Tài liệu Full về Tìm hiểu hiện tượng lạm dụng sức lao động người cao tuổi tại TP.HCM trình bày khoa học, nhiều bảng minh họa sinh động. Tham khảo, dẫn chứng từ nhiều nguồn. Tài liệu dành cho Khoa Ngữ Học (thuộc Văn Học Ngôn Ngữ Học)
Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Theo dự đoán của Liên Hợp Quốc, đến năm 2025, người cao tuổi sẽ chiếm 20% dân số toàn cầu, đánh dấu thế kỷ 21 là kỷ nguyên của họ Dù vậy, người cao tuổi vẫn được xem là tầng lớp yếu thế và dễ bị tổn thương, cần sự quan tâm và chăm sóc từ xã hội Do đó, nghiên cứu về người cao tuổi đang gia tăng cả về số lượng và chất lượng, chủ yếu tập trung vào các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe, mối quan hệ gia đình và sự tham gia của họ vào đời sống xã hội.
Luận văn của Ths Hà Thị Minh Khương nghiên cứu "vai trò của người già trong gia đình và cộng đồng hiện nay" thông qua việc phân tích dữ liệu từ xã Hạ Bằng, Thạch Thất, Hà Tây và thực địa tại địa phương Nghiên cứu cho thấy người già ở nông thôn không chỉ tham gia vào sản xuất mà còn duy trì vị thế trong gia đình và truyền tải các giá trị văn hóa, từ đó khuyến nghị rằng việc thực hiện chính sách phát huy vai trò người già sẽ thuận lợi hơn ở khu vực này Trong một nghiên cứu khác về "Hỗ trợ chính sách xã hội đối với người cao tuổi tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định", tác giả kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu để phác thảo bức tranh tổng thể về người cao tuổi tại thành phố Kết quả cho thấy họ đã xây dựng mạng lưới xã hội để giải quyết khó khăn, nhưng mức độ hỗ trợ phụ thuộc vào giới tính, độ tuổi, thu nhập và nghề nghiệp, cho thấy sự chênh lệch trong điều kiện sống và mức hỗ trợ nhận được.
Nghiên cứu về người cao tuổi tại Việt Nam đã được khai thác qua nhiều đề tài khác nhau, từ cuộc sống ở đồng bằng đến miền núi, như các bài viết của Đỗ Thịnh và Dương Chí Thiện Tuy nhiên, vấn đề lạm dụng sức lao động của người cao tuổi tại TP Hồ Chí Minh vẫn chưa được chú ý đúng mức, với phần lớn nghiên cứu chỉ tập trung vào lạm dụng trẻ em Nhóm chúng tôi đề xuất nghiên cứu “Tìm hiểu hiện tượng lạm dụng sức lao động của người cao tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay”, kết hợp giữa phương pháp định lượng và định tính, nhằm cung cấp cái nhìn khách quan và mới mẻ về vấn đề này, không chỉ từ góc độ những người bị ảnh hưởng mà còn từ quan điểm của giới trẻ.
Mục tiêu của đề tài nghiên cứu
Hiện tượng lạm dụng sức lao động của người cao tuổi tại thành phố Hồ Chí đang trở thành một vấn đề đáng lo ngại Nhiều yếu tố như kinh tế, xã hội và tâm lý đã tác động đến tình trạng này, khiến người cao tuổi phải làm việc trong điều kiện không đảm bảo Việc nhận thức và giải quyết vấn đề lạm dụng sức lao động của người cao tuổi là cần thiết để bảo vệ quyền lợi và nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhóm đối tượng này.
Tìm hiểu nhận thức của người dân thành phố Hồ Chí Minh và người cao tuổi bị lạm dụng sức lao động về hiện tượng trên.
Thực trạng lạm dụng sức lao động của người cao tuổi tại TP Hồ Chí Minh đang trở thành vấn đề đáng lo ngại Qua góc nhìn của chính những người cao tuổi bị ảnh hưởng, cũng như quan điểm của giới trẻ, chúng ta có thể thấy rõ những khó khăn và bất công mà họ phải đối mặt trong xã hội hiện nay Việc nhận thức và hành động để bảo vệ quyền lợi của người cao tuổi là điều cần thiết nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và tạo môi trường làm việc công bằng cho họ.
Phân tích những nguyên nhân và các yếu tố tác động đến việc lạm dụng sức lao động của người cao tuổi.
Dựa trên kết quả nghiên cứu, bài viết sẽ đưa ra một số khuyến nghị nhằm cải thiện tình trạng lạm dụng sức lao động của người cao tuổi.
Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
Đề tài này tập trung vào hiện tượng lạm dụng sức lao động của người cao tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời phân tích các yếu tố tác động đến tình trạng này.
Thành phố Hồ Chí Minh có một cộng đồng dân cư chủ yếu là người trẻ, họ nhạy cảm và quan tâm đến các vấn đề xã hội hơn so với các nhóm khác Để đảm bảo thông tin thu thập được chính xác và thực tiễn, nghiên cứu này tập trung vào người dân TP Hồ Chí Minh, bao gồm giới trẻ, người cao tuổi bị lạm dụng sức lao động, và những người lạm dụng sức lao động của người cao tuổi.
Bài viết tập trung vào việc phân tích thực trạng lạm dụng sức lao động của người cao tuổi tại TP Hồ Chí Minh, thông qua nhận thức của người dân về vấn đề này Nghiên cứu cũng sẽ làm rõ các nguyên nhân và yếu tố tác động đến hiện tượng lạm dụng sức lao động đối với nhóm đối tượng này.
Gần đây, người cao tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh đang phải đối mặt với tình trạng lạm dụng sức lao động dưới nhiều hình thức khác nhau Nghiên cứu này tập trung vào việc khảo sát vấn đề này trong toàn bộ khu vực thành phố, nhằm nâng cao nhận thức và tìm kiếm giải pháp hiệu quả.
Cơ sở lý thuyết
- Lí thuyết lựa chọn hợp lý
Lí thuyết lựa chọn duy lí cho rằng con người ra quyết định một cách hợp lý và có chủ đích trong bối cảnh nguồn lực khan hiếm, dựa trên việc đánh giá lợi ích kinh tế Alfred Marschal cũng nhấn mạnh rằng nhu cầu tâm lý bên trong thúc đẩy hành động, nhưng các yếu tố bên ngoài định hướng hành động của cá nhân Trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ áp dụng lí thuyết này để giải thích hành vi của những người cao tuổi bị lạm dụng sức lao động và các cá nhân lạm dụng họ, nhằm làm rõ động cơ thúc đẩy những hành động này trong xã hội hiện nay.
- Lý thuyết hiện đại hóa
Theo M Weber, quá trình hiện đại hóa đánh dấu sự suy tàn của các khuôn mẫu tư tưởng truyền thống và sự gia tăng của tính hợp lý Emile Durkheim cũng chia sẻ quan điểm tương tự khi nhấn mạnh rằng trong xã hội hiện đại với sự tương thuộc về kinh tế, mọi người không còn cần phải chia sẻ các giá trị văn hóa và đạo đức chung, dẫn đến sự đa dạng văn hóa và gia tăng các hành vi phi chuẩn mực Lý thuyết này giúp giải thích sự gia tăng lạm dụng sức lao động của người cao tuổi trong những năm gần đây và cho thấy tác động của các yếu tố xã hội đến quan niệm của cộng đồng về vấn đề này.
Mô hình lý thuyết cấu trúc-chức năng, được phát triển bởi các nhà xã hội học như É Durkheim và Spencer, nhấn mạnh tính công bằng, ổn định và khả năng thích nghi của cấu trúc xã hội Theo lý thuyết này, xã hội được xem như một hệ thống các bộ phận có tương quan, trong đó mỗi bộ phận có ảnh hưởng đến sự vận hành tổng thể của xã hội; bất kỳ sự thay đổi nào ở một thành phần cũng sẽ kéo theo sự thay đổi ở các thành phần khác Comte cũng chỉ ra rằng sự thiếu phối hợp giữa các bộ phận có thể dẫn đến rối loạn trong cấu trúc xã hội và gây ra bất thường xã hội Áp dụng lý thuyết này, chúng tôi muốn phân tích vai trò và chức năng của xã hội và gia đình trong vấn đề lạm dụng sức lao động đối với người cao tuổi trong thời gian gần đây.
- Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow
Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow, thuộc trường phái nhân văn hiện sinh, nhấn mạnh rằng con người cần đáp ứng những nhu cầu cơ bản để tồn tại và phát triển Mô hình tháp nhu cầu của ông bao gồm 5 cấp độ: sinh lý, an toàn, xã hội, tôn trọng và tự thể hiện Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung vào cấp độ sinh lý để phân tích cách nhu cầu này ảnh hưởng đến hành động của người cao tuổi khi họ chọn làm những công việc nặng nhọc thay vì những công việc khác.
Các khái niệm chính
Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác-Lênin, nhận thức hình thành từ hoạt động hàng ngày của con người, phản ánh sự vật và hiện tượng với các đặc điểm cụ thể và sắc thái đa dạng Nhận thức thông thường không chỉ phong phú và đa dạng mà còn gắn liền với những quan niệm sống thực tế, từ đó chi phối hoạt động của con người trong xã hội.
Theo Wikipedia, "người dân" là thuật ngữ chỉ toàn thể những người sinh sống trong một quốc gia, tương đương với khái niệm "nhân dân" Khái niệm này không chỉ giới hạn trong phạm vi dân cư mà còn mở rộng ra trong các lĩnh vực chính trị, pháp lý và tư tưởng.
Người dân TP Hồ Chí Minh Người cao tuổi bị lạm dụng sức lao động Quan điểm, nhận thức
Thực trạng của hiện tượng
Nguyên nhân của hiện tượng
Tác động của hiện tượng
Giải pháp cho hiện tượng
Thực trạng của hiện tượng
Nguyên nhân của hiện tượng
Tác động của hiện tượng
Giải pháp cho hiện tượng
Hiện tượng lạm dụng sức lao động của người cao tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh đang trở thành một vấn đề chính trị đáng chú ý Trong lĩnh vực chính trị pháp lý, công dân được định nghĩa là những người mang quốc tịch và được bảo vệ bởi nhà nước, thường không bao gồm những người trong bộ máy cai trị Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ tập trung vào đối tượng là giới trẻ từ 20 tuổi trở lên.
30 tuổi và những người cao tuổi bị lạm dụng sức lao động.
- Lạm dụng sức lao động
Lạm dụng sức lao động người cao tuổi là hành vi vi phạm pháp luật, sử dụng trái phép sức lao động của họ vì lợi ích cá nhân Theo nghị định số 05/2015/NĐ-CP, người cao tuổi được phép lao động nếu có sức khỏe tốt theo kết luận của cơ sở y tế, có nhu cầu và được hưởng quyền lợi theo quy định Mọi hành vi vi phạm các điều khoản này đều được coi là lạm dụng sức lao động của người cao tuổi.
- Người già, người cao tuổi
Theo luật người cao tuổi số 39/2009/QH12 của Quốc hội, người cao tuổi, hay còn gọi là người cao niên hoặc người già, là công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên.
Câu hỏi nghiên cứu
- Cuộc sống của những người già bị lạm dụng sức lao động ra sao?
Giới trẻ hiện nay đang ngày càng nhận thức rõ về thực trạng lạm dụng sức lao động của người cao tuổi, nhận diện nguyên nhân chủ yếu từ sự thiếu hụt chính sách bảo vệ và nhận thức xã hội Họ hiểu rằng tác động của vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống của người cao tuổi mà còn gây ra những hệ lụy cho xã hội Để giải quyết tình trạng này, giới trẻ đề xuất cần có các biện pháp cụ thể như nâng cao nhận thức cộng đồng, hoàn thiện chính sách pháp luật và tạo ra môi trường làm việc an toàn, công bằng cho người cao tuổi.
- Các yếu tố: xã hội, gia đình và pháp luật có tác động như thế nào tới những người gìa bị lạm dụng sức lao động?
- Bản thân những người trong cuộc có suy nghĩ gì về cuộc sống hiện tại của mình?
Giả thuyết nghiên cứu
Giới trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh ngày càng quan tâm đến vấn đề lạm dụng sức lao động của người cao tuổi, nhận thức rõ thực trạng, nguyên nhân và tác động của hiện tượng này Họ cũng tích cực tìm kiếm các giải pháp nhằm bảo vệ quyền lợi và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi trong xã hội.
Người cao tuổi thường phải chịu đựng tình trạng lạm dụng sức lao động, dẫn đến sự không hài lòng về cuộc sống của họ Họ chấp nhận việc này chủ yếu do các yếu tố kinh tế và hoàn cảnh sống khó khăn.
Tất cả những người cao tuổi bị lạm dụng đều có hoàn cảnh sống khó khăn và không nhận được sự quan tâm của gia đình.
Lạm dụng sức lao động của người cao tuổi gây ra những tác động tiêu cực đến xã hội, gia đình và chính bản thân họ Đặc biệt, đối tượng bị lạm dụng chủ yếu là những người cao tuổi di cư từ nông thôn đến TP Hồ Chí Minh.
Chính sách an sinh xã hội còn nhiều thiếu sót và sự quản lý nhà nước cũng như pháp luật chưa đủ chặt chẽ, dẫn đến sự gia tăng hiện tượng này Bên cạnh đó, áp lực từ dân cư đông đúc tại các thành phố đã khiến vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn.
Sự lỏng lẻo trong cố kết xã hội ở thành thị làm xuất hiện tình trạng trên.
Các thành viên trong gia đình người cao tuổi không quan tâm đến họ dẫn đến việc họ trở thành người bị lạm dụng sức lao động.
Phương pháp và kĩ thuật nghiên cứu
Đề tài này áp dụng phương pháp thu thập thông tin kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và định tính Cụ thể, thông tin được thu thập thông qua việc sử dụng bản hỏi, phỏng vấn sâu cá nhân và quan sát trong quá trình phỏng vấn.
Để xử lý thông tin định lượng, chúng tôi sử dụng phần mềm Excel 2010 và SPSS 16.0 Đối với thông tin thu thập từ phỏng vấn sâu, do chưa quen thuộc với phần mềm Nvivo và số lượng mẫu nghiên cứu không nhiều, chúng tôi sẽ thực hiện việc giải mã băng tay.
Để tối ưu hóa quá trình tìm kiếm và thu thập thông tin, chúng tôi sẽ áp dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất, đặc biệt là mẫu tình cờ và tiện lợi.
Đóng góp của cuộc nghiên cứu
- Đóng góp về mặt lý luận
Nhằm nâng cao hiệu quả học tập, nghiên cứu này sẽ cung cấp thông tin thực tế, góp phần vào nguồn tư liệu tham khảo cho các lĩnh vực liên quan trong tương lai.
- Đóng góp về mặt thực tiễn
Việc triển khai đề tài này sẽ nâng cao nhận thức của cộng đồng về tình trạng lạm dụng sức lao động của người già và các nguyên nhân chính gây ra vấn đề Điều này sẽ hỗ trợ các nhà làm chính sách trong việc đưa ra những biện pháp phù hợp nhằm khắc phục tình trạng này, góp phần ổn định xã hội và thúc đẩy sự phát triển bền vững.
Khó khăn khi thực hiện đề tài
Nghiên cứu về lạm dụng người cao tuổi gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm tài liệu liên quan do đề tài này còn hạn chế Thời gian thực hiện đề tài có hạn đã khiến việc thu thập thông tin định tính qua phỏng vấn sâu chưa được thực hiện nhiều Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cũng gặp khó khăn trong việc tiếp cận với những người lạm dụng sức lao động của người cao tuổi, đặc biệt là nam giới.
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ VÀ ĐỐI TƯỢNG
Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích: 2.095,239 km2, dân số: 7.990.100 người
Thành phố Hồ Chí Minh, được thành lập vào năm 2013, là thành phố đông dân nhất và là trung tâm kinh tế, giáo dục, văn hóa quan trọng của Việt Nam Thành phố này giáp ranh với các tỉnh như Bình Dương ở phía Bắc, Tây Ninh ở phía Tây Bắc, Đồng Nai ở phía Đông và Đông Bắc, Bà Rịa - Vũng Tàu ở phía Đông Nam, Long An và Tiền Giang ở phía Tây và Tây Nam, cùng với bờ biển dài khoảng 15 km về phía Nam giáp biển Đông.
Thành phố Hồ Chí Minh, cách Hà Nội 1.738 km về phía Đông Nam, là thành phố cảng lớn nhất Việt Nam với hạ tầng giao thông phát triển đa dạng, bao gồm đường bộ, đường thủy, đường sắt và hàng không Đây là một đầu mối giao thông kinh tế quan trọng, kết nối các địa phương trong nước và quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế.
Hồ Chí Minh, với điều kiện tự nhiên thuận lợi và nền văn hóa đa dạng, cùng với con người thân thiện, đã trở thành điểm đến hấp dẫn cho du khách toàn cầu Điều này cũng tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động buôn bán và kinh doanh phát triển mạnh mẽ.
Luồng di cư từ các tỉnh thành về Sài Gòn ngày càng gia tăng và đa dạng, không chỉ có người trẻ mà còn có nhiều người cao tuổi từ các vùng nông thôn hoặc nơi có điều kiện kinh tế khó khăn Những người cao tuổi này thường chỉ có thể làm những công việc lao động phổ thông và phải đối mặt với nhiều thiệt thòi so với người có hộ khẩu tại TP Hồ Chí Minh, dẫn đến việc họ trở thành những người yếu thế và dễ bị lạm dụng sức lao động.
Tổng quan về đối tượng khảo sát và qúa trình thực hiện
1.2.1 Đối với trường hợp nghiên cứu định tính (phỏng vấn người cao tuổi bị lạm dụng sức lao động)
Qua quá trình khảo sát thực tế và thu thập thông tin từ báo chí, chúng tôi nhận thấy rằng tình trạng lạm dụng sức lao động đối với người cao tuổi chủ yếu diễn ra tại các quận trung tâm Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã tiến hành khảo sát 3 trường hợp cụ thể tại quận.
Quận Bình Thạnh nổi bật với nền kinh tế phát triển, giao thông thuận lợi và chất lượng cuộc sống cao, thu hút đông đảo cư dân và hoạt động buôn bán sôi nổi Tuy nhiên, thực trạng đáng buồn là nhiều người cao tuổi bị lạm dụng sức lao động lại phải sống trong các khu nhà ổ chuột, ẩn mình trong những con hẻm nhỏ.
Chúng tôi dự định phỏng vấn 8 mẫu, nhưng gặp nhiều cản trở trong việc thu thập thông tin, nên chỉ phỏng vấn được 4 mẫu Tất cả đối tượng phỏng vấn đều từ 60 tuổi trở lên, gồm 2 nam và 2 nữ, đều là những người di cư từ nơi khác Họ chủ yếu làm việc lao động tay chân tại các khu vực đông người như chợ, quán ăn, và ngã tư đường.
Bà X, 92 tuổi, quê ở Mỏ Cày, Bến Tre, hiện bà đang bán hành và tỏi khô ở chợ thuộc quận Bình Thạnh.
Ông Y, 73 tuổi, quê ở Tuy An, Phú Yên, hiện ông đang sinh sống và bán vé số ở khu vực quận 1.
Bà Z, 75 tuổi, quê ờ miền Bắc, hiện bà đang sống và bán vé số, xin tiền ở khu vực quận 1.
Ông T, 61 tuổi, quê ở Bình Định, hiện ông đang bán vé số và sinh sống tại khu vực quận 1.
Trước khi tiến hành phỏng vấn sâu về vấn đề lạm dụng sức lao động ở người cao tuổi, chúng tôi đã thực hiện quan sát và theo dõi các hoạt động của họ Thông qua việc tìm hiểu thông tin từ báo chí, chúng tôi đã xác định được nơi sinh sống và làm việc của một số nhóm đối tượng Dựa trên thông tin đã có và quan sát ban đầu, chúng tôi đã tiếp xúc, làm quen và bắt đầu thu thập thông tin trực tiếp từ họ.
1.2.2 Đặc điểm về đối tượng nghiên cứu định lượng
Trong 124 người được khảo sát có 56 nam và 68 nữ tham gia vào cuộc nghiên cứu, chiếm tỉ lệ phần trăm tương ứng là 45,2% và 54,8%.
Bảng 2 Trình độ học vấn.
Trình độ học vấn Số lượng %
Trong số 124 người tham gia nghiên cứu, 98 người có trình độ học vấn cao đẳng-đại học, chiếm 79% Số người có trình độ sau đại học là 9 (7,3%), 8 người có trình độ trung cấp nghề (6,5%), 6 người có trình độ THPT (4,8%), 2 người có trình độ THCS (1,6%) và 1 người có trình độ tiểu học (0,8%).
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn nhất Việt Nam, thu hút nhiều người từ các tỉnh khác đến sinh sống và làm việc Trong nghiên cứu của chúng tôi, 63,7% người tham gia đến từ các tỉnh khác, trong khi 36,3% là cư dân của thành phố.
Trong một khảo sát với 124 người tham gia, 25% xác định là người theo đạo Phật, 12,9% theo đạo Thiên Chúa, 0,8% theo đạo Hồi, 1,6% theo đạo Cao đài, 1,6% theo các tôn giáo khác, trong khi 58,1% không theo tôn giáo nào.
THỰC TRẠNG
Khái quát chung
Trong những năm gần đây, truyền thông đã chỉ ra tình trạng lạm dụng sức lao động, đặc biệt là việc bóc lột người cao tuổi thông qua các công việc như bán vé số, ăn xin và làm phụ hồ Điều này đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng trong xã hội Việt Nam.
Việt Nam vẫn duy trì truyền thống tôn trọng và yêu thương người cao tuổi, thể hiện qua việc người dân giúp đỡ họ khi thấy lao động ngoài đường phố, chủ yếu bằng cách cho tiền và mua hàng Tuy nhiên, hiện tượng lạm dụng người cao tuổi trong kinh doanh đã gia tăng, dẫn đến việc nhiều người tố cáo với cơ quan chức năng, khiến một số trường hợp bị xử lý Mặc dù vậy, tình trạng này vẫn tiếp diễn với hình thức tinh vi hơn, khi những người lạm dụng thường tìm cách phủ nhận hoặc ngăn chặn sự tiếp cận từ bên ngoài Đặc biệt, nhiều người cao tuổi phỏng vấn cho biết họ chủ yếu làm công việc bán vé số, vì công việc này mang lại sự thuận tiện và linh hoạt hơn so với các nghề khác, cho phép họ dễ dàng điều chỉnh theo thời tiết và tình hình tiêu thụ.
Khi mọi người tan làm và trở về nhà, các cụ bán vé số lại bắt đầu công việc của mình vào buổi tối, thường từ 5 hoặc 6 giờ chiều cho đến tận 3 giờ sáng hôm sau Cụ Y cho biết, nếu bán hết sớm, cụ sẽ về lúc 12 giờ đêm, còn nếu vẫn còn vé, cụ có thể ở lại đến 3 giờ sáng Cụ Z giải thích rằng, việc bán vào ban đêm không chỉ giúp tránh nắng mà còn thu hút nhiều khách hàng hơn, vì lúc này có nhiều người đi chơi Các cụ cũng tranh thủ thời gian nghỉ ngơi, ăn uống và chuẩn bị cho ngày hôm sau.
Nhiều người cao tuổi phải làm những công việc nặng nhọc hơn so với tuổi tác của họ, thường làm việc nhiều hơn cả những người trẻ nhưng thu nhập lại rất thấp Trong những ngày buôn bán thuận lợi, họ chỉ đủ tiền để trang trải cho những bữa ăn đơn giản, và có thể dành dụm một chút cho việc phòng bệnh hoặc về quê Tuy nhiên, nếu gặp thời tiết xấu hoặc không bán được hàng, họ có thể không có lợi nhuận và thậm chí phải nợ tiền hàng Trường hợp của cụ X, bán hành khô ở chợ Bình Thạnh, cho thấy thực trạng này rõ nét; bữa ăn của cụ chỉ có một chén cơm và một đĩa măng khô xào Cụ chia sẻ rằng thu nhập cao nhất cũng chỉ khoảng 100.000 đồng một ngày, thường chỉ nhận được vài chục ngàn, và có những ngày ế ẩm chỉ kiếm được từ 10.000 đến 20.000 đồng, thậm chí có tháng phải chờ người khác cho tiền mới có thể nhập hàng tiếp.
Nhiều người cao tuổi tại Sài Gòn phải sống trong hoàn cảnh khó khăn, với nguồn thu nhập ít ỏi từ sức lao động của bản thân, nhưng lại bị người trẻ trong gia đình lấy đi phần lớn tiền kiếm được Bà Z, một người bán vé số, cho biết rằng dù có ngày bán được nhiều, bà vẫn không giữ được đồng nào do phải nộp lại cho người đàn ông trong nhà như một khoản phí ăn ở Điều này khiến cuộc sống của các cụ không hề cải thiện, khi họ vẫn phải sống trong những ngôi nhà chật chội, thiếu thốn, với nhiều người cùng chia sẻ không gian hẹp Ông Y chia sẻ rằng việc có chỗ ngủ là điều tốt, nhưng nhà quá nhỏ khiến họ không thể đóng cửa, và sống trong điều kiện thiếu thốn về vật chất Giữa lòng thành phố Hồ Chí Minh, nhiều cụ phải từ bỏ cuộc sống thoải mái ở nông thôn để tìm chỗ ở chật chội trong đô thị, nơi mà sự văn minh và sạch sẽ chỉ tồn tại ở những khu vực không dành cho họ, trong khi xung quanh nhà của họ là những con mương nước thải và rác thải.
Nhiều người cao tuổi sống trong điều kiện tốt và được gia đình chăm sóc nhưng vẫn yếu dần, trong khi những cụ phải lao động vất vả và sống trong môi trường ô nhiễm thì sức khỏe càng sa sút Theo bà Z, “tôi thường xuyên bị đau nhức, không ngủ được và không có ai chăm sóc” Khi được hỏi về việc khám sức khỏe, hầu hết đều trả lời “không”, vì họ cho rằng đi bệnh viện tốn thời gian và tiền bạc Ông T cho biết: “tiền đâu mà đi bệnh viện, chỉ có tiền mua thuốc để sống qua ngày thôi” Sức khỏe kém khiến người cao tuổi cảm thấy buồn và tủi thân, đặc biệt là những người phải bán sức lao động để nuôi sống bản thân Bà Z chia sẻ: “giờ già rồi, không biết làm gì, cố gắng bán để kiếm tiền nuôi cháu, có chỗ ăn chỗ ở là tốt lắm rồi, chỉ mong có nhiều người ủng hộ mua vé số cho bà”.
Sống ở những khu vực có môi trường kém chất lượng đang khiến sức khỏe của họ suy giảm nghiêm trọng Điều này không chỉ ảnh hưởng đến thể chất mà còn làm giảm sút tinh thần, khiến họ mất đi niềm vui tự an ủi bản thân.
Người cao tuổi thường nhạy cảm và dễ bị tổn thương, khi sức khỏe suy giảm và phải đối mặt với việc nghỉ hưu, họ có thể cảm thấy mất giá trị trong cuộc sống Để tìm kiếm ý nghĩa và niềm vui, nhiều người cao tuổi chọn công việc hoặc sở thích như trồng cây, nuôi cá, đọc báo, hoặc giao lưu tại các câu lạc bộ Tuy nhiên, những hoạt động này thường chỉ dành cho những người có điều kiện kinh tế ổn định và có gia đình chăm sóc Trong khi đó, nhiều người cao tuổi mà chúng tôi phỏng vấn lại sống trong hoàn cảnh khó khăn, không có gia đình bên cạnh Họ chấp nhận xa quê hương để làm việc và tự nuôi sống bản thân, như ông T đã chia sẻ về hoàn cảnh khốn khó của mình và lý do phải rời xa gia đình để tìm kiếm cuộc sống tốt hơn.
Nghiên cứu về tình trạng lạm dụng sức lao động của người cao tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy nhiều cụ già không nhận được sự chăm sóc từ gia đình, phải lang thang mưu sinh và làm thuê cho những kẻ chăn dắt Mặc dù họ hy vọng có cuộc sống tốt hơn, thực tế chỉ là sự lợi dụng từ những kẻ này Cuộc sống của họ gắn liền với những ngôi nhà tạm bợ, thiếu thốn vật chất và tinh thần, không có ai quan tâm Khi ốm đau, họ không dám kêu cứu và không đủ tiền để mua thuốc hay khám bác sĩ Điều này cho thấy không phải tất cả người cao tuổi đều được chăm sóc, mà vẫn còn nhiều người bị lạm dụng trong xã hội.
Cuộc sống còn nhiều người đói nghèo, nhưng họ có gia đình và tuổi trẻ để cải thiện tình hình Ngược lại, những cụ ông, cụ bà mà chúng tôi gặp phải đối mặt với cuộc sống khó khăn, sức khỏe yếu kém và không có gia đình bên cạnh Tuy nhiên, trong suy nghĩ của họ vẫn tồn tại nghị lực bền bỉ và tinh thần vững chắc, tràn đầy hy vọng cho tương lai, điều này khiến chúng tôi vô cùng khâm phục Trước khi rời đi sau buổi phỏng vấn, bà X - quê ở
Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre đã để lại cho tôi hai câu thơ mà bà thường ngâm khi bán hàng Những câu thơ ấy không chỉ làm tôi cảm thấy nhẹ lòng hơn mà còn giúp tôi có cái nhìn khác về bà.
“Mại Zô, mại zô, bán rẻ hơn ở không”
Tìm hiểu nhận biết của người dân về hiện tượng
Bảng 4 Nhận biết của người dân về hiện tượng
Có/ chưa biết đến hiện tượng Số lượng %
Trong những năm gần đây, hiện tượng lạm dụng sức lao động của người cao tuổi đã thu hút sự chú ý Một cuộc khảo sát với 124 người tham gia cho thấy 91 người (chiếm 73,4%) đã biết đến hiện tượng này, trong khi 33 người (26,6%) vẫn chưa biết Kết quả này cho thấy mức độ nhận thức của cộng đồng về vấn đề lạm dụng sức lao động của người cao tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh.
Mối tương quan giữa sự nhận biết và mức độ phổ biến của hiện tượng
Kết quả khảo sát cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa hai nhóm đối tượng Những người nhận thức về hiện tượng lạm dụng sức lao động của người cao tuổi đánh giá mức độ phổ biến ở mức trung bình là 1,6, trong khi những người không biết đến hiện tượng này cho rằng mức độ phổ biến cao hơn, đạt điểm trung bình là 2,00.
Như vậy những người trả lời biết đến hiện tượng này thì cho rằng mức độ phổ biến của nó nằm ở mức rất phổ biến
- H0 là không có sự khác biệt giữa những người có biết và chưa biết đến hiện tượng này khi nghĩ về sự phổ biến của nó hiện nay.
- H1 là có sự khác biệt giữa những người cho rằng có biết và chưa biết đến hiện tượng khi nghĩ về sự phổ biến của nó hiện nay.
Ta có sig=0,001< 0,05: phương sai giữa hai nhóm khác nhau nên dùng kiểm định t ở dòng 2.
Kết quả phân tích cho thấy ta có sig(t)=0,001