Khái niệm và vai trò của vốn đối với phát triển kinh tế
Trong cuốntừ điển kinh tế hiện đại có giải thích:
Tư bản, hay còn gọi là vốn, là yếu tố sản xuất do hệ thống kinh tế tạo ra Hàng hóa tư liệu vốn được sản xuất để làm đầu vào cho quá trình sản xuất tiếp theo Tư bản khác biệt với đất đai và sức lao động, vì chúng không được coi là sản phẩm của hệ thống kinh tế Sự không đồng nhất trong bản chất của tư bản dẫn đến nhiều tranh cãi trong lý thuyết kinh tế về cách đo lường nó.
Theo cấu trúc giá trị của hàng hoá:
Giá trị của hàng hóa hay dịch vụ (Gt) được xác định bởi tư bản bất biến (c), tức là phần khấu hao giá trị của tư liệu sản xuất và vật tư sản xuất đã chuyển sang hàng hóa hoặc dịch vụ.
Tư bản khả biến (v + m) bao gồm giá trị mới được tạo ra bởi công nhân thông qua việc điều hành máy móc để sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ Trong đó, v là số tiền mà nhà tư bản chi trả cho công nhân, còn m là thặng dư sức lao động mà nhà tư bản chiếm hữu Để thực hiện tái sản xuất, nhà tư bản cần đầu tư vốn cho cả tư bản bất biến và tư bản khả biến Cần lưu ý rằng tư bản khả biến không đồng nghĩa với người lao động; lao động không phải là vốn đầu tư, mà chỉ sức lao động đã chi ra mới là yếu tố cấu thành vốn đầu tư.
Vốn được hiểu là nguồn lực thiết yếu cho sản xuất, bao gồm chi phí về đất đai, tài chính và lao động Để tiến hành tái sản xuất hiệu quả, cần có sự kết hợp hài hòa giữa các yếu tố này, trong đó lao động được coi là nguồn lực quý giá nhất.
Vốn đầu tư phát triển kinh tế không chỉ bao gồm nguồn lực tài chính mà còn bao gồm cả đầu tư cho khoa học công nghệ, nghiên cứu và phát triển, cũng như đào tạo nguồn nhân lực nhằm nâng cao trình độ nghiên cứu Hiện nay, hoạt động nghiên cứu, triển khai và đào tạo cán bộ diễn ra rộng rãi trong hầu hết các ngành và cơ quan sản xuất kinh doanh Ngoài những trung tâm lớn với ngân sách riêng, nhiều cơ quan và đơn vị khác lại xem khoản chi này như một phần của chi phí sản xuất hoặc kinh phí hoạt động thường xuyên.
Vốn đầu tư phát triển kinh tế được coi là nguồn lực vật chất và sức lao động được sử dụng một cách có ý thức để tạo ra tài sản hữu hình và vô hình Mục tiêu chính của việc đầu tư này là nâng cao và mở rộng sản xuất thông qua xây dựng, mua sắm thiết bị, máy móc, nhà xưởng, nguyên vật liệu, cũng như nghiên cứu, triển khai và tiếp thu công nghệ mới, từ đó cải thiện đời sống người dân.
1.1.2 Vai trò của vốn đối với phát triển kinh tế : Để tăng trưởng và phát triển kinh tế một cách bền vững thì một trong những điều kiện cực kỳ quan trọng đối với mọi quốc gia là phải mở rộng đầu tư Người ta hay nói đến một trong những nguyên nhân chính làm cho kinh tế của 5 con rồng Châu Á tăng trưởng nhanh trong một thời gian dài là do vốn để đầu tư phát triển kinh tế tăng lên liên tục và thường chiếm khoảng 30% trong GDP Nếu xét trên giác độ chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân thì sự tăng thêm của GDP tỷ lệ thuận với đầu tư; tỷ lệ nghịch với ICOR Đầu tư chính là vốn đầu tư phát triển đã thực hiện trong năm. Đầu tư trong năm GDP tăng thêm ICOR (1.2)
Trong kinh tế học, sự khác biệt giữa tăng trưởng và phát triển được phân định rõ Tăng trưởng chỉ đơn thuần là sự gia tăng về số lượng, trong khi phát triển bao gồm cả sự thay đổi về chất và cơ cấu Để đạt được phát triển bền vững, cần đầu tư không chỉ vào năng lực sản xuất mà còn vào các lĩnh vực như nghiên cứu, giáo dục và nâng cao chất lượng cuộc sống Những khoản đầu tư này, mặc dù không trực tiếp tạo ra tài sản cố định hay tài sản lưu động, nhưng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng tăng trưởng Do đó, chúng tôi cho rằng các khoản đầu tư này thuộc về đầu tư phát triển của xã hội và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư hàng năm.
Sự phát triển của các quốc gia đã chỉ ra rằng vốn đóng vai trò quan trọng, là yếu tố then chốt quyết định thành công trong tăng trưởng và phát triển kinh tế.
- Vốn là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất- kinh doanh:
Vốn là yếu tố thiết yếu cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp, được định nghĩa là khối lượng giá trị được tạo lập nhằm mục đích sinh lợi Nó không chỉ thể hiện bằng giá trị mà còn đại diện cho tài sản cụ thể Mối quan hệ giữa vốn và tiền rất chặt chẽ; để có vốn, cần có tiền, nhưng không phải mọi khoản tiền đều được coi là vốn Vốn kinh doanh phải được đảm bảo bằng tài sản thực, đủ để đầu tư cho dự án và được sử dụng để sinh lời Vốn đóng vai trò vừa là yếu tố đầu vào, vừa là kết quả phân phối thu nhập từ sản xuất Trong suốt quá trình hoạt động, vốn cần được bảo toàn và phát triển để tiếp tục hỗ trợ cho chu kỳ kinh doanh tiếp theo.
- Vốn là nhân tố quan trọng có tính quyết định đến tăng trưởng và phát triển kinh tế:
+ Tác động của vốn đầu tư đến cân bằng kinh tế vĩ mô:
Để đảm bảo sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, cần duy trì sự cân bằng giữa tiết kiệm và đầu tư, giúp nền kinh tế có đủ vốn cho phát triển và tiêu hóa hiệu quả số tiền tiết kiệm Vốn được hình thành từ sự kết hợp giữa tiết kiệm và đầu tư, nhưng trong nền kinh tế thị trường, hai yếu tố này thường không khớp nhau do quyết định độc lập của công chúng và doanh nghiệp Điều này có thể dẫn đến tình trạng thừa hoặc thiếu vốn, gây ra sự phát triển không ổn định và gia tăng thất nghiệp Do đó, sự can thiệp của Nhà nước là cần thiết để khuyến khích đầu tư và thiết lập cân bằng giữa tiết kiệm và đầu tư thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô hợp lý Trong các nền kinh tế đang phát triển, nhu cầu vốn đầu tư thường vượt quá số tiền tiết kiệm, buộc phải huy động vốn từ bên ngoài Tuy nhiên, việc phụ thuộc vào vốn nước ngoài có thể tạo ra gánh nặng nợ nần trong dài hạn, vì vậy Nhà nước cần kiểm soát chặt chẽ dòng vốn nước ngoài và cải thiện tài chính quốc gia để tăng cường tỷ trọng vốn trong nước.
+ Tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế:
Vốn đóng vai trò quan trọng trong việc khai thác nguồn lao động và tài nguyên, vì thiếu vốn, các nguồn lực chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng Để phát triển kinh tế, cần duy trì một tỷ lệ vốn đầu tư nhất định, đặc biệt là vào cơ sở hạ tầng Theo Ngân hàng Thế giới, sự gia tăng tổng sản phẩm quốc gia thường đi kèm với sự tăng trưởng vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng Do đó, để phát triển kinh tế bền vững, việc tập trung đầu tư vào cơ sở hạ tầng là điều thiết yếu, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế.
Để đạt được mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, nền kinh tế cần tạo ra một khung cân đối hài hòa về cơ cấu ngành và vùng lãnh thổ Vốn là yếu tố quan trọng trong việc khai thác hiệu quả nguồn lực tiềm năng và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu Do đó, mỗi nền kinh tế cần xác lập cơ cấu hợp lý và thu hút đầu tư trong và ngoài nước để tăng tốc độ tăng trưởng và phát triển.
Các hình thức huy động vốn để phát triển kinh tế
Trong tổng thu nhập của mỗi quốc gia, sau khi trừ đi phần tiêu dùng, phần còn lại được sử dụng để bù đắp và tích lũy, trong đó quỹ tích lũy đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành vốn đầu tư Quỹ tích lũy chủ yếu được hình thành từ các khoản tiết kiệm, và tỷ lệ tích lũy thường cao hơn ở các nền kinh tế phát triển Tuy nhiên, các nước đang phát triển, đặc biệt là những nước có thu nhập thấp, thường gặp khó khăn với quy mô và tỷ lệ tiết kiệm thấp, trong khi nhu cầu phát triển kinh tế ngày càng tăng, đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn Do đó, việc huy động nguồn vốn hỗ trợ từ bên ngoài là rất cần thiết.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chu chuyển quốc tế hiện nay, các quốc gia phát triển cũng cần hợp tác chặt chẽ trong việc huy động vốn đầu tư từ cả trong và ngoài nước để thúc đẩy sự phát triển kinh tế.
Nguồn vốn đầu tư trong nước được huy động chủ yếu từ các hình thức sau:
1.2.1 Huy động vốn từ NSNN
Vốn ngân sách đóng vai trò quyết định trong việc đầu tư công ích, trong khi vốn từ các thành phần kinh tế khác và nguồn lực trong dân cũng rất quan trọng cho hoạt động đầu tư kinh doanh.
Vốn đầu tư trong nước là biểu hiện của sức mạnh nội lực quốc gia, mang lại sự ổn định và bền vững cho nền kinh tế Đặc biệt, nguồn vốn này có chi phí thấp, giúp giảm thiểu rủi ro và những tác động tiêu cực từ yếu tố bên ngoài.
+ Huy động vốn từ nguồn thu thuế :
Các nhà kinh tế học nhấn mạnh vai trò quan trọng của thuế trong ngân sách Nhà nước và đời sống xã hội Thông qua hoạt động thu thuế, Nhà nước có thể tập trung một phần của cải xã hội, từ đó hình thành quỹ ngân sách và thực hiện các chính sách kinh tế hiệu quả.
Trong lĩnh vực Luật học, thuế được xác định là một thực thể do Nhà nước thiết lập thông qua các văn bản pháp luật Những văn bản này không chỉ quy định các loại thuế mà còn xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể cũng như các biện pháp đảm bảo việc thu và nộp thuế Pháp luật thuế đóng vai trò quan trọng trong việc thể chế hoá các chính sách kinh tế của Nhà nước, quyết định ý nghĩa kinh tế của thuế và cung cấp nguồn vốn thiết yếu cho nền kinh tế và đời sống xã hội.
Vai trò của thuế là sự thể hiện cụ thể các chức năng trong bối cảnh kinh tế và xã hội nhất định Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, với sự thay đổi trong cách thức can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh tế, thuế trở thành yếu tố quan trọng đối với sự phát triển kinh tế Các khía cạnh thể hiện vai trò của thuế bao gồm việc điều tiết thu nhập, hỗ trợ chi tiêu công, và khuyến khích đầu tư phát triển.
* Thuế là công cụ chủ yếu của Nhà nước nhằm huy động tập trung một phần của cải vật chất trong xã hội vào ngân sáchNhà nước.
Nhà nước quy định pháp luật thuế và xác định các loại thuế áp dụng cho cá nhân và tổ chức Nghĩa vụ nộp thuế của các chủ thể theo quy định pháp luật đã tạo ra nguồn tài chính quan trọng, đóng góp lớn vào ngân sách Nhà nước.
Pháp luật thuế, giống như pháp luật nói chung, có vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội, với mục đích chính là tạo lập quỹ ngân sách Nhà nước Ở hầu hết các quốc gia, thuế là phương thức chủ yếu được pháp luật quy định để thu ngân sách Nhà nước.
Thuế đóng vai trò quan trọng trong việc phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, đặc biệt khi nguồn thu từ nước ngoài đang giảm và kinh tế đối ngoại chuyển sang hình thức vay trả Với cơ cấu kinh tế đa dạng, hệ thống pháp luật thuế được áp dụng đồng nhất giữa các thành phần kinh tế, giúp điều chỉnh hầu hết các hoạt động sản xuất, kinh doanh, và tiêu dùng xã hội Đây là nguồn thu chính cho ngân sách Nhà nước, góp phần ổn định trật tự xã hội và tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững.
Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô quan trọng của Nhà nước đối với nền kinh tế, đáp ứng yêu cầu khách quan trong điều kiện kinh tế thị trường Thông qua các quy định về cơ cấu thuế, đối tượng nộp thuế, thuế suất và miễn giảm thuế, Nhà nước chủ động điều chỉnh các hoạt động kinh tế Vai trò của pháp luật thuế không chỉ ảnh hưởng đến tư duy và hành vi đầu tư của các doanh nghiệp mà còn tác động đến hành vi tiêu dùng của người dân Nhờ vào công cụ thuế, Nhà nước có khả năng thúc đẩy hoặc hạn chế đầu tư và tiêu dùng trong xã hội.
Thông qua các quy định pháp luật thuế, Nhà nước can thiệp vào cung-cầu của nền kinh tế, góp phần điều chỉnh một cách hợp lý nhằm ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Sự tác động này diễn ra ở tất cả các giai đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng, tạo ra ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển kinh tế.
* Pháp luật thuế là công cụ góp phần đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và công bằng xã hội.
Hệ thống pháp luật thuế được áp dụng đồng nhất cho tất cả các ngành nghề và thành phần kinh tế, nhằm đảm bảo sự công bằng xã hội và quyền lợi cho mọi cá nhân và tổ chức.
Sự bình đẳng và công bằng được thể hiện qua chính sách khuyến khích đồng nhất giữa các đơn vị và cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế, đảm bảo mọi đối tượng có điều kiện hoạt động tương đương.
Thuế đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết thu nhập, ảnh hưởng đến các quan hệ phân phối và sử dụng thu nhập trong xã hội Pháp luật thuế không chỉ điều chỉnh cách thức phân phối thu nhập mà còn tác động đến cách thức sử dụng nguồn tài chính này, từ đó góp phần tạo ra sự công bằng và ổn định trong nền kinh tế.
Mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế
Đầu tư có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tăng trưởng kinh tế thông qua cả tổng cung và tổng cầu Trong cấu trúc tổng cầu, đầu tư đóng vai trò là một yếu tố quan trọng, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế.
Y là sản lượng hay thu nhập quốc dân
C là tiêu dùng dân cư
G là chi tiêu của Nhà nước
Từ đẳng thức (1.3) ở trên chúng ta thấy rằng, khi đầu tư I tăng lên thì trực tiếp làm cho thu nhập quốc dân Y tăng lên.
Theo lý thuyết Keynes, khi đầu tư tăng lên một đơn vị, thu nhập Y sẽ tăng hơn một đơn vị Cụ thể, khi thay thế hàm tiêu dùng C = a + bY và hàm nhập khẩu M = u + vY theo biến Y, ta có thể diễn đạt đẳng thức (1.3) một cách rõ ràng hơn.
Hệ số biến thiên hướng tiêu dùng biên (b) bao gồm cả tiêu dùng trong nước và tiêu dùng nhập khẩu Do đó, (b - v) sẽ lớn hơn 0, trong khi (1 - b + v) sẽ nhỏ hơn 1, dẫn đến 1/(1 - b + v) sẽ lớn hơn 1.
Theo đẳng thức (1.4), khi các điều kiện khác không thay đổi, việc tăng đầu tư I thêm 1 đơn vị sẽ dẫn đến sự gia tăng thu nhập Y vượt quá 1 đơn vị Hiện tượng này được gọi là ảnh hưởng hệ số nhân (Multiplier effect).
Mức độ ảnh hưởng của tổng cầu đến nền kinh tế phụ thuộc vào năng lực cung Khi năng lực cung bị hạn chế, sự gia tăng tổng cầu, bất kể nguyên nhân, chủ yếu dẫn đến tăng giá cả mà không làm tăng đáng kể sản lượng thực tế.
Khi năng lực cung dồi dào, việc gia tăng tổng cầu sẽ thực sự làm tăng sản lượng, như lý thuyết Keynes đã chỉ ra Năng lực cung của nền kinh tế được thể hiện qua độ dốc của đường cung Đầu tư có ảnh hưởng lớn đến tăng trưởng kinh tế thông qua tổng cung, vì vốn là yếu tố đầu vào cơ bản trong sản xuất Vốn kết hợp với lao động và tài nguyên tạo ra của cải vật chất cho xã hội Nhiều nghiên cứu cho thấy vốn là nhân tố quan trọng nhất trong việc tạo ra tăng trưởng kinh tế, không chỉ đóng góp trực tiếp mà còn gián tiếp qua việc thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật và giảm chi phí sản xuất nhờ quy mô lớn Những đóng góp này nâng cao hiệu quả của nền kinh tế.
Mô hình tăng trưởng Harrod-Domar, dựa trên tư tưởng của Keynes vào những năm 1940, giới thiệu hệ số ICOR (Incremental Capital – Output Ratio) để phân tích mối quan hệ giữa vốn và đầu ra Mô hình này được áp dụng rộng rãi ở các nước đang phát triển nhằm đánh giá mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và nhu cầu về vốn đầu tư.
Hệ số ICOR là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả đầu tư của một quốc gia hoặc ngành, cho thấy số tiền cần thiết để đầu tư nhằm tăng thêm một đơn vị sản lượng Điều này được thể hiện qua phương trình Harrod-Domar.
Hệ số ICOR cho thấy mối quan hệ tỷ lệ nghịch với tốc độ tăng trưởng kinh tế; nước nào có hệ số ICOR thấp hơn sẽ đạt được tốc độ tăng trưởng cao hơn với tỷ lệ đầu tư/GDP giống nhau Sự khác biệt trong hệ số ICOR giữa các quốc gia giải thích rõ ràng sự khác biệt về tốc độ tăng trưởng Một hệ số ICOR thấp chứng tỏ đầu tư hiệu quả hơn, yêu cầu tỷ lệ đầu tư/GDP thấp hơn để duy trì tốc độ tăng trưởng tương đương Tuy nhiên, theo quy luật lợi tức biên giảm dần, khi nền kinh tế phát triển, hệ số ICOR sẽ gia tăng, dẫn đến nhu cầu về tỷ lệ đầu tư/GDP cao hơn để duy trì cùng một tốc độ tăng trưởng So sánh hệ số ICOR giữa các ngành trong nền kinh tế giúp xác định ngành nào có hiệu quả đầu tư cao hơn.
Mô hình Harrod – Domar chỉ ra rằng sự tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào sự tương tác giữa tiết kiệm và đầu tư, với đầu tư đóng vai trò là động lực chính Đầu tư không chỉ tạo ra lợi nhuận mà còn nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế.
∆ Vốn đầu tư Mức tăng GDP =
ICOR (Incremental Capital-Output Ratio) là một chỉ số quan trọng đối với các nước đang phát triển, tuy nhiên, việc áp dụng mô hình này gặp phải nhiều trở ngại, đặc biệt là vấn đề vốn Để có đủ nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế, các quốc gia này thường phải hy sinh tiêu dùng và tăng thuế, nhưng do phần lớn là những nước nghèo, giải pháp này thường không mang lại hiệu quả cao Do đó, cần huy động mọi nguồn vốn trong và ngoài nước để thúc đẩy đầu tư phát triển bền vững.
Các nhân tố ảnh hưởng đến dòng vốn đầu tư phát triển kinh tế
Nền kinh tế là một hệ thống liên kết chặt chẽ, trong đó các biến kinh tế vĩ mô như lãi suất thị trường, thu nhập quốc dân, chính sách tài chính - tiền tệ và tài khoá, cùng với xuất nhập khẩu, có mối quan hệ tương tác lẫn nhau Những biến số này không chỉ tác động trực tiếp mà còn gián tiếp đến dòng vốn đầu tư (VĐT), ảnh hưởng đến cầu và nguồn cung VĐT của các chủ thể kinh tế.
Lãi suất là một yếu tố kinh tế vĩ mô quan trọng, ảnh hưởng đến quyết định chi tiêu, tiết kiệm và đầu tư Lãi suất có thể thúc đẩy tiết kiệm và đầu tư, nhưng cũng có thể tạo ra tác động ngược Khi tiết kiệm tăng, nguồn vốn đầu tư cũng có khả năng gia tăng, và ngược lại Trong nền kinh tế, tiết kiệm thường liên quan thuận với lãi suất, trong khi đầu tư có mối quan hệ nghịch Lãi suất cao có thể loại bỏ các dự án kém hiệu quả, nhưng nếu quá cao, nó có thể dẫn đến rủi ro tài chính và nguy cơ phá sản Ngược lại, lãi suất thấp khuyến khích đầu tư nhưng cũng có thể gây ra tình trạng đầu tư không hiệu quả và thiếu vốn.
Ngân hàng Nhà nước cần linh hoạt điều hành lãi suất để phù hợp với nhu cầu thị trường và từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế Lãi suất nên được duy trì ở mức hợp lý, không quá cao để tránh đẩy nhà đầu tư vào rủi ro, nhưng cũng không quá thấp để không làm giảm tiết kiệm và dẫn đến đầu tư kém hiệu quả.
1.4.2 Chính sách thuế Nhà nước :
Chính sách thuế của Chính phủ ảnh hưởng đến tiết kiệm và đầu tư của mọi khu vực, từ Chính phủ, doanh nghiệp đến người dân Thuế cao có thể làm tăng giá cả hàng hóa, dẫn đến giảm tiết kiệm do chi phí tăng trong khi thu nhập không thay đổi Đồng thời, thuế thu nhập doanh nghiệp cao làm giảm khả năng tích lũy vốn và hiệu quả đầu tư, khiến nhà đầu tư nản lòng và giảm cả cung lẫn cầu đầu tư Ngược lại, thuế suất thấp khuyến khích tiết kiệm và đầu tư, thúc đẩy sự phát triển kinh tế Mặc dù thuế cao đảm bảo nguồn thu cho chi tiêu của Chính phủ, nhưng nếu quá cao sẽ cản trở tiết kiệm và đầu tư Do đó, chính sách thuế cần phải cân bằng giữa việc đảm bảo nguồn thu ngân sách và khuyến khích tiết kiệm, đầu tư để phát triển nền kinh tế.
1.4.3 Sự phát triển của các định chế tài chính:
Sự phát triển của các định chế tài chính với sản phẩm dịch vụ đa dạng và linh hoạt giúp người tiết kiệm dễ dàng tiếp cận, từ đó gia tăng tiết kiệm Điều này cũng tập trung nguồn lực tài chính lớn để tài trợ cho các dự án đầu tư, làm tăng cả nguồn cung và cầu về đầu tư Ngược lại, nếu các định chế tài chính kém phát triển, sẽ khó huy động vốn từ tiết kiệm, dẫn đến nguồn vốn giảm và nhà đầu tư khó tiếp cận vay Kết quả là, cả nguồn cung và cầu về đầu tư đều giảm, gây tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế Do đó, để khuyến khích tiết kiệm và tăng cường khả năng tiếp cận vốn, hệ thống định chế tài chính cần phát triển và vận hành một cách linh hoạt, hiệu quả.
1.4.4 Sự phát triển thị trường tài chính :
Sự phát triển của thị trường tài chính, đặc biệt là thị trường chứng khoán, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra tính thanh khoản cao cho các tài sản tài chính như chứng khoán và trái phiếu Điều này không chỉ thu hút tiết kiệm mà còn thúc đẩy hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư Ngoài ra, sự phát triển của thị trường chứng khoán còn góp phần tăng cường mức tiết kiệm quốc gia, giúp các nhà đầu tư dễ dàng tiếp cận nguồn vốn lớn thông qua việc phát hành chứng khoán và trái phiếu để phục vụ nhu cầu đầu tư của mình.
Thị trường tài chính kém phát triển gây khó khăn trong việc huy động nguồn tiết kiệm trong nền kinh tế, đồng thời hạn chế khả năng tiếp cận vốn của các nhà đầu tư cho nhu cầu đầu tư của họ.
1.4.5 Yếu tố môi trường đầu tư : Đầu tư nói chung thường được hiểu là sự hi sinh, đánh đổi những nguồn lực hiện tại (có thể là tiền, tài nguyên, sức lao động, trí tuệ …) nhằm thu về những kết quả lớn hơn trong tương lai Các nhà đầu tư đặt cược một số tiền lớn trong hiện tại, chấp nhận những chi phí cơ hội và hy vọng sẽ thu được số tiền lớn hơn trong tương lai Do đó, những kết quả của đầu tư ở tương lai bị tác động mạnh mẽ bởi môi trường, đặc biệt trong trong nền kinh tế toàn cầu cạnh tranh ngày càng gay gắt Môi trường đầu tư bao gồm nhiều yếu tố tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hiệu quả của các dự án đầu tư Đó là, cơ sở hạ tầng; tình hình chính trị – xã hội; môi trường pháp lý, thủ tục hành chính … Nếu những yếu tố này thuận lợi sẽ kích thích các nhà đầu tư, thu hút được nhiều nguồn lực tài chính tài trợ cho đầu tư phát triển Ngược lại nó là những rào cản làm giảm niềm tin, động lực đầu tư.
Sự ổn định chính trị – xã hội là yếu tố then chốt tạo ra môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh, giúp thu hút nhà đầu tư trong và ngoài nước Nhà nước thực thi hiệu quả các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng nhu cầu của người dân, từ đó tạo niềm tin cho các nhà đầu tư Một thể chế ổn định với hệ thống pháp luật hiệu lực, cùng các giải pháp nhân văn như xóa đói giảm nghèo và đảm bảo quyền sở hữu tài sản, sẽ khuyến khích các nhà đầu tư thực hiện các dự án lớn Bên cạnh đó, sự ổn định kinh tế vĩ mô, bao gồm chính sách tiền tệ và tài khóa hợp lý, giúp kiềm chế lạm phát và ổn định tỷ giá, là điều kiện tiên quyết để nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư chính xác, đồng thời giảm thiểu rủi ro và tạo niềm tin vào tương lai.
Cơ sở hạ tầng là tổng thể các công trình và phương tiện kỹ thuật trên một lãnh thổ, phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt, đảm bảo sự vận hành thông suốt của hàng hóa, thông tin và dịch vụ Cơ sở hạ tầng yếu kém tạo ra rào cản trong việc thu hút vốn đầu tư, đặc biệt là từ các dự án công nghệ cao nước ngoài Ngược lại, sự phát triển của hệ thống cơ sở hạ tầng sẽ tạo điều kiện thuận lợi để thu hút nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước.
1.5 Kinh nghiệm huy động vốn đầu tư của các Tỉnh, thành phố ở Việt Nam
1.5.1 Kinh nghiệm huy động vốn tại TP.Hồ Chí Minh
+ Thành lập Công ty Tài chínhNhà nước Thành phố Hồ Chí Minh
Vào ngày 02/02/2010, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định số 576/QĐ-UBND để thành lập Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước thành phố Hồ Chí Minh (HFIC), dựa trên sự đồng ý về nguyên tắc và ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ Công ty được hình thành từ việc tổ chức lại Quỹ Đầu tư Phát triển Đô thị thành phố, nhằm kế thừa và phát huy những thành quả đã đạt được trong quá trình phát triển.
Sự chuyển biến tích cực trong huy động vốn và đầu tư đã đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, không chỉ tại thành phố Hồ Chí Minh mà còn mở rộng ra khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam.
+ Phát hành trái phiếu địa phương để huy động vốn:
Việc phát hành trái phiếu đô thị TP.HCM không chỉ tạo ra kênh huy động vốn mới với thời hạn dài, chi phí hợp lý mà còn góp phần quan trọng vào đầu tư hạ tầng đô thị Điều này giúp khắc phục những hạn chế trong việc huy động tín dụng từ ngân hàng của chính quyền địa phương Hơn nữa, nó thực hiện chủ trương thí điểm phát hành trái phiếu theo cơ chế "tự vay, tự trả", mở ra triển vọng nâng cao tính tự chủ trong quản lý ngân sách đầu tư của các địa phương.
+ Xã hội hóa đầu tư các lĩnh vực dịch vụ công và dịch vụ hạ tầng kinh tế.
Xây dựng quy chế xã hội hóa đầu tư trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao và hạ tầng xã hội, đảm bảo ưu đãi công bằng cho tất cả thành phần kinh tế Mô hình bệnh viện cổ phần sẽ được phát triển với sự tham gia tích cực từ cộng đồng Đồng thời, tăng cường hình thức khoán hoặc thuê dịch vụ từ các thành phần kinh tế trong cung cấp hạ tầng đô thị như công viên, cấp thoát nước, bảo trì cầu đường và các dịch vụ công cộng khác, nhằm tạo cơ hội kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách.
Chính sách ưu đãi và hỗ trợ được triển khai nhằm thu hút các thành phần kinh tế đầu tư vào các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế, thể dục thể thao và các công trình văn hóa.
Thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai tốt chủ trương này Cụ thể như các dự án lớn đãđược triển khai như:
Một số bài học kinh nghiệm thiết thực cho quá trình huy động vốn cho đầu tư và phát triển
Huy động tối đa nguồn lực từ Nhà nước và nhân dân, đặc biệt là quỹ đất công, nhằm đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Sử dụng vốn từ doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và vốn dân cư để thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách nhanh chóng, hiệu quả và bền vững.
Tỉnh cần thực hiện đồng bộ các giải pháp để thu hút đầu tư, đặc biệt là từ nước ngoài, vào các lĩnh vực có tiềm năng phát triển như nông ngư nghiệp, vận tải, chế biến nông thủy sản, thương mại dịch vụ, du lịch và kinh tế biên giới Điều này bao gồm việc cải thiện chính sách cung ứng và đào tạo lao động, xây dựng nhà ở cho công nhân, đảm bảo cơ sở hạ tầng kỹ thuật, và tháo gỡ khó khăn cho nhà đầu tư Đồng thời, cần khuyến khích các doanh nghiệp hỗ trợ nông dân bằng hình thức ứng vốn sản xuất và triển khai các chính sách xúc tiến đầu tư phù hợp với quy định pháp luật và thẩm quyền của Tỉnh, đồng thời phù hợp với tinh thần đổi mới của Chính phủ và vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Để phát triển nhanh chóng tỷ trọng khu vực công nghiệp-xây dựng và thương mại-dịch vụ, cần thu hút nguồn lực tập trung vào việc xây dựng các khu, cụm công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu, trung tâm thương mại, siêu thị và khu du lịch Đồng thời, khuyến khích người dân xây dựng nhà ở mới theo tiêu chuẩn đô thị nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và sử dụng lao động phi nông nghiệp ngày càng nhiều.
Chính sách 7 sẵn sàng nhằm huy động vốn trong và ngoài nước bao gồm: sẵn sàng về thông tin, đất đai, lao động, viễn thông, giao thông, điện, nước, nhà ở cho công nhân, cùng với hỗ trợ về vốn và thuế.
Kiến nghị Trung ương cần xây dựng cơ chế chính sách cụ thể cho các tỉnh còn gặp khó khăn như Đồng Tháp nhằm thúc đẩy nhanh chóng quá trình đô thị hóa Các chính sách này nên bao gồm quy định về đất đai, thu hút vốn đầu tư, và bố trí vốn ODA Đồng thời, việc thành lập Quỹ đầu tư phát triển đô thị cũng là một giải pháp quan trọng để hỗ trợ phát triển kinh tế địa phương.
Để phát triển kinh tế bền vững, bên cạnh nguồn vốn trong nước, cần tận dụng nguồn vốn bên ngoài bằng cách cải thiện môi trường đầu tư và áp dụng chính sách thu hút phù hợp Việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn bên ngoài sẽ tạo ra đòn bẩy cho sự phát triển kinh tế và gia tăng vốn trong nước Đặc biệt, đầu tư tư nhân sẽ được khuyến khích và phát triển khi có môi trường kinh tế thuận lợi và sự hỗ trợ từ đầu tư Nhà nước trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng.
Để thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, cần tạo ra một môi trường đầu tư thông thoáng, ổn định và thân thiện Đồng thời, thực hiện các ưu đãi đầu tư hấp dẫn và giải quyết nhanh chóng các vướng mắc của nhà đầu tư.
Xây dựng quy chế xã hội hóa đầu tư trong các ngành y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao và dịch vụ kết cấu hạ tầng xã hội với chế độ ưu đãi bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế Mô hình bệnh viện cổ phần cần được phát triển với sự tham gia rộng rãi của xã hội Cần có chính sách ưu đãi và hỗ trợ để thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế vào lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế, thể dục thể thao và các công trình văn hóa.
Trong chương này, tác giả trình bày tổng quan về huy động vốn và vai trò của vốn trong phát triển kinh tế Bài viết khám phá các hình thức huy động vốn và mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế, đồng thời tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến dòng vốn đầu tư Tác giả cũng nghiên cứu kinh nghiệm huy động vốn từ một số tỉnh thành như Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Vĩnh Long và Hậu Giang, từ đó rút ra bài học thiết thực cho tỉnh Đồng Tháp trong quá trình huy động vốn đầu tư phát triển kinh tế.