mua bán cồng chiêng và âm nhạc hiện đại Nhiều gia đình đã chấp nhận bán cồng chiêng, tức là bán linh hồn cộng đồng, để đổi lấy cái ăn, cái mặc và tiện nghi vật chất Điều này dẫn đến việc người dân ngày càng xa lánh các lễ hội văn hóa truyền thống, với chỉ 24,5% thường xuyên tham gia, 51,7% thỉnh thoảng tham gia và 23,8% không tham gia.
Bảng 1.1 : Tỷ lệ tham gia các lễ hội truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên
Tỉnh Thường xuyeõn Thổnh thoảng Không tham gia Đăk Lăk và Đăk Nông 26,6% 56,3% 17,1%
Dữ liệu cho thấy, người dân Tây Nguyên ngày càng ít tham gia các lễ hội truyền thống, điều này ảnh hưởng đến bản sắc văn hóa của khu vực Sự phân tầng văn hóa và lối sống đang diễn ra mạnh mẽ, với nhiều thách thức như sự thay đổi giá trị và chuẩn mực văn hóa, nguy cơ thương mại hóa văn hóa, và xu hướng coi thường các giá trị truyền thống Nhiều loại hình văn hóa dân tộc đang dần mai một, khiến các lễ hội chỉ còn mang tính hình thức Kết quả khảo sát xã hội học cho thấy 66,3% người được hỏi cho rằng văn hóa dân tộc vẫn giữ được truyền thống, trong khi 29,3% không nghĩ như vậy; đặc biệt, Đăk Lăk có tỷ lệ không giữ được văn hóa truyền thống là 30,9%, Gia Lai 25,8%, Kon Tum 23,6%, và Lâm Đồng 41,1%.
Tây Nguyên là khu vực nổi bật với sự đa dạng văn hóa, nơi các dân tộc bản địa giữ gìn bản sắc riêng qua những ngôi nhà rông biểu tượng cho sự trường tồn Tuy nhiên, nhiều dân tộc ít người sống du canh du cư đang dần đánh mất bản sắc văn hóa do điều kiện kinh tế khó khăn và sự lãng quên phong tục tập quán Sự xâm nhập của các dân tộc phía Bắc vào đời sống của đồng bào bản địa tạo nên sự phong phú về văn hóa, nhưng cũng làm suy yếu tính cộng đồng văn hóa truyền thống do thiếu sự chỉ đạo đúng đắn từ các cơ quan văn hóa.
Đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên đang gặp nhiều khó khăn và xuống cấp, chủ yếu do sự biến động kinh tế - xã hội Nguyên nhân trực tiếp là sự thiếu hụt ánh sáng văn hóa từ Đảng đến với các vùng sâu, vùng xa Các phương tiện nghe nhìn, mặc dù đơn giản, nhưng lại rất khan hiếm trong cộng đồng dân tộc thiểu số, với 29,7% hộ gia đình ở vùng sâu, vùng xa không có ti vi hoặc đài.
Báo chí đóng vai trò quan trọng trong việc mang văn hóa đến với đồng bào dân tộc thiểu số, tuy nhiên, tỷ lệ người không đọc báo vẫn còn cao, với 16,5% thường xuyên đọc, 43,3% thỉnh thoảng đọc và 39,4% không đọc Cụ thể, tại Đăk Lăk có 28,6% không đọc, Gia Lai 37,5%, Kon Tum 42,0% và Lâm Đồng 51,8%.
Đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo
Các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên có nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau Có thể phân làm 2 loại chính sau:
Trong xã hội cổ truyền Tây Nguyên, đời sống con người gắn bó mật thiết với tín ngưỡng và lễ nghi, phản ánh sự tương tác giữa con người và thiên nhiên khắc nghiệt Qua quá trình lao động, cư dân đã tích lũy kinh nghiệm sản xuất, hình thành quan hệ xã hội cộng đồng chặt chẽ Phong tục tập quán của các dân tộc phát triển sâu sắc trong đời sống tinh thần, phục vụ cho việc bảo vệ và duy trì sự sinh tồn Luật tục trong các công xã thị tộc đóng vai trò như luật pháp của từng buôn làng, giúp định hình nhận thức và hành động phù hợp với thực tiễn Tuy nhiên, trong bối cảnh xã hội phát triển ở trình độ thấp, con người đã hình thành những quan niệm tiêu cực, dẫn đến sự ra đời của các hình thức tôn giáo và tín ngưỡng sơ khai trong văn hóa Tây Nguyên.
Tín ngưỡng cổ truyền của đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên thể hiện thế giới quan sơ khai, với quan niệm vạn vật hữu linh Người Tây Nguyên tin rằng có hai thế giới song song: thế giới thực, nơi con người và muôn vật tồn tại, và thế giới hư vô, nơi có ma quỷ và thần linh không thể cảm nhận được nhưng ảnh hưởng đến cuộc sống thực tại Họ tin rằng thần linh có ba tầng: trời, đất và dưới đất, chi phối đời sống con người và yêu cầu sự cầu xin để đạt được cuộc sống yên ổn Mỗi người có thể sở hữu một hoặc nhiều hồn, với người Bana tin rằng nam và nữ có ba hồn: hồn chính, hồn phụ và hồn thân thể Sự mạnh yếu của các loại hồn này phụ thuộc vào tuổi tác và địa vị xã hội, trong khi hồn của trẻ sơ sinh thường yếu hơn và dễ bị ảnh hưởng bởi hồn của người lớn Khi một người qua đời, hồn họ sẽ trở thành ma và sau thời gian chờ đợi, sẽ trở về với tổ tiên.
Trong văn hóa Tây Nguyên, ngoài ma, người dân còn tin vào yêu quái và các vị thần (Yang), trong đó ông trời là vị thần lớn nhất, thường được nhắc đến trong các nghi lễ cúng bái Các thần như thần sấm sét, thần đất, thần sông, và thần núi có ảnh hưởng trực tiếp đến con người, với thần sấm sét giữ vai trò quan trọng nhất Thần này vừa được tôn kính vừa đáng sợ, bảo vệ phong tục và hỗ trợ cộng đồng trong xung đột Cùng với thần mưa, thần gió và thần bảo mệnh, các vị thần này duy trì trật tự và trừng phạt những ai vi phạm luật tục Đặc biệt, thần lúa (Yang Xri, Hri hay Hrai) được người dân Tây Nguyên tôn trọng nhất.
Cư dân Tây Nguyên tin rằng số phận của mỗi người phụ thuộc vào mối quan hệ với thế giới siêu linh, nơi thần linh có thể ban phước hoặc trừng phạt Nếu nhận được điều tốt từ thần, con người phải thể hiện lòng biết ơn; ngược lại, nếu vi phạm phong tục tập quán, họ sẽ phải chịu hình phạt không chỉ trong đời này mà còn cả kiếp sau Để tăng cường sức mạnh bản thân, người Tây Nguyên thường xin kết thân với các vị thần, có thể là một hoặc nhiều thần, tùy theo ý nguyện cá nhân Việc kết giao có thể diễn ra tạm thời, và nếu không nhận được sự hỗ trợ, họ có thể chuyển sang vị thần khác Vật thiêng gắn liền với thần bản mệnh được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, góp phần giải thích việc thừa kế chức vụ xã hội trong cộng đồng Tín ngưỡng đa thần của người Tây Nguyên đi kèm với một hệ thống lễ thức phong phú để phục vụ cho các nghi lễ tôn thờ.
1 Hệ thống lễ thức liên quan đến nương rẫy: tìm rẫy, phát rẫy, đốt raãy
2 Hệ thống lễ thức liên quan đến cây lúa nương: đánh thức hồn lúa, mẹ lúa, lúa mới
3 Hệ thống lễ thức liên quan đến người: thổi tai, đặt tên, mừng sức khoẻ, cưới, chết
4 Hệ thống lễ thức liên quan đến nhà ở và gia đình: chọn đất, dựng cột chính, lên nhà, kết nghĩa, nhận con nuôi, làm chuồng trâu bò
5 Hệ thống lễ thức liên quan đến làng: dời làng, lập làng, dựng nhà rông, sửa bến nước, nhận thành viên mới
6 Hệ thống lễ thức liên quan đến chiến đấu: lễ xuất quân, lễ dọa tuứ binh, leó chieỏn thaộng
7 Hệ thống lễ thức liên quan đến những vi phạm tập tục, lệ làng: ngoại tình, loạn luân, trộm cắp, giết người
8 Hệ thống lễ thức liên quan đến quan hệ giữa các làng: vạch ranh giới, giải hoà
Lễ thức quan trọng nhất trong đời sống của cư dân Tây Nguyên là những nghi lễ liên quan đến trồng trọt, gắn liền với các giai đoạn sản xuất trong năm Người dân không chỉ dựa vào kinh nghiệm tích lũy mà còn tin vào các yếu tố siêu nhiên ảnh hưởng đến cây trồng Việc lựa chọn đất canh tác thường được giao cho người già trong gia đình, và khi tìm được mảnh đất ưng ý, họ sẽ gửi gắm hy vọng vào giấc mơ Tuy nhiên, quyết định trồng trọt hay không còn phụ thuộc vào các điềm báo và hiện tượng quan sát được trong quá trình canh tác.
Người Bana ở K’bang thực hiện nhiều lễ thức quan trọng trong quá trình canh tác, bắt đầu từ việc tìm đá mài dao và cành cây trước khi phát rẫy Dụng cụ được mài sắc và hòn đá được giữ lại một thời gian, sau đó hiến sinh một con gà trước khi vứt hòn đá Khi cây khô, họ cầu mong thần lúa giúp đỡ trong việc đốt rẫy Vào mùa mưa tháng 4 và tháng 6, đồng bào tiến hành trỉa lúa và nếu trời nắng kéo dài, họ tổ chức lễ cầu mưa Khi lúa cao 40-50 chỉ, lễ chống sâu bệnh được tiến hành với hương liệu và cây thuốc kỵ sâu được buộc quanh rẫy Khi thu hoạch, lễ ăn cơm mới diễn ra, đánh dấu sự cho phép của thần linh sử dụng lương thực Trong thời gian này, việc động chạm đến rẫy sẽ bị phạt nặng, vì gia chủ có thể gặp rủi ro trong vụ mùa tiếp theo Lễ rước hồn lúa về kho kết thúc một năm làm ăn, với gia đình hiến sinh gia súc và tổ chức lễ đâm trâu, tỷ lệ với mùa màng năm đó Như vậy, quá trình sản xuất hàng năm của người Bana không chỉ là việc canh tác mà còn là những nghi lễ cầu xin một vụ mùa bội thu.
Một phần lớn tài nguyên và lương thực được sử dụng cho các nghi lễ tôn giáo và cúng tế trong cộng đồng và gia đình, dẫn đến tình trạng nghèo đói và thiếu hiểu biết Người dân Tây Nguyên thường chú trọng đến cuộc sống tâm linh hơn là đời sống thực tại, điều này làm họ trở nên mê muội và cản trở sự phát triển cá nhân Thêm vào đó, nhiều phong tục tập quán và kiêng khem gò bó đã khiến họ gặp khó khăn trong việc đấu tranh với thiên nhiên và cải thiện cuộc sống xã hội.
Tín ngưỡng truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên đóng vai trò quan trọng trong việc gắn kết cộng đồng, nhưng cũng đi kèm với những tập tục phức tạp, tốn kém và mang tính mê tín Những tín ngưỡng này đã hạn chế sự phát triển của tư duy kinh nghiệm, kỹ thuật và khoa học, trở thành rào cản cho sự tiến bộ của cư dân Tuy nhiên, với sự phát triển của xã hội hiện đại và sự gia tăng trình độ dân trí, các tín ngưỡng cổ truyền đang dần mất đi sức thuyết phục, nhường chỗ cho những tín ngưỡng và tôn giáo mới Điều này đã tạo ra "khoảng trống" thuận lợi cho sự xâm nhập và hoạt động của Tin Lành trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên.
* Các tôn giáo du nhập vào: như Công giáo, Tin Lành, Phật giáo, Cao Đài, Phật giáo Hoà Hảo
Các tôn giáo đã du nhập vào Tây Nguyên qua nhiều thời điểm và con đường khác nhau Đạo Công giáo và Tin Lành thường gắn liền với sự xâm lược và thống trị của chủ nghĩa đế quốc, trong khi Phật giáo lại liên quan đến quá trình di cư của người Kinh đến Tây Nguyên để lập nghiệp.
Hiện nay, Tây Nguyên có ba tôn giáo lớn: Công giáo, Phật giáo và Tin Lành Công giáo là tôn giáo lâu đời nhất với số lượng tín đồ đông đảo và cơ sở xã hội vững chắc Phật giáo chủ yếu phát triển trong cộng đồng người Kinh, trong khi Tin Lành, mặc dù du nhập muộn hơn, lại phát triển nhanh chóng trong các dân tộc thiểu số.
Các tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên Đạo Tin Lành, với những thuận lợi trong hoạt động tôn giáo, đã nhanh chóng khẳng định vị thế trong cộng đồng này Trong những năm gần đây, đạo Tin Lành tiếp tục phát triển mạnh mẽ ở các vùng sâu, vùng xa và khu vực căn cứ cách mạng, dẫn đến sự mở rộng quy mô và tổ chức hoạt động của đạo.
LỊCH SỬ DU NHẬP ĐẠO TIN LÀNH TRONG CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TÂY NGUYÊN
Giai đoạn từ 1931 – 1975
Đạo Tin Lành bắt đầu được truyền bá tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên từ năm 1929, với Hội truyền giáo phúc âm liên hiệp Mỹ (CMA) là tổ chức tiên phong Hoạt động đầu tiên diễn ra ở Đà Lạt, Lâm Đồng, và đến năm 1931, tín đồ đầu tiên là Hasol (Ha San), người dân tộc K’ho, đã gia nhập Cũng trong năm này, trường Kinh thánh K’ho được thành lập tại Đà Lạt, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong việc truyền bá Đạo Tin Lành trong cộng đồng dân tộc thiểu số.
Từ năm 1932, Kinh thánh đã được dịch sang tiếng Êđê để phục vụ cho công tác truyền đạo tại cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên Bắt đầu từ năm 1940, việc truyền giáo tại khu vực này được mở rộng với sự tham gia của Hội Truyền giáo CMA và Tổng hội Tin Lành Việt Nam Đến năm 1941, phong trào Tin Lành đã thu hút tín đồ từ người Kinh, dẫn đến sự hình thành hai bộ phận: Tin Lành người Kinh do mục sư Phạm Xuân Tín phụ trách và Tin Lành người Thượng do mục sư Gioan On Nyth, một giáo sĩ CMA người Canada, đứng đầu.
Từ 1942, các giáo sĩ CMA và các mục sư, truyền đạo của Tổng hội Tin Lành Việt Nam thay nhau lên hoạt động ở Tây Nguyên Đến năm
1945, đã thu được một số kết quả đáng kể, đã có 11 dân tộc với gần 1.000 người tin theo đạo Tin Lành
Năm 1951, dưới sự chỉ đạo của CMA, Tổng hội Tin Lành Việt Nam đã thành lập địa hạt Thượng Du với mục sư Hasol (dân tộc K'Ho, tỉnh Lâm Đồng) làm chủ nhiệm, mục sư Y No Byă giữ chức nghị viện, mục sư Y Soai ÊBan làm thủ quỹ, và mục sư Maugham (người Mỹ) đóng vai trò cố vấn.
Từ năm 1954, CMA đã nỗ lực phát triển Tin Lành tại miền Nam, đặc biệt là Tây Nguyên, với sự hỗ trợ tài chính từ Mỹ để xây dựng cơ sở tôn giáo và tăng cường giáo sĩ nước ngoài Các hoạt động truyền giáo được tổ chức thành chiến dịch, đa dạng hóa theo ngành nghề và lứa tuổi, chú trọng đến thanh thiếu niên, và tiếp cận mọi thành phần xã hội thông qua hoạt động từ thiện, truyền thông đại chúng và các tổ chức Tin Lành quốc tế Đến năm 1965, Tin Lành ở Tây Nguyên đã ghi nhận 5.986 người chịu phép Báp têm và 21.441 người theo đạo, cùng với 105 nhà thờ và 14 mục sư.
Cùng với sự hiện diện của quân đội Mỹ, các tổ chức Tin Lành đã mở rộng và phát triển mạnh mẽ trong cộng đồng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên Những tổ chức như Giải phóng dân tộc Bajaraka, Mặt trận thống nhất Fulrô và các tổ chức từ thiện xã hội khác đã được thành lập nhằm hỗ trợ cho sự phát triển của đạo Tin Lành trong khu vực này.
Năm 1962, Fulrô II đã lôi kéo được truyền đạo Yreh Bkrông, Y Nhiam Niê và một số tín đồ Tin Lành chạy vào rừng theo Fulrô Năm
Năm 1968, YReh BKrông đã cắm cờ Fulrô tại nhà ăn của Hội thánh Tin Lành ở buôn AlêA - Buôn Mê Thuột, đánh dấu sự kết nối giữa Tin Lành và Fulrô ở Tây Nguyên Từ năm 1969, dưới sự chỉ đạo và xúi giục của các giáo sĩ nước ngoài, nội bộ Ban chủ nhiệm địa hạt Thượng Du nảy sinh mâu thuẫn, khi các dân tộc thiểu số Tây Nguyên đều muốn đưa người của mình lên nắm quyền lãnh đạo Trước tình hình này, Đại hội đồng lần thứ 36 đã họp tại Sài Gòn và quyết định chia địa hạt Thượng Du.
Du ra thành 02 địa hạt mới trong vùng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên là
Trung Thượng hạt, bao gồm các tỉnh từ Bắc đến Nam Tây Nguyên, có văn phòng tại Buôn Mê Thuột và sử dụng tiếng Êđê làm ngôn ngữ chính Trong khi đó, Nam Thượng hạt, gồm các tỉnh Bình Long, Phước Long, Quảng Đức, Long Thành, Bình Thuận, Khánh Hoà, Tuyên Đức, Lâm Đồng, có văn phòng tại Đà Lạt và sử dụng tiếng K'ho Dưới sự chỉ đạo của Mỹ, cơ quan Thượng giới được thành lập cùng với việc mở thêm hai trường Thánh kinh ở Đà Lạt và Buôn Mê Thuột để đào tạo mục sư người dân tộc thiểu số Đến năm 1973, Tổng liên hội Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) đã xây dựng 02 Giáo hạt tại Tây Nguyên với 147 mục sư, truyền đạo và 38.827 tín đồ, chiếm 10% dân số các dân tộc thiểu số ở khu vực này.
25] Tính đến năm 1975 "ở các tỉnh Tây Nguyên đã có 44.654 tín đồ Tin Lành, trong đó 83% là người dân tộc thiểu số với 212 mục sư, truyền đạo;
Tây Nguyên nổi bật với 124 nhà thờ, cho thấy tỷ lệ mục sư, truyền đạo và nhà thờ ở đây cao hơn so với các tỉnh khác ở miền Nam Khu vực này cũng ghi nhận sự phát triển nhanh chóng về số lượng tín đồ.
Qua nghiên cứu quá trình xâm nhập và phát triển đạo Tin Lành trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên giai đoạn từ 1931 -
Từ năm 1975, đạo Tin Lành đã xâm nhập và phát triển nhanh chóng trong cộng đồng các dân tộc thiểu số Tây Nguyên, đánh dấu một thực tế lịch sử với hơn 40 năm hoạt động truyền giáo theo mục tiêu của CMA là "Đem đức tin đến những nơi chưa từng được nghe danh của Chúa Giêsu" Quá trình này bao gồm các hoạt động tôn giáo có tổ chức, như truyền bá tín ngưỡng, đào tạo giáo sĩ, xây dựng cơ sở vật chất tôn giáo và tổ chức Hội thánh Mặc dù động cơ và hoàn cảnh của người theo đạo khác nhau, đạo Tin Lành đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao đời sống tinh thần và tâm linh cho một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên.
Quá trình phát triển đạo Tin Lành trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên trong thời kỳ chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã bị lợi dụng để chia rẽ dân tộc Đế quốc Mỹ đã hỗ trợ mạnh mẽ để Tin Lành phát triển, nhằm điều khiển và thao túng nó phục vụ cho mưu đồ xâm lược và cai trị Đồng thời, đạo Tin Lành trong giai đoạn này cũng có sự liên hệ chặt chẽ với tổ chức Fulrô, một tổ chức phản động vũ trang người Thượng, dẫn đến việc nhiều mục sư Tin Lành trở thành sỹ quan Fulrô Hệ quả là hoạt động tôn giáo của cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên bị ảnh hưởng nghiêm trọng, và những hậu quả này vẫn còn tồn tại dai dẳng tại các địa phương từ sau ngày giải phóng đến nay.
Giai đoạn từ 1975 - 1986
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975), nguồn cung ứng từ các chương trình “Viện trợ kinh tế” của Mỹ ngừng lại, khiến các công cụ cơ khí tại các ấp chiến lược và đồn điền vùng dân tộc thiểu số Tây Nguyên thiếu nhiên liệu và phụ tùng thay thế Cuộc chiến tranh tàn khốc trước đây đã làm tàn phá sức kéo của đàn trâu, bò, dẫn đến cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số gặp nhiều khó khăn Trong bối cảnh đó, đạo Tin Lành ở Tây Nguyên có sự thay đổi lớn: số lượng chức sắc và tín đồ suy giảm đáng kể, nhiều tổ chức từ thiện xã hội Tin Lành quốc tế cùng các mục sư, truyền đạo nước ngoài rời khỏi địa phương, trong khi một số mục sư có liên quan đến chế độ cũ cũng di tản ra nước ngoài.
Mặc dù Tin Lành ở Tây Nguyên có liên hệ chính trị với Fulrô, chính quyền cách mạng không phân biệt đối xử với tôn giáo này Thực tế, Tin Lành Tây Nguyên vẫn được phép hoạt động bình thường như các tôn giáo khác, với tổ chức giáo hội và các nhà thờ mở cửa, cho phép chức sắc giáo sĩ tiếp tục hành đạo.
Nhiều giáo sĩ và tín đồ Tin Lành, vì tư tưởng gắn bó với Mỹ và hận thù cách mạng, đã không hợp tác với chính quyền, trong khi một số mục sư làm cố vấn cho Trung ương Fulrô và các tín đồ giữ các chức vụ quan trọng trong tổ chức này Một số nhà thờ trở thành nơi cất giấu vũ khí và tài liệu, cũng như điểm tiếp tế cho Fulrô Tận dụng khó khăn kinh tế sau giải phóng, Fulrô nhanh chóng triển khai lực lượng, hình thành hệ thống “Chính quyền bí mật” từ trung ương đến các cơ sở xã, buôn, đồng thời cấu kết với các lực lượng phản động đội lốt tôn giáo ở Tây Nguyên để lập ra các đơn vị vũ trang chống lại chính quyền cách mạng, như đơn vị vũ trang ở huyện Đắc Min và bộ khung của sư đoàn F18 tại Ban Mê Thuột.
Trước tình hình bạo loạn vũ trang ở Tây Nguyên, chính quyền các tỉnh đã lãnh đạo quân và dân các dân tộc anh em đẩy lùi âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng Lực lượng vũ trang cách mạng, cùng với nhân dân các dân tộc thiểu số, đã truy quét và bóc gỡ các tổ chức Fulro hoạt động bí mật, làm suy yếu lực lượng của chúng và đánh bật ra khỏi các địa bàn quan trọng Các tên cầm đầu Fulro đã phải chuyển căn cứ sang khu vực biên giới ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia, tiếp tục hoạt động Đối với hoạt động của đạo Tin Lành, chính quyền đã phát động quần chúng tín đồ, đình chỉ hoạt động của Hội thánh Tin Lành, chỉ cho phép tín đồ sinh hoạt tại gia đình Kết quả là sau năm 1975, hoạt động Tin Lành suy yếu, nhiều hệ phái tan rã, chỉ còn một số tổ chức như Tổng liên hội Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) và một số hệ phái khác cố gắng duy trì sự hiện diện nhưng với quy mô giảm sút.
Từ giữa những năm 1980, một số mục sư như Y Ta H'mok, Y Soai ÊBan, Y No Byă, và R'Mah Loan đã bí mật gặp gỡ để phục hồi đạo Tin Lành Nhờ sự hỗ trợ từ nước ngoài, họ đã tiếp cận các buôn thôn để hành đạo trái phép, khôi phục đức tin và hoạt động của các hội thánh cũ Sự kiện này đã tạo tiền đề cho giai đoạn phát triển đột biến của Tin Lành Tây Nguyên từ 1986 đến 1999.
Giai đoạn từ năm 1986 - nay
Sau năm 1986, nhờ đường lối đổi mới và chính sách tự do tín ngưỡng của Đảng và Nhà nước, đạo Tin Lành ở Tây Nguyên đã hoạt động trở lại Với sự hỗ trợ tinh thần và vật chất từ các tổ chức tôn giáo trong và ngoài nước, đặc biệt là Hội thánh Tin Lành Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh, nhiều mục sư và truyền đạo đã trở lại với hoạt động truyền giáo, áp dụng nhiều hình thức và phương pháp khác nhau Điều này đã tạo ra một lực lượng nòng cốt mới, thu hút đông đảo tín đồ, đặc biệt là trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên.
Theo Tổng cục thống kê, kết quả tổng điều tra dân số ngày 01/4/1999 cho thấy tỷ lệ người theo đạo Tin Lành ở Tây Nguyên là cao nhất cả nước, đạt 46,1% Tỷ lệ này vượt trội so với các vùng khác như Đồng bằng sông Hồng (0,5%), Duyên hải Nam Trung Bộ (7,6%) và Đồng bằng sông Cửu Long (6,9%).
Bảng 1.3: Tỷ lệ dân số có tôn giáo chia theo vùng địa lý - kinh tế
Chia theo vuứng Daõn soỏ có tôn giáo
Phật giáo Công giáo Tin
Lành Hồi giáo Cao đài
PG Hòa Hảo Đồng bằng sông
Taây Nguyeân 5,5 3,1 7,6 46,1 0,0 0,9 0,0 Đông Nam bộ 33,4 30,3 41,1 34,2 77,8 4,8 0,1 Đồng bằng sông
(Nguồn: Tổng cục thống kê: kết quả tổng điều tra dân số 1/4/1999)
Khu vực Tây Nguyên có tỷ lệ tín đồ Công giáo cao nhất với 48,3%, tiếp theo là Phật giáo với 27,4% và đạo Tin Lành với 23,4% Gần đây, tỷ lệ tín đồ Tin Lành tại Tây Nguyên đã tăng đáng kể, chủ yếu tập trung ở Lâm Đồng, Gia Lai và Đăk Lăk.
Bảng 1.4: Tỷ lệ tín đồ của 6 tôn giáo lớn chia theo tôn giáo (%)
Chia theo tôn giáo Phật giáo
PG Hòa Hảo Đồng bằng sông Hồng 38,4 61,5 0,1 0,0 0,0 0,0 ẹoõng Baộc 36,2 60,8 3,0 0,0 0,0 0,0
Duyên hải Nam Trung bộ 65,8 25,0 3,8 0,0 0,4 0,0
Taây Nguyeân 27,4 48,3 23,4 0,0 0,0 0,0 Đông Nam bộ 43,8 42,7 2,9 1,0 0,6 0,0 Đồng bằng sông Cửu Long 59,1 11,5 0,5 0,3 0,3 22,3
(Nguồn: Tổng cục thống kê: kết quả tổng điều tra dân số 1/4/1999)
Tại Hội nghị chuyên đề "Tôn giáo trong đồng bào dân tộc thiểu số" do Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) tổ chức vào tháng 4 năm 2023, các báo cáo đã nêu rõ vai trò và ảnh hưởng của tôn giáo trong cộng đồng dân tộc thiểu số, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn văn hóa và truyền thống trong bối cảnh phát triển xã hội hiện đại.
1997 cho thấy: mặc dù tỷ lệ đạo Công giáo cao hơn tỷ lệ người theo đạo
Tin Lành đã phát triển nhanh chóng hơn so với Công giáo, với số tín đồ Công giáo từ 41.600 người năm 1975 tăng lên 148.533 người vào năm 1996, trong khi tín đồ Tin Lành từ 44.654 người tăng lên 180.727 người Theo báo cáo tại Hội nghị chuyên đề ở Hải Phòng tháng 5/2001, có 250 chi hội và hơn 1.000 điểm nhóm hoạt động truyền đạo trái pháp luật trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là tại Tây Nguyên và miền Trung Tình hình đạo Tin Lành ở các tỉnh phía Nam, đặc biệt là Tây Nguyên, đã gia tăng mạnh mẽ và phức tạp sau khi Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân cho đạo Tin Lành Việt Nam (miền Nam) vào tháng 04/2001 và ban hành chỉ thị 01/2005/CT-TTg vào ngày 04/2/2005.
Theo Báo cáo sơ kết chỉ thị 01/2005/CT-TTg, số người theo đạo Tin Lành ở Tây Nguyên hiện đạt 304.876, với 1.268 chi hội thánh và 1.076 điểm nhóm Đặc biệt, trong cộng đồng dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, đạo Tin Lành phát triển nhanh chóng, chiếm tỷ lệ 21,9% so với các tôn giáo khác Cụ thể, ở Đăk Lăk, tỷ lệ tín đồ Tin Lành là 18%; ở Gia Lai là 30,7%; ở Kon Tum là 4,4%; và ở Lâm Đồng là 33,7% Tỷ lệ tín đồ Tin Lành ở Tây Nguyên cho thấy sự gia tăng đáng kể so với điều tra dân số năm 1999.
Bảng 1.5: Tỷ lệ tín đồ của Phật giáo, Công giáo và Tin Lành ở vùng sâu, vùng xa tại các tỉnh trên địa bàn Tây Nguyên
Coâng giáo Tin Lành Đăk Lăk và Đăk Nông 5,1% 19% 18%
Trong những năm gần đây, sự tác động của tình hình thế giới và sự hỗ trợ từ các tổ chức Tin Lành trong và ngoài nước đã dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng số lượng tín đồ Tin Lành ở các vùng sâu, vùng xa và căn cứ cách mạng Điều này đã mở rộng hoạt động của đạo Tin Lành trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, cả về quy mô lẫn tổ chức.
Hiện nay, hoạt động trái phép của đạo Tin Lành, đặc biệt là tổ chức "Tin Lành Đêga", đang gây ra nhiều vấn đề đáng lưu ý Tổ chức này được thành lập bởi các thế lực thù địch nhằm lôi kéo quần chúng và tập hợp lực lượng chống đối Qua điều tra, cho thấy rằng hầu hết các thành viên cốt cán trong "Hội thánh Tin Lành Đêga" đều là những người cầm đầu Fulrô cũ, cùng với một số chức sắc Tin Lành khác.
Bọn thù địch đang tích cực phát triển tín đồ thông qua nhiều phương thức như dụ dỗ đồng bào dân tộc bằng lợi ích vật chất, khống chế và phát tán tài liệu phản động, cũng như kích động tư tưởng ly khai và cực đoan trong cộng đồng dân tộc thiểu số Họ đe dọa và khống chế đội ngũ cán bộ cốt cán ở xã, thôn, đồng thời kích động quần chúng chống chính quyền bằng bạo lực chính trị, từ yêu cầu đòi lại đất đai đến việc thành lập tôn giáo riêng "Tin Lành Đêga" và "Nhà nước Đêga độc lập" Hoạt động của các lực lượng này qua "Tin Lành Đêga" đã gây nguy hại đến chính sách kinh tế - xã hội và tạo ra những diễn biến phức tạp về an ninh trật tự trong cộng đồng dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên.
Sau khi Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân của Hội thánh Tin Lành Việt Nam, nhiều chức sắc Tin Lành ở Tây Nguyên đã chỉ trích "Tin Lành Đêga" Tuy nhiên, do nhận thức hạn chế và tính tự phát trong sinh hoạt tín ngưỡng, hoạt động của tín đồ trở nên phức tạp, có nơi vượt khỏi tầm kiểm soát của chính quyền Một số cốt cán và chức sắc vẫn lợi dụng sinh hoạt tôn giáo để tổ chức các cuộc họp trái phép và tuyên truyền, lôi kéo đồng bào dân tộc theo đạo "Tin Lành Đêga".
Qua tìm hiểu lịch sử du nhập đạo Tin Lành trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên thấy nổi lên một số vấn đề sau:
Hoạt động của đạo Tin Lành tại Tây Nguyên gần đây đã diễn ra với nhiều biến chuyển phức tạp, tốc độ phát triển nhanh chóng và ở một số khu vực xuất hiện sự gia tăng đột biến, không theo quy luật thông thường.
Từ khi đạo Tin Lành du nhập vào Tây Nguyên, nó đã có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần, tín ngưỡng, văn hóa và phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số Sự phát triển của đạo này cũng tác động đến kinh tế, xã hội và an ninh trật tự trong khu vực Tây Nguyên.
Quá trình xâm nhập và phát triển đạo Tin Lành trong cộng đồng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên thường liên quan đến âm mưu xâm lược của các thế lực thù địch Những tổ chức phản động vũ trang luôn lợi dụng đạo Tin Lành để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân và thành quả cách mạng, thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” tại Tây Nguyên.