Đầu phiên giao dịch 98 trên thị trường Mỹ (đêm 98 giờ Việt Nam), chỉ số US Dollar Index (DXY), đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) đứng ở mức 92,87 điểm.Đồng bạc xanh tăng nhanh trong bối cảnh Bộ Lao động Mỹ cuối tuần trước bất ngờ công bố số liệu về thị trường lao động ấn tượng với 943.000 việc làm mới được tạo ra trong tháng 7, cao hơn so với mức kỳ vọng 870.000 việc làm. Cùng với đó, tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống chỉ còn 5,4%, so với mức 5,9% trong tháng 9.
Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Quá trình hình thành
Kinh doanh từ ngày 1 tháng 9 năm 1970, công ty ban đầu mang tên Nhà máy Sơn - Mực in, được thành lập theo quyết định số 1083/HC-QLKT vào ngày 11 tháng 8 năm 1970 của Tổng cục trưởng Tổng cục Hoá chất Việt Nam.
Công ty Sơn Tổng Hợp Hà Nội được thành lập lại vào năm 1993 theo quyết định số 295 QĐ/TCNS-ĐT ngày 24/5/1993 của Bộ Công nghiệp nặng, hiện nay là Bộ Công nghiệp Công ty hoạt động sản xuất kinh doanh theo quy định của luật doanh nghiệp nhà nước.
Tên giao dịch quốc tế :HASYNPAINTCO (hanoi synthetic paint company)
Trụ sở chính :Xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội
Cơ sở sản xuất 2 :số nhà 81 phố Hào Nam, phường Ô Chợ Dừa quận Đống Đa thành phố Hà Nội.
Năm 1970, Công ty Sơn Tổng Hợp Hà Nội ra đời từ nhà máy sơn - mực in tổng hợp, được thành lập theo quyết định của Nhà nước Thời điểm đó, cơ sở vật chất còn nghèo nàn với vốn kinh doanh chỉ 1,6 triệu đồng và tổng số lao động là 132 người, trên diện tích 3.834 m² Sản phẩm chính của công ty là sơn gốc dầu và mực in phục vụ cho các toà báo của Đảng và Nhà nước, với sản lượng khiêm tốn đạt 10 tấn sơn và 1.200 tấn mực.
Năm 1971, nhà máy sơn mực in đã nghiên cứu và lắp đặt nồi nấu nhựa Alkyd 300 lít với công nghệ thô sơ và gia nhiệt bằng than, dẫn đến chất lượng sơn Alkyd chưa cao Đến năm 1974, nhà máy đã mở rộng sản xuất và cho ra đời hệ thống tổng hợp nhựa Alkyd đầu tiên ở miền Bắc, bao gồm 4 nồi nấu nhựa Alkyd tự thiết kế, mỗi nồi có dung tích 1000 lít, sử dụng công nghệ đẳng phí và gia nhiệt bằng điện trở Vào thời điểm này, sản phẩm sơn Alkyd của nhà máy đã chiếm ưu thế trên thị trường sơn Việt Nam.
Xuất phát từ nhu cầu của thị trường và năng lực sẵn có Công ty đã nhiều lần lắp đặt công nghệ mới như :
Năm 1979: Lắp đặt một hệ thống tổng hợp nhựa phenol.
Năm 1982: Xây dựng xưởng sản xuất ôxít sắt.
Năm 1984: Xây dụng xưởng cao su.
Từ đó Nhà máy cho ra đời thêm nhiều sản phẩm mới như :sơn Alkyd - melamin, sơn cách điện, sơn chống hà…
Công ty đã thực hiện đổi mới từ năm 1986, theo xu thế chung của cả nước, nhằm tạo ra thế và lực mới Nhờ vào sự đầu tư đúng hướng và từng bước chắc chắn, Công ty đã đạt mức tăng trưởng bình quân 20% mỗi năm trong giai đoạn này.
Năm 1992, Công ty đã quyết định đầu tư $55.000 vào công nghệ mới cho dây chuyền sản xuất Sơn Alkyd, sản phẩm chủ lực của mình Chỉ sau một năm hoạt động, sản lượng sản xuất đã tăng gấp đôi, đạt 1200 tấn vào năm 1993.
Năm 1995, Công ty đã đầu tư nâng cấp với việc đưa vào hoạt động 5 dây chuyền thiết bị hiện đại, đạt hiệu quả kinh tế cao Đến ngày 31/12/1996, Công ty được thành lập lại theo quyết định số 682/QĐ/HĐQT của Hội đồng Quản trị Tổng Công ty Hoá chất Việt Nam, chính thức hoạt động độc lập, hạch toán kinh tế riêng, và có tư cách pháp nhân cùng tài khoản và con dấu riêng.
Với xu hướng hội nhập kinh tế toàn cầu, vào năm 1997, Công ty đã hợp tác với PPG của Mỹ để cung cấp sản phẩm và dịch vụ tư vấn kỹ thuật sơn ô tô cho Ford Việt Nam, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế Đồng thời, công ty cũng hợp tác với Kawakami của Nhật Bản để cung cấp sơn xe máy cho Honda Việt Nam, góp phần vào chiến lược nội địa hóa xe máy tại Việt Nam Công ty không ngừng đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng khoa học vào sản xuất, tạo ra nhiều sản phẩm sơn chất lượng cao phục vụ toàn quốc.
Nhận thức được thế mạnh của mình, vào năm 1998, Công ty đã đầu tư vào dây chuyền sản xuất nhựa Alkyd hiện đại với công suất ban đầu là 3000 tấn/năm, dự kiến sẽ nâng lên 6000 tấn vào năm 2003.
Nhờ vậy, công suất sản xuất nhựa tăng gấp 5 lần, chất lượng tương đương hàng ngoại nhập.
Sau những nỗ lực không ngừng nghỉ của ban giám đốc và toàn thể công nhân, vào tháng 7 năm 1999, công ty đã vinh dự nhận chứng chỉ ISO 9002 Đồng thời, công ty cũng đang tiếp tục triển khai quản lý môi trường theo tiêu chuẩn quốc tế ISO.
14000 Đây là chìa khoá giúp Công ty khẳng định mình trên thị trường trong nước và vươn ra một tầm cao mới là thị trường nước ngoài.
Nhiệm vụ sản xuất kinh doanh
Từ năm 1970 đến 1985, Nhà nước đảm nhận toàn bộ các yếu tố đầu vào và đầu ra sản phẩm, khiến công ty chỉ cần hoàn thành kế hoạch được giao Kể từ năm 1986, sự bao cấp đã chấm dứt, và công ty bắt đầu tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh Hiện nay, nhiệm vụ chính của công ty là sản xuất các loại sơn đáp ứng yêu cầu và sở thích của khách hàng, nhằm tăng lợi nhuận và cải thiện đời sống cho cán bộ công nhân viên.
Trong những năm gần đây, Công ty đã hoàn thành xuất sắc chức năng và nhiệm vụ của mình, dẫn đến việc mở rộng quy mô và nâng cao khả năng cạnh tranh Điều này được thể hiện rõ qua các số liệu trong bảng dưới đây.
Bảng 1.2: Bảng tóm tắt một số chỉ tiêu đánh giá khái quát thực trạng tài chính và kết quả kinh doanh của Công ty
Chỉ tiêu Đơn vị Năm
Năm 2002 so với năm 2001 đối đối
1.Bố trí cơ cấu TS & cơ cấu NV
1.1 Bố trí cơ cấu TS
1.2 Bố trí cơ cấu NV
_ Nợ phải trả/ Tổng NV % 63,8 64,4 +0,6
_ Khả năng thanh toán hiện hành lần 1,6 1,6 0
_ Khả năng thanh toán nhanh lần 0,2 0,2 0
_ Tỷ suất lợi nhuận trước thuế /Doanh thu % 3,4 4,6 +1,2
_ Tỷ suất lợi nhuận sau thuế / Doanh thu % 2,3 3,0 +0,7
_ Tổng quỹ lương + Thưởng tr đ 9.482 15.335 +2.852 130,1
_ Lao động bình quân người 440 520 +80 118,2
_ Thu nhập bình quân/tháng 1000 đ 1.800 1.980 +180 110
( Nguồn : Báo cáo tổng kết cuối năm 2002 của Công ty) Nhận xét:
Từ bảng trên cho thấy tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của Công ty tương đối tốt.
Năm 2002, cơ cấu tài sản của Công ty có sự biến động tích cực với tài sản cố định tăng và tài sản lưu động giảm 6,6% so với năm 2001, nhờ vào việc đầu tư mới và nâng cấp dây chuyền tổng hợp nhựa Alkyd, nâng cao sức cạnh tranh Công ty chủ yếu sử dụng nợ dài hạn, cho thấy khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn tương đối cao, với tỉ suất thanh toán hiện hành đạt 1,6, chứng tỏ tình hình tài chính khả quan Tỉ suất thanh toán nhanh là 0,2, kết hợp với tỉ suất thanh toán hiện hành, phản ánh sự ổn định tài chính của Công ty.
Công ty có khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn trong vòng một năm, nhưng gặp khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ đến hạn hoặc quá hạn do lượng tiền dự trữ hạn chế Do đó, Công ty cần nhanh chóng thu hồi các khoản phải thu để cải thiện khả năng thanh toán nợ.
Tỉ suất lợi nhuận trước thuế trên doanh thu năm 2002 đã tăng 1,2% so với năm 2001, cho thấy Công ty đã cải thiện hiệu quả chi phí và nâng cao năng suất lao động.
Tổng quỹ lương năm 2002 đạt 12.335.200.000 đồng, tăng 2.852.800.000 đồng, tương đương 130% so với năm 2001 Mặc dù số lượng lao động tăng thêm 80 người, thu nhập bình quân đầu người mỗi tháng vẫn tăng 180.000 đồng, đạt 110%, nhờ vào tốc độ tăng quỹ lương vượt trội hơn so với tốc độ tăng số lượng lao động (118,2%).
1.3. Đặc điểm quy trình công nghệ.
Nhựa thiên nhiên Bột màu
Rượu đa chức, xúc tác Dung môi ự Muối trộn
Sơ đồ 1.3: Quy trình công nghệ sản xuất.
Quy trình sản xuất sản phẩm bắt đầu bằng việc tổng hợp nhựa Alkyd, sau đó điều chỉnh độ loãng bằng cách bơm xăng Nhựa được trộn với muối cùng với bọt và dung môi phụ gia, đạt tiêu chuẩn sau khi kiểm tra Sản phẩm bán ra từ công đoạn này sẽ được nghiền cán, và nếu đạt yêu cầu, sẽ tiếp tục qua giai đoạn pha chế Cuối cùng, sản phẩm đạt tiêu chuẩn sẽ được đóng hộp và nhập kho.
Sơ đồ trên mô tả quá trình sản xuất như một hệ thống liên hoàn, bao gồm nhiều khâu và bộ phận khác nhau Mỗi khâu và bộ phận đảm nhận chức năng riêng, đồng thời có mối liên hệ chặt chẽ với nhau trong toàn bộ quy trình sản xuất.
Trong nền kinh tế tri thức, công nghệ đóng vai trò then chốt để đạt được thành công, vì vậy các công ty cần chú trọng đổi mới trang thiết bị và máy móc nhằm tạo ra sản phẩm có giá trị cao Việc trang bị công nghệ mới có thể thực hiện qua việc mua sắm từ nước ngoài hoặc thông qua chuyển giao công nghệ qua liên doanh, liên kết Đặc biệt, việc khuyến khích tinh thần sáng tạo và cải tiến kỹ thuật từ đội ngũ lao động là rất quan trọng, vì đây là con đường dẫn đến sự phát triển bền vững.
Quy trình công nghệ phức tạp trong sản xuất yêu cầu trình độ khác nhau ở mỗi giai đoạn, dẫn đến việc tính lương, trả lương và ghi sổ kế toán trở nên khó khăn Để thực hiện hiệu quả công việc này, bộ phận lao động tiền lương và kế toán cần có trình độ nghiệp vụ chuyên sâu và thành thạo.
Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý hoạt động kinh doanh của công ty được xây dựng theo mô hình trực tuyến – chức năng, nhằm tối ưu hóa hiệu quả sản xuất kinh doanh Sự phân quyền trong quản lý công ty được thể hiện rõ ràng qua sơ đồ tổ chức, giúp cải thiện sự phối hợp và quản lý các hoạt động.
Các phòng chuyên môn và phân xưởng sản xuất, được gọi chung là đơn vị, có nhiệm vụ tham mưu và hỗ trợ giám đốc trong việc quản lý và điều hành công việc Những đơn vị này chịu trách nhiệm trước giám đốc về các lĩnh vực mà giám đốc phân công, đồng thời hoạt động dưới sự quản lý trực tiếp của giám đốc.
Trong trường hợp cần thiết, đơn vị còn phải thực hiện các công việc phát sinh khác ngoài chức năng nhiệm vụ khi được Giám đốc giao.
Trong mỗi lĩnh vực công tác, cần có một đơn vị chủ trì chính Trưởng các đơn vị phải thường xuyên phối hợp chặt chẽ, tôn trọng lẫn nhau và tạo điều kiện để hoàn thành nhiệm vụ chung Đơn vị chủ trì cần chủ động làm việc với các đơn vị liên quan để thống nhất phương án trước khi trình Công ty phê duyệt.
Tất cả các lĩnh vực hoạt động và thành viên trong đơn vị cần tuân thủ nghiêm ngặt quy định pháp luật và quy chế quản lý của Công ty trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Trưởng đơn vị cần chủ động phân công nhiệm vụ cho các thành viên dựa trên chức danh, tiêu chuẩn công việc và sức khoẻ của họ Việc này nhằm tạo điều kiện thuận lợi để các thành viên phát huy năng lực và hoàn thành tốt nhiệm vụ công tác.
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý kinh doanh của công ty được thể hiện qua sơ đồ sau.