1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đáp án ôn tập dược lý

122 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đáp Án Ôn Tập Dược Lý
Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 5,71 MB

Cấu trúc

  • I. DƯỢC LÝ DẠI CƯƠNG (4)
    • 1. Định nghĩa: thuốc, receptor, chất chủ vận, chất đối kháng, các loại đối kháng, cho ví dụ (4)
    • 2. Cơ chế tác dụng chung của thuốc (qua receptor và không thông qua receptor), ví dụ minh họa (9)
    • 3. Tác dụng chính, tác dụng phụ, tác dụng tại chỗ, tác dụng toàn thân; cho ví dụ minh họa . 10 4. Tác dụng hiệp đồng và tác dụng đối kháng, cho ví dụ minh họa (10)
    • 5. Các yếu tố về phía thuốc ảnh hưởng đến tác dụng của thuốc (phân tích chi tiết và cho ví dụ) (12)
    • 6. Các yếu tố về phía thuốc ảnh hưởng đến tác dụng của thuốc (phân tích chi tiết và cho ví dụ) (15)
    • 7. Quen thuốc, các loại quen thuốc, VD minh họa ; nghiện thuốc, đặc điểm của nghiện thuốc, (16)
    • 8. Dƣợc động học, dƣợc lực học, ADR ?, cho VD minh họa (18)
    • 9. Tương tác dược lực học và tương tác dược động học (định nghĩa và hậu quả), cho ví dụ (21)
  • II. THUỐC AN THẦN GAY NGỦ VA RƢỢU (26)
    • 1. Phân biệt thuốc an thần và thuốc ngủ (26)
    • 2. Dẫn xuất benzodiazepin: cơ chế tác dụng, tác dụng, chỉ định, chống chỉ định, và nguyên tắc sử dụng (26)
    • 3. Phenobarbital: tác dụng, chỉ định, chống chỉ định và ADR (29)
    • 4. Ethanol: dƣợc động học, tác dụng, chỉ định và lý giải tại sao ethanol lại đƣợc chỉ định điều trị ngộ độc methanol (31)
  • III. THUỐC GIẢM DAU TRUNG ƢƠNG (33)
    • 1. Morphin: tác dụng, TDKMM, chỉ định, chống chỉ định (33)
  • IV. THUỐC ĐT RỐI LOẠN TAM THẦN, CHỐNG DỘNG KINH (35)
    • 1. Thuốc an thần kinh điển hình: đặc điểm tác dụng, kể tên đại diện (35)
    • 2. Thuốc an thần kinh không điển hình: đặc điểm tác dụng, kể tên đại diện (36)
    • 3. Clorpromazin: chỉ định, chống chỉ định (37)
    • 4. Phenytoin: tác dụng, chỉ định, chống chỉ định và ADR (38)
    • 5. Carbamazepin: tác dụng, chỉ định, chống chỉ định và ADR (39)
    • 6. Acid valproic: tác dụng, chỉ định, chống chỉ định và ADR (40)
    • 7. Định nghĩa thuốc chống động kinh (42)
  • V. THẦN KINH THỰC VẬT (43)
    • 1. Hệ giao cảm: các chất trung gian hóa học, receptor, các tác dụng sinh lý (43)
    • 2. Hệ phó giao cảm: các chất trung gian hóa học, receptor, các tác dụng sinh lý (45)
    • 3. Adrenalin: tác dụng, chỉ định và chống chỉ định (46)
    • 4. Noradrenalin: tác dụng, chỉ định và chống chỉ định (47)
    • 5. Atropin: tác dụng, chỉ định, tác dụng không mong muốn, chống chỉ định (48)
  • VI. THUỐC TAC DỤNG TREN HỆ TIM MẠCH (50)
    • 1. Thuốc ức chế angiotensin (ACEI): cơ chế tác dụng, tác dụng và chỉ định (50)
    • 2. Thuốc chẹn kênh calci: cơ chế tác dụng, tác dụng và chỉ định (51)
    • 3. Nhóm digitalis: cơ chế tác dụng, tác dụng, chỉ định, chống chỉ định (55)
  • VII. THUỐC DIỀU TRỊ LAO (56)
    • 1. Vị trí tác dụng và mức độ tác dụng của các thuốc chống lao nhóm (56)
    • 2. Nguyên tắc dùng thuốc chống lao (60)
  • VIII. THUỐC DIỆT AMIP (61)
    • 1. Metronidazol: tác dụng, tác dụng không mong muốn và áp dụng điều trị (chỉ định và chống chỉ định) (61)
  • IX. NSAIDs (62)
    • 1. Cơ chế tác dụng của thuốc nhóm NSAID (62)
    • 2. Tác dụng phụ của thuốc nhóm NSAID? (63)
  • X. GLUCOCORTICOID (64)
    • 1. Tác dụng chống viêm, chống dị ứng, ức chế miễn dịch: cơ chế tác dụng (sơ đồ) và tác dụng (64)
    • 2. Tác dụng không mong muốn (67)
    • 4. Các tác dụng đƣợc ứng dụng trong điều trị, chỉ đinh, chống chỉ định (71)
  • XI. THUỐC CHỐNG DONG MAU (75)
    • 1. Dẫn xuất của coumarin và indandion: Là thuốc tổng hợp, độc bảng B (75)
    • 2. Heparin: cơ chế tác dụng, chỉ định và chống chỉ định (76)
  • XII. THUỐC DIỀU TRỊ RỐI LOẠN LIPOPROTEIN MAU (78)
    • 1. Tác dụng chính nhóm thuốc Statin (78)
  • XIII. THUỐC DIỀU TRỊ DAI THAO DƯỜNG (83)
    • 1. Phân loại theo cơ chế tác dụng và kể tên các thuốc điều trị đái tháo đường (83)
    • 3. Nhóm sulfonylure: cơ chế tác dụng, tác dụng, TDKMM và áp dụng điều trị (CĐ, CCĐ) . 90 4. Nhóm thuốc ức chế DPP4: cơ chế tác dụng, tác dụng, TDKMM, chỉ định và chống chỉ định (90)
    • 5/ Nhóm thuốc ức chế SGLT2: cơ chế tác dụng, tác dụng, TDKMM, chỉ định và chống chỉ định (93)
  • XIV. KHANG SINH (96)
    • 1. Cloramphenicol: cơ chế tác dụng, phổ tác dụng, chỉ định, TDKMM và chống chỉ định (96)
    • 2. Tetracyclin: cơ chế tác dụng, phổ tác dụng, chỉ định, TDKMM và chống chỉ định (100)
    • 3/ Nhóm penicillin: cơ chế tác dụng, phân loại (4 loại), kể tên đại diện và phổ tác dụng mỗi loại (102)
    • 4. Cephalosporin: cơ chế tác dụng, phân loại (4 thế hệ), kể tên đại diện và phổ tác dụng mỗi thế hệ (104)
    • 5. Quinolon thế hệ I và II: so sánh phổ tác dụng, chỉ định, TDKMM, kể tên (106)
    • 6. Nhóm aminoglycosid: cơ chế tác dụng, phổ tác dụng, TDKMM, áp dụng điều trị (CĐ, CCĐ) (108)
    • 7. Nhóm macrolid: cơ chế tác dụng, phổ tác dụng và chỉ định (110)
  • XV. THUỐC DIỀU TRỊ LOET DẠ DAY TA TRANG (112)
    • 1. Thuốc ức chế bơm H+/K+ ATPase: cơ chế tác dụng, tác dụng, tác dụng không mong muốn, CĐ, CCĐ (112)
    • 2. Thuốc kháng histamin H2: cơ chế tác dụng, tác dụng, tác dụng không mong muốn, CĐ, CCĐ (113)
  • XVI. THUỐC KHANG HISTAMIN H1 (116)
    • 1. Thuốc kháng histamin H1 thế hệ I và thế hệ II: so sánh về dƣợc động học, tác dụng, chỉ định và tác dụng không mong muốn (116)

Nội dung

Câu hỏi và đáp án ôn tập môn dược lýReceptor là một thành phần đại phân tử tồn tại với một lượng giới hạn trong một tế bào đích, có thể nhận biết một cách đặc hiệu chỉ một phân tử thông tin tự nhiên(hormon, chất dẫn truyền thần kinh), hoặc một tác nhân ngoại lai (chất hóa học, thuốc) để gây ra một tác dụng sinh học đặc hiệu. là kết quả của tác dụng tương hỗ đó.Thuốc gắn vào receptor thì thường gây ra tác dụng sinh lý, nhưng trong một số trường hợp khi thuốc gắn vào tế bào mà không gây ra tác dụng gì, nơi gắn thuốc gọi là nơi tiếp nhận, receptor gọi là receptor câm. Ví dụ trường hợp này là thuốc mê gắn vào tế bào mỡ, digitalis gắn vào gan...

DƯỢC LÝ DẠI CƯƠNG

Định nghĩa: thuốc, receptor, chất chủ vận, chất đối kháng, các loại đối kháng, cho ví dụ

Thuốc là chế phẩm chứa dược chất hoặc dược liệu, được sử dụng cho con người với mục đích phòng ngừa, chẩn đoán, chữa trị, giảm nhẹ bệnh và điều chỉnh chức năng sinh lý Các loại thuốc bao gồm thuốc hóa dược, thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền, vắc xin và sinh phẩm.

Receptor là một đại phân tử có mặt hạn chế trong tế bào đích, có khả năng nhận diện đặc hiệu một phân tử "thông tin" tự nhiên như hormon hoặc chất dẫn truyền thần kinh, cũng như các tác nhân ngoại lai như hóa chất và thuốc Sự tương tác này dẫn đến các tác dụng sinh học đặc hiệu.

Khi thuốc gắn vào receptor, thường sẽ gây ra tác dụng sinh lý; tuy nhiên, có những trường hợp thuốc kết nối với tế bào mà không tạo ra tác dụng nào, được gọi là nơi tiếp nhận, và receptor trong trường hợp này được xem là receptor "câm" Ví dụ điển hình là thuốc mê gắn vào tế bào mỡ và digitalis gắn vào gan.

Trong điều trị, hiệu quả của thuốc thể hiện trên một cơ thể nguyên vẹn, nhưng vị trí tác dụng của thuốc thường chỉ tập trung vào một số thành phần cụ thể của tế bào Những thành phần này đóng vai trò quan trọng trong quá trình tác động của thuốc.

Receptor là những phân tử có khả năng liên kết chọn lọc với thuốc hoặc các chất nội sinh như hormon và chất trung gian hóa học, tạo nên đáp ứng sinh học Các chất này được gọi chung là ligand Trong receptor, chỉ một phần nhất định có khả năng liên kết, được gọi là vị trí hoạt động, tương tự như trung tâm hoạt động của enzym Receptor có thể được phân chia thành các phân nhóm khác nhau, như isoenzym, với cùng chất gắn nhưng ái lực và giá trị hoạt tính nội tại khác nhau Ví dụ, receptor adrenergic được chia thành a và β adrenoceptor, có khả năng tương tác với adrenalin và noradrenalin nhưng với mức độ tác dụng khác nhau Sự phân chia này cho phép thuốc tác dụng chọn lọc hơn trên các phân nhóm receptor, từ đó giảm thiểu tác dụng phụ.

Gắn vào receptor và hoạt hóa đƣợc receptor - thông qua một phân tử truyền tín hiệu(effector) - ở đây có thể là kênh ion, Gprotein, Enzym

Một thuốc muốn đóng vai trò chủ vận yêu cầu cần:

- (1)Gắn đặc hiệu vào đƣợc receptor : phụ thuộc vào ái lực và lực liên kết nội phân tử, kích thước, cấu hình không gian của thuốc

- (2) Hoạt hóa đƣợc receptor đó thông qua chuỗi phản ứng tế bào cùng với chất truyền tin thứ 2 nhƣ AC, PLC

Hình 1 Chất chủ vận và chất đối kháng

Ví dụ về chất chủ vận: adrenalin, salbutamol, sameterol, phenobarbital,

Các thuốc có khả năng gắn kết với receptor và tạo ra phản ứng tương tự như chất nội sinh được gọi là chất chủ vận của receptor Chẳng hạn, carbamylcholin và nicotin là những chất chủ vận của N-receptor tại bản vận động cơ xương.

Thuốc có thể là chất chủ vận toàn phần (chủ vận hoàn toàn) khi hoạt tính nội tại tối đa của nó

Khi EA/Em < 1, chất chủ vận được coi là chủ vận một phần, có nghĩa là nó vừa thể hiện tác dụng của thuốc (EA) vừa có tác dụng tối đa (Em) Chất chủ vận một phần mang đặc điểm của cả chất chủ vận và chất đối kháng.

Hình 2 Chất chủ vận adrenalin, noradrenalin tác động trên các receptor anpha 1, anpha 2, beta

Như hình 1 minh họa cho thấy chất đối kháng là chất:

- (1)Gắn đặc hiệu vào được receptor : phụ thuộc vào ái lực và lực liên kết nội phân tử, kích thước, cấu hình không gian của thuốc

- (2) Không hoạt hóa được receptor

Ví dụ: atropin, kháng histamin H2, kháng histamin H1, kháng dopaminergic

Thuốc kháng histamin H1 hoạt động bằng cách gắn lên receptor H1 trên mạch máu, từ đó gây giãn mạch, phù nề và tăng tính thấm, dẫn đến tình trạng dị ứng Việc sử dụng kháng histamin giúp ngăn chặn hiện tượng giãn mạch, giảm thiểu các triệu chứng dị ứng hiệu quả.

Các chất đối kháng là những hợp chất có khả năng gắn kết với receptor nhưng không có hoạt tính nội tại, từ đó làm giảm hoặc ngăn chặn tác dụng của chất chủ vận Chẳng hạn, propranolol là một loại thuốc chẹn giao cảm, có tác dụng đối kháng với catecholamin tại thụ thể p-adrenergic.

Tùy thuộc vào tính chất của sự đối kháng, có thể phân loại thành các loại chính như đối kháng cạnh tranh, đối kháng không cạnh tranh, đối kháng chức năng và đối kháng hóa học.

• Đối kháng canh tranh (competiƣe antagonism)

Đối kháng cạnh tranh là loại đối kháng xảy ra khi chất đối kháng gắn vào cùng vị trí trên receptor mà không kích hoạt đáp ứng Ví dụ, các chất phong tỏa a hoặc p adrenoceptor hoạt động như những đối kháng cạnh tranh đối với các chất kích thích tương ứng Tương tự, các chất kháng histamin H1 hoặc H2 cũng là những đối kháng cạnh tranh với các chất kích thích receptor H1 hoặc H2.

Trong đối kháng cạnh tranh có loại cạnh tranh cân bằng và cạnh tranh không cân bằng

Cạnh tranh cân bằng, hay còn gọi là cạnh tranh thuận nghịch, xảy ra khi liên kết giữa chất đối kháng và receptor không bền vững Khi nồng độ chất đối kháng tăng, mức độ đối kháng cũng sẽ gia tăng Ngược lại, khi nồng độ chất chủ vận tăng, tính chất đối kháng sẽ giảm và có thể bị loại trừ Một ví dụ điển hình là sự đối kháng giữa naloxon và morphin.

– Canh tranh không cân bằng

Cạnh tranh không cân bằng xảy ra khi chất đối kháng tạo liên kết bền vững với receptor, thường là liên kết đồng hoá trị, như phenoxybenzamin với a-adrenoceptor, dẫn đến việc phong toả kéo dài từ 14 đến 48 giờ và gây hạ huyết áp bằng cách cạnh tranh với noradrenalin Trong loại cạnh tranh này, khi nồng độ chất đối kháng tăng lên, tác dụng tối đa của chất chủ vận sẽ giảm và không thể đạt giá trị tối đa như khi không có chất đối kháng Ngược lại, trong cạnh tranh cân bằng, nếu nồng độ chất chủ vận được tăng lên đến mức cần thiết, nó vẫn có thể đạt được giá trị tác dụng tối đa giống như khi không có chất đối kháng.

Đối kháng không cạnh tranh là hiện tượng khi chất đối kháng làm giảm tác dụng của chất chủ vận bằng cách tương tác ngoài vị trí gắn của chất chủ vận với receptor Sự giảm tác dụng này có thể do chất đối kháng thay đổi hình dạng của receptor hoặc ảnh hưởng đến các bước sau khi chất chủ vận tương tác với receptor Ở nồng độ cao, chất đối kháng không cạnh tranh có thể làm mất tác dụng của chất chủ vận ngay cả khi chất chủ vận đã được kết nối.

Chất chủ vận có thể "chiếm giữ" receptor, nhưng khi nồng độ cao, chúng không thể loại trừ tác dụng của chất đối kháng không cạnh tranh Một ví dụ điển hình là papaverin, một chất đối kháng không cạnh tranh với acetylcholin, có khả năng làm giảm co thắt cơ trơn.

• Đối kháng chức năng (funtional antagonism)

Cơ chế tác dụng chung của thuốc (qua receptor và không thông qua receptor), ví dụ minh họa

lên nhiều quá trình chuyển hoá của tế bào

Tác dụng chính, tác dụng phụ, tác dụng tại chỗ, tác dụng toàn thân; cho ví dụ minh họa 10 4 Tác dụng hiệp đồng và tác dụng đối kháng, cho ví dụ minh họa

Khi vào cơ thể, thuốc có thể có 4 cách tác dụng sau:

Tác dụng tại chỗ và toàn thân

Tác dụng tại chỗ của thuốc xảy ra ngay tại vùng tiếp xúc mà chưa được hấp thu vào máu, bao gồm các loại thuốc sát khuẩn ngoài da, thuốc làm săn niêm mạc như tani n, và thuốc bọc niêm mạc đường tiêu hóa như kaolin và hydroxyd nhôm.

Tác dụng toàn thân xảy ra khi thuốc được hấp thu vào máu qua các đường hô hấp, tiêu hóa hoặc tiêm, như thuốc mê, thuốc trợ tim và thuốc lợi niệu Điều này không có nghĩa là thuốc tác động lên toàn bộ cơ thể, mà chỉ đơn thuần là thuốc đã vào hệ tuần hoàn.

D - tubocurarin có tác dụng tại chỗ hoặc toàn thân, gây hiệu quả trực tiếp lên bản vận động để làm liệt cơ vân, và gián tiếp làm ngừng thở do liệt cơ hoành và cơ liên sườn, không phải do ức chế trung tâm hô hấp.

Tác dụng gián tiếp có thể diễn ra qua phản xạ, ví dụ như khi ngất và ngửi ammoniac Sự kích thích các dây thần kinh trong niêm mạc đường hô hấp sẽ kích hoạt phản xạ, từ đó kích thích trung tâm hô hấp và vận mạch ở hành tủy, giúp bệnh nhân hồi tỉnh.

Tác dụng chính và tác dụng phụ

Tác dụng chính là tác dụng để điều trị

Ngoài việc điều trị, thuốc còn có thể gây ra tác dụng không mong muốn, hay còn gọi là tác dụng ngoại ý (ADR) Những tác dụng này có thể chỉ gây khó chịu cho người dùng như chóng mặt, buồn nôn, và mất ngủ, được xem là tác dụng phụ Tuy nhiên, trong một số trường hợp, chúng có thể dẫn đến phản ứng độc hại, ngay cả với liều điều trị, như xuất huyết tiêu hóa, giảm bạch cầu, và tụt huyết áp thế đứng.

Aspirin là một loại thuốc có tác dụng hạ sốt, giảm đau và chống viêm, nhưng có thể gây ra tác dụng phụ nghiêm trọng như chảy máu tiêu hóa Tương tự, nifedipin, một thuốc chẹn kênh calci được sử dụng để điều trị tăng huyết áp, có tác dụng chính là làm giảm huyết áp, nhưng cũng có thể gây nhức đầu, nhịp tim nhanh, ho, phù chân, tăng enzym gan và tụt huyết áp, cho thấy những tác dụng phụ và độc hại tiềm ẩn của thuốc.

Trong điều trị, việc phối hợp thuốc là cần thiết để tăng cường hiệu quả và giảm thiểu tác dụng phụ Chẳng hạn, sử dụng thuốc chẹn β giao cảm cùng với nifedipin giúp giảm nhịp tim và cơn nhức đầu do nifedipin gây ra Ngoài ra, thay đổi đường dùng thuốc, như sử dụng thuốc đặt hậu môn, có thể giúp tránh những tác dụng phụ khó chịu như buồn nôn.

4 Tác dụng hiệp đồng và tác dụng đối kháng, cho ví dụ minh họa

Các yếu tố về phía thuốc ảnh hưởng đến tác dụng của thuốc (phân tích chi tiết và cho ví dụ)

Thay đổi cấu trúc làm thay đổi dƣợc lực học của thuốc

Thuốc chỉ có tác dụng khi gắn vào receptor, thể hiện tính ái lực với receptor và kích hoạt chúng để phát huy hiệu lực dược lý Do tính đặc hiệu của receptor, thuốc cũng cần có cấu trúc phù hợp Có thể ví receptor như ổ khóa và thuốc như chìa khóa; một thay đổi nhỏ trong cấu trúc hóa học của thuốc có thể dẫn đến sự thay đổi lớn trong tác dụng của nó.

Như vậy việc tổng hợp các thuốc mới thường nhằm:

Làm tăng tác dụng điều trị và giảm tác dụng không mong muốn Khi thêm F vào vị trí 9 và CH

Betametason, một loại corticoid tại vị trí 16, có tác dụng chống viêm mạnh gấp 25 lần so với corticoid thông thường, đồng thời không gây giữ natri (Na+), giúp người dùng không cần phải ăn nhạt.

Bằng cách thay đổi cấu trúc của isoniazid, một loại thuốc chống lao, chúng ta có thể tạo ra iproniazid, một loại thuốc có tác dụng chống trầm cảm nhờ vào việc gắn vào các receptor khác nhau Ngoài ra, kháng histamin H1 có cấu trúc tương tự histamin, cho phép nó cạnh tranh với histamin tại receptor H1.

Các đồng phân quang học và đồng phân hình học của thuốc có thể ảnh hưởng đáng kể đến cường độ và tác dụng của thuốc Chẳng hạn, isoprenalin có tác dụng kích thích receptor β adrenergic mạnh gấp 500 lần so với isoprenalin Tương tự, quinin là thuốc chữa sốt rét, trong khi quinin (quinidin) lại được sử dụng để điều trị loạn nhịp tim.

Ngày càng có nhiều hiểu biết về siêu cấu trúc của các receptor, dẫn đến việc sản xuất các loại thuốc đặc hiệu có khả năng gắn kết với từng loại receptor cụ thể như receptor adrenergic α1, α2, β1, β2, β3, receptor cholinergic M1, M2, M3, và receptor dopaminergic D1 đến D7.

Thay đổi cấu trúc thuốc, làm thay đổi dƣợc động học của thuốc

Khi cấu trúc thuốc thay đổi, các tính chất lý hóa của nó cũng thay đổi, điều này ảnh hưởng đến khả năng hòa tan trong nước hoặc lipid, khả năng gắn kết với protein, độ ion hóa và tính ổn định của thuốc.

Dopamin không qua đƣợc hàng rào máu não, nhƣng l dopamin (Levo dopa), chất tiền thân của dopamin thì qua đƣợc

Estradiol thiên nhiên không uống đƣợc vì bị chuyển hóa mạnh ở gan dẫn xuất ethinyl estradiol (-C CH gắn ở vị trí 17) rất ít bị chuyển hóa nên uống đƣợc

Tolbutamid được oxy hóa bởi microsom gan tại vị trí para của gốc CH3, với thời gian bán hủy trong huyết tương khoảng 4-8 giờ Khi thay thế gốc CH3 bằng Cl trong Clorpropamid, quá trình chuyển hóa trở nên khó khăn hơn, dẫn đến thời gian bán hủy kéo dài lên tới 35 giờ Ngoài ra, các thiobarbituric ít bị phân ly hơn so với barbituric ở pH của ống thận, do đó chúng bị thải trừ chậm hơn.

Khi thuốc tương tác với receptor để phát huy tác dụng, chỉ những nhóm chức phận gắn vào receptor là quan trọng Việc thay đổi cấu trúc của nhóm hoặc vùng chức phận sẽ ảnh hưởng đến dược lực học của thuốc Ngược lại, nếu cấu trúc bên ngoài vùng chức phận được thay đổi, điều này có thể làm thay đổi dược động học của thuốc.

Dạng thuốc là hình thức đặc biệt của dược chất nhằm đưa dược chất vào cơ thể Việc bào chế dạng thuốc cần đảm bảo thuận tiện cho việc bảo quản, vận chuyển và sử dụng, đồng thời phát huy tối đa hiệu lực chữa bệnh của thuốc.

Có thể tóm tắt quá trình hình thành và phát huy tác dụng của một dạng thuốc trong cơ thể nhƣ sau:

Dựa trên sơ đồ, một dược chất có thể được các nhà bào chế phát triển thành nhiều loại biệt dược khác nhau Những biệt dược này có dạng thuốc và sinh khả dụng khác nhau, dẫn đến hiệu quả điều trị cũng sẽ khác nhau.

Trạng thái của dƣợc chất Độ tán nhỏ: thuốc càng mịn, diện tiếp xúc càng tăng, hấp thu thuốc càng nhanh

Dạng vô định hình và dạng tinh thể: thuốc rắn ở dạng vô định hình dễ tan, dễ hấp thu

Tá dược không chỉ là chất độn trong thuốc mà còn ảnh hưởng đến độ hòa tan và khuếch tán của dược phẩm Việc thay thế calci sulfat bằng lactose trong quá trình dập viên diphenylhydantoin đã dẫn đến hàng loạt trường hợp ngộ độc do lượng thuốc được hấp thu tăng lên (Úc, 1968) Calci sulfat hoạt động như một khung mang không tiêu và xốp, giúp dược chất được giải phóng từ từ trong ống tiêu hóa, trong khi lactose lại làm dược chất tan nhanh, dẫn đến hấp thu nhanh chóng trong thời gian ngắn.

Kỹ thuật bào chế và dạng thuốc:

Kỹ thuật bào chế đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến sinh khả dụng của thuốc, giúp kiểm soát sự giải phóng dược chất và xác định vị trí giải phóng (giải phóng tại đích) Do đó, thông tin này thường được các nhà sản xuất giữ bí mật.

Hiện có rất nhiều dạng thuốc khác nhau đƣợc sản xuất theo các kỹ thuật khác nhau để sao cho: Hoạt tính của thuốc đƣợc vững bền

Dƣợc chất đƣợc giải phóng với tốc độ ổn định

Dƣợc chất đƣợc giải phóng tại nơi cần tác động (giải phóng tại đích, targetting medication) Thuốc có sinh khả dụng cao

Các yếu tố về phía thuốc ảnh hưởng đến tác dụng của thuốc (phân tích chi tiết và cho ví dụ)

Về người dùng thuốc Đặc điểm về tuổi

Trẻ em không chỉ là phiên bản nhỏ của người lớn; việc giảm liều thuốc của người lớn không thể áp dụng cho trẻ em Trẻ em có những đặc điểm phát triển riêng biệt, đòi hỏi sự chú ý đặc biệt trong việc điều trị và chăm sóc sức khỏe.

Sự gắn thuốc vào protein huyết tương còn ít, mặt khác, một phần protein huyết tương còn gắn bilirubin, dễ bị thuốc đẩy ra, gây ngộ độc bilirubin

Hệ enzym chuyển hóa thuốc chƣa phát triển

Hệ thải trừ thuốc chƣa phát triển

Hệ thần kinh chưa phát triển hoàn thiện, với lượng myelin còn ít, dẫn đến hàng rào máu - não chưa đủ khả năng bảo vệ, khiến thuốc dễ thấm qua và tế bào thần kinh trở nên nhạy cảm hơn, chẳng hạn như với morphin.

Tế bào chứa nhiều nước, không chịu được thuốc gây mất nước

Mọi mô và cơ quan đang phát triển, hết sức thận trọng khi dùng các loại hormon

Một số tác giả đã đƣa ra các công thức để tính liều lƣợng cho trẻ em

Người cao tuổi cũng có những đặc điểm riêng cần lưu ý:

Các hệ enzym đều kém hoạt động vì đã "lão hóa"

Các tế bào ít giữ nước nên cũng không chịu được thuốc gây mất n ước

Người cao tuổi thường gặp phải nhiều vấn đề sức khỏe như cao huyết áp, xơ vữa mạch, thấp khớp và tiểu đường, dẫn đến việc họ phải sử dụng nhiều loại thuốc cùng một lúc Do đó, việc chú ý đến tương tác thuốc khi kê đơn là rất quan trọng để đảm bảo an toàn và hiệu quả trong quá trình điều trị.

"tương tác thuốc") Đặc điểm về giới

Nhìn chung, không có sự khác biệt về tác dụng và liều lƣợng của thuốc giữa nam và nữ Tuy nhiên, với nữ giới, cần chú ý đến 3 thời kỳ:

Thời kỳ có kinh nguyệt:

Không cấm hẳn thuốc Nếu phải dùng thuốc dài ngày, có từng đợt ngừng thuốc thì nên sắp xếp vào lúc có kinh

Trong 3 tháng đầu, thuốc dễ gây dị tật bẩm sinh, tạo ra quái thai Trong 3 tháng giữa thuốc có thể ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của bào thai, đến chức phận phát triển của các cơ quan Trong 3 tháng cuối, thuốc có thể gây xảy thai, đẻ non

Vì vậy, khi cần chỉ định thuốc cho phụ nữ có thai, cần cân nhắc thật kỹ giữa lợi ích cho người

Quen thuốc, các loại quen thuốc, VD minh họa ; nghiện thuốc, đặc điểm của nghiện thuốc,

Khi mang thai, cơ thể người mẹ tăng cường giữ nước, dẫn đến thể tích máu gia tăng Đồng thời, hàm lượng protein huyết tương có thể giảm và lượng lipid có thể tăng, điều này ảnh hưởng đến động học của thuốc trong cơ thể.

Thời kỳ cho con bú:

Nhiều loại thuốc khi sử dụng cho mẹ sẽ được thải trừ qua sữa, có thể gây độc hại cho trẻ Do các nghiên cứu về thuốc này chưa đầy đủ, mẹ nên chỉ sử dụng những loại thuốc thật sự cần thiết Tuyệt đối không dùng thuốc chứa opioid và dẫn xuất của chúng, như thuốc ho hay codein, vì có thể gây ngừng thở cho trẻ Các loại corticoid, thuốc kháng giáp trạng tổng hợp, iod, cloramphenicol, và thuốc phối hợp sulfametoxazol + trimethoprim cũng cần tránh vì có thể gây ra các vấn đề nghiêm trọng như suy thận, rối loạn tuyến giáp, và suy tủy xương Cần thận trọng khi sử dụng các thuốc ức chế thần kinh trung ương, như meprobamat và diazepam, vì chúng có thể làm trẻ mơ màng và li bì.

7 Quen thuốc, các loại quen thuốc, VD minh họa ; nghiện thuốc, đặc điểm của nghiện thuốc, VD minh họa

Quen thuốc và nghiện thuốc

Quen thuốc là sự thích nghi của cơ thể khi sử dụng một loại thuốc trong thời gian dài, giúp vượt qua các phản ứng phụ mà vẫn duy trì hiệu quả chữa bệnh Chẳng hạn, nhiều người dùng thuốc chống trầm cảm lâu dài nhận thấy các tác dụng phụ như khô miệng dần biến mất, trong khi tác dụng điều trị của thuốc vẫn được giữ nguyên.

Tuy nhiên, trong quá trình điều trị, hiện tượng quen thuốc có thể làm giảm hiệu quả của một số loại dược phẩm, buộc bệnh nhân phải sử dụng liều cao hơn để đạt được kết quả mong muốn, từ đó gia tăng nguy cơ gặp phải tác dụng phụ.

Tình trạng quen thuốc có những biểu hiện:

Nhiều người chỉ nhận thức được một số tác dụng của thuốc, chẳng hạn như người sử dụng morphin thường quen thuộc với cảm giác khoái cảm và tình trạng suy giảm hô hấp, nhưng lại không biết đến các tác dụng phụ khác như làm sụp mi mắt và gây táo bón.

Hiện tượng quen thuốc chéo xảy ra khi người bệnh đã sử dụng một loại dược phẩm nhiều lần và có thể phát triển sự quen thuộc với một sản phẩm khác thuộc cùng nhóm Điều này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị và cần được xem xét cẩn thận trong quá trình kê đơn thuốc.

Khi ngừng sử dụng thuốc mà đã quen, người bệnh thường cần phải tăng liều và kéo dài thời gian sử dụng để đạt được hiệu quả điều trị.

Tình trạng nghiện thuốc có thể gây ra sự tích tụ độc tố trong cơ thể, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng gan và thận, và có nguy cơ dẫn đến suy gan và suy thận.

Nghiện thuốc, theo Tổ chức Y tế Thế giới, là tình trạng cơ thể không thể hoạt động bình thường khi thiếu thuốc hoặc dược chất mà nó đã quen Người bệnh cảm thấy cần tiếp tục sử dụng thuốc để tránh cảm giác khó chịu hoặc tái phát bệnh Ví dụ, người nghiện thuốc nhuận tràng sẽ gặp phải tình trạng táo bón nặng hơn nếu ngừng dùng, hoặc người dùng thuốc co mạch để chữa viêm mũi có thể thấy bệnh tái phát nghiêm trọng Do đó, việc sa vào tình trạng nghiện thuốc là điều mà người bệnh cần tránh.

Một số biểu hiện nghiện thuốc:

- Có những biểu hiện tâm thần kinh: Người bệnh có một khoái cảm nhẹ nhàng yên bình hoặc có cảm giác bạo lực

Khi bị cắt thuốc, bệnh nhân nghiện trải qua nhiều triệu chứng vật lý như bồi hồi, bứt rứt, mất ngủ, lo âu và hoảng sợ Họ có thể cảm thấy suy nhược, thậm chí gặp ảo giác và rối loạn hành vi Các triệu chứng tiêu hóa như tăng tiết nước bọt, tiêu chảy, nôn mửa và đau bụng cũng thường xuất hiện Ngoài ra, bệnh nhân còn có thể bị đau đầu, đau cơ, chuột rút, rối loạn vận mạch với mặt đỏ hoặc xanh tái, huyết áp không ổn định, tim đập nhanh, chảy nước mắt và rối loạn nổi da gà.

Một số thuốc dễ gây nghiện:

Thuốc kích thích, chẳng hạn như cocaine, được sử dụng để tăng cường cả thể chất lẫn tâm lý, mang lại cảm giác dễ chịu và khoái cảm Người dùng có thể tiêu thụ qua nhiều hình thức như hít qua mũi, uống, hít qua phổi hoặc tiêm tĩnh mạch.

Cần thận trọng khi sử dụng các chất gây ngủ và an thần, đặc biệt là benzodiazepin, vì liều cao có thể dẫn đến nghiện, suy giảm hô hấp và thậm chí tử vong Để tránh tình trạng quen thuốc và nghiện, những người điều trị bệnh dài hạn nên tuân thủ các biện pháp an toàn.

- Kết hợp chặt chẽ với thầy thuốc, cho biết phản ứng của các thứ thuốc đã dùng

- Tránh tự mua lấy thuốc rồi dùng theo sở thích cá nhân

- Quyết tâm giữ gìn không để quen thuốc và nghiện thuốc, nên nhớ rằng quen và nghiện thuốc rất có hại cho cơ thể

- Tránh những thứ thuốc có tác dụng gây khoái cảm nhiều hơn là tác dụng chữa bệnh vì thuốc gây khoái cảm rất dễ bị quen và nghiện.

Dƣợc động học, dƣợc lực học, ADR ?, cho VD minh họa

Dược động học nghiên cứu tác động của cơ thể đối với thuốc trong suốt quá trình thuốc đi vào, tồn tại và rời khỏi cơ thể Các quá trình chính bao gồm hấp thụ, sinh khả dụng, phân bố, chuyển hóa và thải trừ thuốc.

Dược lực học nghiên cứu tác động của thuốc lên cơ thể, bao gồm việc liên kết với thụ thể, các phản ứng sau khi liên kết và các tương tác hóa học Quá trình này mô tả hiệu quả của thuốc, tác dụng phụ và cơ chế hoạt động của chúng Tác dụng của thuốc có thể bị thay đổi do sự tương tác với các thuốc khác hoặc do các bệnh lý Các hiện tượng như cộng lực, đối kháng tác dụng và hiệp đồng đều được dược lực học phân tích.

Dược động học của thuốc xác định thời gian bắt đầu, thời gian tác dụng và mức độ hiệu quả của thuốc Các công thức tính toán giúp mô tả tổng hợp tác động dược động học của hầu hết các loại thuốc, từ đó cung cấp thông tin về các thông số dược động học cơ bản.

Dƣợc động học của thuốc bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bệnh nhân và đặc tính hóa học của thuốc Những yếu tố như chức năng thận, di truyền, giới tính và tuổi tác có thể giúp dự đoán thông số dƣợc động học trong quần thể Chẳng hạn, thời gian bán thải của một số thuốc, đặc biệt là những thuốc cần trải qua cả quá trình chuyển hóa và bài tiết, có thể kéo dài ở người cao tuổi Thực tế cho thấy, những thay đổi sinh lý trong quá trình lão hóa tác động đến nhiều khía cạnh của dƣợc động học.

19 dược động học xem Dược động học của thuốc ở người cao tuổi và xem Dược động học ở trẻ em)

Các yếu tố sinh lý cá nhân ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị thuốc, với một số yếu tố như suy thận, béo phì, suy gan và mất nước có thể dự đoán được Tuy nhiên, những yếu tố khác lại không cụ thể và có thể dẫn đến những tác động không thể lường trước Do sự khác biệt giữa các cá nhân, việc điều chỉnh liều thuốc cần dựa trên đặc điểm riêng của từng bệnh nhân Phương pháp truyền thống thường dựa vào kinh nghiệm để điều chỉnh liều cho đến khi đạt được mục tiêu điều trị, nhưng cách tiếp cận này có thể không đầy đủ, gây trì hoãn trong việc đạt được hiệu quả tối ưu và có thể dẫn đến tác dụng phụ không mong muốn.

Kiến thức về các nguyên tắc dược động học cho phép bác sĩ điều chỉnh liều thuốc một cách chính xác và nhanh chóng Việc áp dụng các nguyên tắc này để cá thể hóa điều trị được gọi là theo dõi nồng độ thuốc trong máu.

So sánh các thông số dược động học của diazepam giữa một nam giới trẻ (A) và một nam giới lớn tuổi (B)

Diazepam được chuyển hóa tại gan thành desmethyldiazepam thông qua các enzyme P-450 Desmethyldiazepam, một chất an thần hoạt hóa, được thải trừ qua thận Thời gian bán thải của nó tỷ lệ nghịch với độ dốc cuối của đường cong, với độ dốc càng lớn thì thời gian bán thải càng dài.

Phản ứng có hại của thuốc (ADR) xảy ra thường xuyên trong các cơ sở chăm sóc sức khỏe và có thể tác động tiêu cực đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

Phản ứng có hại của thuốc đã trở thành nguyên nhân gây tử vong đứng thứ hai, vượt qua cả bệnh phổi, AIDS và tai nạn giao thông, với 20 bệnh nhân bị ảnh hưởng dẫn đến bệnh tật và tử vong.

HẠI CỦA THUỐC LOẠI THUỐC VÍ DỤ

Thiếu máu (Do giảm sản xuất hoặc tăng phá huỷ hồng cầu)

Một số loại kháng sinh Chloramphenicol

Thuốc dùng để điều trị sốt rét hoặc bệnh lao ở những người thiếu men G6PD

Phù mạch (sƣng môi, lƣỡi và cổ họng gây khó thở)

Thuốc ức chế men chuyển angiotensin

Gãy xương Thuốc ức chế bơm proton Esomeprazole

Hình thành cục máu đông Thuốc tránh thai (tất cả các dạng bao gồm miếng dán và viên nén)

Hay nhầm lẫn và uể oải

Thuốc an thần, bao gồm nhiều thuốc kháng histamine Diphenhydramine

Thuốc chống trầm cảm (đặc biệt ở người lớn tuổi) Amitriptyline

Giảm sản xuất tế bào bạch cầu, tăng nguy cơ nhiễm trùng

Một số thuốc chống loạn thần Clozapine

Một số loại thuốc điều trị rối loạn tuyến giáp Propylthiouracil

NSAIDs (sử dụng quá liều nhiều lần) Ibuprofen

Kháng sinh nhóm Aminoglycoside Gentamicin

Tobramycin Một số loại thuốc hoá trị Cisplatin

HẠI CỦA THUỐC LOẠI THUỐC VÍ DỤ

Một số loại kháng sinh Gentamicin

Một số thuốc giảm đau Acetaminophen (dùng quá liều) Một số thuốc điều trị lao Isoniazid

Thuốc bổ sung sắt (số lƣợng nhiều)

Thuốc chống trầm cảm Duloxetine

(Tiêu cơ vân) Statins Atorvastatin

Loét dạ dày hoặc ruột (có hoặc không chảy máu)

Thuốc chống đông máu Heparin

Hoại tử thƣợng bì nhiễm độc

Một số loại kháng sinh Penicillins

Thuốc chống co giật Phenytoin

Thuốc chống loạn nhịp Amiodarone

Thuốc chống loạn thần Chlorpromazine

Tương tác dược lực học và tương tác dược động học (định nghĩa và hậu quả), cho ví dụ

Tương tác thuốc xảy ra khi một loại thuốc bị biến đổi tác dụng hoặc trở nên độc hại cho bệnh nhân khi được sử dụng cùng lúc với thuốc khác Ngoài ra, tương tác giữa thuốc với thức ăn và đồ uống cũng cần được lưu ý để đảm bảo hiệu quả điều trị và an toàn cho người bệnh.

Tương tác thuốc, bao gồm cả tương tác thuốc 22, có thể được sử dụng để phát triển các phác đồ điều trị nhằm nâng cao hiệu quả điều trị hoặc hỗ trợ giải độc Tuy nhiên, trong thực hành lâm sàng, mặt trái của tương tác thuốc thường dẫn đến giảm hiệu quả điều trị, gia tăng tác dụng phụ và độc tính, gây ra những hậu quả không mong muốn có thể dẫn đến thất bại trong điều trị và tăng nguy cơ tai biến do thuốc Do đó, hiểu biết về cơ chế tương tác thuốc là rất quan trọng để đảm bảo việc sử dụng thuốc an toàn và hiệu quả.

Các tương tác thuốc được chia làm 2 loại theo cơ chế xảy ra tương tác:

Tương tác dược lực học xảy ra tại receptor hoặc trên cùng một hướng tác dụng trong hệ thống sinh lý Sự phối hợp thuốc có thể dẫn đến hai kết quả chính: tăng cường hiệu quả hoặc độc tính (hiệp đồng) hoặc ngược lại, làm giảm tác dụng (đối kháng).

Tương tác hiệp đồng gặp khi phối hợp các thuốc có tác dụng trên cùng một hệ thống sinh lý

Việc phối hợp các thuốc giảm đau – chống viêm không steroid (NSAID) với thuốc giảm đau opioid có thể tăng hiệu quả giảm đau, tương tự như việc kết hợp kháng sinh với chất chẹn bơm proton để cải thiện việc diệt trừ Helicobacter pylori trong điều trị viêm loét dạ dày – tá tràng Những phối hợp này thường được sử dụng để xây dựng phác đồ điều trị Tuy nhiên, cần thận trọng để tránh tác dụng hiệp đồng không mong muốn, như việc kết hợp NSAID có thể làm tăng tỷ lệ và mức độ trầm trọng của loét dạ dày tá tràng, xuất huyết và suy thận, hay phối hợp kháng sinh aminoglycosid dẫn đến tăng độc tính trên thận và thính giác.

Tương tác đối kháng xảy ra khi hai thuốc gắn lên cùng một thụ thể hoặc có tác dụng sinh lý đối lập, dẫn đến giảm hoặc mất tác dụng của thuốc Loại tương tác này có thể được ứng dụng để giải độc thuốc, như sử dụng naloxon để giải độc morphin Việc dùng các thuốc như kháng sinh macrolid, lincosamid và phenicol, đều gắn lên 50S-ribosom của vi khuẩn, sẽ gây ra đối kháng và làm giảm hiệu quả kháng khuẩn Hơn nữa, sự phối hợp giữa các thuốc có tác dụng sinh lý đối lập, chẳng hạn như thuốc chẹn beta-adrenergic (như propranolol) và thuốc kích thích beta2-adrenergic (như salbutamol), có thể dẫn đến mất tác dụng điều trị, thường do kê đơn không chính xác cho các bệnh khác nhau.

Tương tác dược động học

Tương tác thuốc trong quá trình hấp thu, phân bố, chuyển hóa và thải trừ có thể làm tăng hoặc giảm nồng độ thuốc trong máu, dẫn đến nguy cơ quá liều hoặc giảm hiệu quả điều trị Nguy hiểm thường xảy ra khi kết hợp các thuốc có độc tính cao hoặc chỉ số điều trị hẹp, vì sự thay đổi nhỏ trong nồng độ thuốc có thể gây ra hậu quả lâm sàng nghiêm trọng Những tương tác này khó dự đoán do không liên quan đến tác dụng dược lý Tương tác theo cơ chế dược động học có thể xảy ra ở cả bốn giai đoạn trong vòng tuần hoàn của thuốc.

Tương tác ở giai đoạn hấp thu có thể làm thay đổi tốc độ và tổng lượng thuốc vào vòng tuần hoàn, với sự thay đổi tổng lượng thuốc dẫn đến nồng độ ảnh hưởng lớn hơn so với tốc độ hấp thu Tương tác này thường gặp ở thuốc uống và không chỉ xảy ra giữa thuốc với thuốc, mà còn giữa thuốc với thức ăn và đồ uống Do tương tác diễn ra tại dạ dày, nơi thuốc chưa kịp hấp thu, để tránh hậu quả, nên uống các thuốc cách nhau ít nhất 2 giờ.

Tương tác trong giai đoạn phân bố xảy ra khi các thuốc đẩy nhau ra khỏi vị trí liên kết tại protein huyết tương, dẫn đến tăng nồng độ thuốc tự do và tăng tác dụng dược lý hoặc độc tính Tương tác này có ý nghĩa lâm sàng khi phối hợp các thuốc có tỷ lệ liên kết protein huyết tương cao (> 90%) và phạm vi điều trị hẹp, như trường hợp giữa salicylat và methotrexat, có thể làm tăng nồng độ methotrexat tự do và gây độc tính cho hệ tạo máu.

Tương tác thuốc trong giai đoạn chuyển hóa có thể làm tăng hoặc giảm nồng độ chất hoạt tính trong máu, dẫn đến thay đổi hiệu quả dược lý hoặc độc tính của thuốc Enzym chính tham gia vào quá trình này là hệ cytochrom P450, chủ yếu hoạt động tại microsom gan và đóng vai trò quan trọng trong chuyển hóa ở pha I.

Có 2 cơ chế tương tác thuốc ở giai đoạn chuyển hóa là cảm ứng và ức chế

Theo cơ chế cảm ứng, một số thuốc có thể kích thích hệ enzym cytocrom P450, dẫn đến tăng tốc độ chuyển hóa của thuốc phối hợp và làm giảm nồng độ thuốc trong máu Tương tác thuốc theo cơ chế này không chỉ làm giảm hiệu quả của thuốc phối hợp mà còn giảm hiệu quả của chính thuốc đó, hiện tượng này thường gặp với barbiturat Đặc biệt, khi ngừng thuốc gây cảm ứng, nồng độ thuốc có thể tăng trở lại, dẫn đến nguy cơ tăng độc tính Các chất gây cảm ứng quan trọng bao gồm barbiturat, griseofulvin, một số thuốc chống động kinh và rifamycin, trong khi các thuốc bị ảnh hưởng gồm warfarin và thuốc tránh thai dạng uống.

Theo cơ chế ức chế, một thuốc có thể làm giảm hoạt tính của enzym microsom gan, dẫn đến giảm chuyển hóa của thuốc bị ảnh hưởng, từ đó tăng nồng độ và độc tính ở liều thông thường Tương tác này mang tính đặc hiệu, chỉ xảy ra khi hai thuốc cùng được chuyển hóa qua một enzym Chẳng hạn, erythromycin và terfenadin đều chuyển hóa qua CYP3A4; sự ức chế của erythromycin đối với CYP3A4 đã làm tăng nồng độ terfenadin, làm tăng nguy cơ loạn nhịp thất, đặc biệt là xoắn đỉnh Do đó, terfenadin đã bị rút khỏi thị trường Một thuốc có thể đóng vai trò là cơ chất, chất cảm ứng hoặc chất ức chế của các isoenzym khác nhau.

Tương tác thuốc ở giai đoạn thải trừ qua thận là quá trình cuối cùng trong vòng đời của thuốc trong cơ thể, nơi thuốc được lọc qua cầu thận và tái hấp thu một phần trước khi thải ra ngoài Tương tác này xảy ra do ảnh hưởng đến quá trình tái hấp thu và thải trừ, với cơ chế khuếch tán thụ động cho tái hấp thu và vận chuyển tích cực cho thải trừ Các chất làm thay đổi pH nước tiểu như amoni clorid và acid ascorbic có thể làm thay đổi tỷ lệ tái hấp thu của thuốc, dẫn đến tăng nồng độ và kéo dài thời gian tồn tại của thuốc trong cơ thể, gây nguy cơ ngộ độc Sự cạnh tranh giữa các chất mang trong hệ thống thải trừ cũng có thể dẫn đến hậu quả tương tự, đặc biệt nguy hiểm nếu chất bị ứ đọng có độc tính cao, như tương tác giữa probenecid và methotrexat làm tăng độc tính trên hệ tạo máu Vì vậy, tương tác qua thận có thể làm tăng nguy cơ tai biến do thuốc.

Một số điểm cần lưu ý

Một cặp thuốc có thể gây ra tương tác ở nhiều giai đoạn khác nhau trong vòng đời dược động học, đồng thời có thể xuất hiện cả tương tác dược lực học và dược động học.

Tương tác giữa thuốc và thức ăn, đồ uống chủ yếu diễn ra trong giai đoạn hấp thu Thông tin về loại tương tác này là cơ sở để xác định thời điểm uống thuốc so với bữa ăn và hướng dẫn về các loại đồ uống cần tránh khi sử dụng thuốc.

Các tài liệu hướng dẫn sử dụng thuốc thường chỉ đề cập đến các tương tác bất lợi, được phân loại theo mức độ nghiêm trọng lâm sàng Các mức độ này bao gồm nguy hiểm (chống chỉ định), nghiêm trọng (cần cân nhắc nguy cơ và lợi ích khi phối hợp), và thận trọng hoặc chưa rõ hậu quả Trong đó, hai mức độ quan trọng nhất là mức nguy hiểm (chống chỉ định) và nghiêm trọng.

THUỐC AN THẦN GAY NGỦ VA RƢỢU

Phân biệt thuốc an thần và thuốc ngủ

Sự khác nhau giữa một thuốc an thần và thuốc ngủ

- Thuốc an thần (sedatives) là thuốc chủ yếu gây thƣ giãn (relaxation) và an thần

Benzodiazepines là nhóm thuốc an thần phổ biến, thường được sử dụng để gây ngủ Các hoạt chất chính bao gồm diazepam, bromazepam, và clonazepam, với nhiều tên thương mại nổi tiếng như Seduxen, Valium, Lexomil, và Rivotril.

Barbiturate, bao gồm phenobarbital (Gardenal) và pentobarbital (Nembutal), hiện nay ít được sử dụng để an thần và gây ngủ do có nhiều tác dụng phụ không mong muốn Tuy nhiên, chúng vẫn được áp dụng trong điều trị chống co giật và gây mê.

Thuốc ngủ “Z – drugs” bao gồm zolpidem (Stilnox, Ambien), eszopiclone (Lunesta) và zaleplon (Sonata), là lựa chọn phổ biến cho những người mắc rối loạn giấc ngủ Các loại thuốc này nổi bật với tác dụng gây ngủ nhẹ nhàng, ít gây ra hiện tượng nhờn thuốc và hội chứng cai khi ngừng sử dụng, giúp người dùng dễ dàng cải thiện chất lượng giấc ngủ.

- Thuốc ngủ (hypnotics) nói chung chỉ những thuốc làm cho giấc ngủ đƣợc dễ dàng nhƣ giấc ngủ sinh lý

VD : thuốc ngủ seduxen thành phần của thuốc là Diazepam gây ngủ nhanh, mạnh

Thuốc ngủ Lexomil chứa hoạt chất Bromazepam 6mg, một loại thuốc an thần mạnh Thuốc thường được sử dụng với liều thấp để giúp giải tỏa lo âu hiệu quả.

Tất cả các loại thuốc này đều có cơ chế tác dụng tương tự nhau, vì vậy sự phân biệt giữa thuốc an thần và thuốc ngủ chỉ mang tính chất tương đối.

Dẫn xuất benzodiazepin: cơ chế tác dụng, tác dụng, chỉ định, chống chỉ định, và nguyên tắc sử dụng

Tác dụng và cơ chế

– Trên thần kinh trung ƣơng:

Benzodiazepin là nhóm thuốc ức chế thần kinh trung ương, mang lại tác dụng an thần và gây ngủ So với barbiturat, benzodiazepin có tác dụng an thần và gây ngủ chọn lọc hơn, đồng thời có phạm vi an toàn rộng hơn.

+ An thần, giảm kích thích, căng thẳng, lo lắng, hồi hộp

+ Gây ngủ: benzodiazepin làm giảm thời gian tiềm tàng và kéo dài toàn thể giấc ngủ, tạo giấc ngủ sâu, nhẹ nhàng, giảm ác mộng và giảm bồn chồn

Thuốc chống co giật và động kinh hiệu quả cho các cơn động kinh cơn nhỏ và động kinh trạng thái bao gồm diazepam, lorazepam, clonazepam và clorazepat.

– Giãn cơ: các benzodiazepin có tác dụng giãn cả cơ vân và cơ trơn khi dùng liều cao nhƣng riêng diazepam có tác dụng ngay ỏ liều an thần

Các tác dụng khác của thuốc bao gồm giãn mạch và hạ huyết áp nhẹ, do đó thường được kết hợp trong đơn thuốc điều trị cao huyết áp Bên cạnh đó, thuốc cũng có tác dụng chống loạn nhịp hiệu quả.

Các receptor của benzodiazepin có nhiều ở vỏ não, hệ viền và não giữa Các receptor này là một phần của phức hợp receptor GABA- kênh cr

Khi chưa có benzodiazepin (BZD), các receptor của nó bị chiếm giữ bởi protein nội sinh, dẫn đến việc GABA không thể gắn vào receptor GABA hoàn toàn và kênh cr không mở Sự xuất hiện của benzodiazepin với ái lực mạnh hơn giúp đẩy protein nội sinh ra và tạo điều kiện cho GABA gắn vào receptor, mở kênh cr và cho phép ion đi vào tế bào Điều này gây ra sự tăng cường ức chế thần kinh trung ương, với BZD chủ yếu làm tăng tần suất mở kênh cr thông qua trung gian GABA.

BZD gắn kết với các receptor đặc hiệu trên hệ thần kinh trung ương, giúp GABA (chất trung gian hóa học ức chế) có thể gắn vào receptor của hệ GABA-ergic Trong trạng thái bình thường, protein nội sinh chiếm giữ các receptor BZD, ngăn cản GABA hoạt động và làm cho kênh Cl- của nơron khép lại Khi BZD hiện diện, với ái lực mạnh hơn, nó đẩy protein nội sinh ra, cho phép GABA gắn vào receptor, mở kênh Cl- và dẫn đến hiện tượng ưu cực hóa.

Các receptor của BZD có liên quan về giải phẫu và chức phận với receptor của GA BA

Các receptor benzodiazepine (BZD) phân bố rộng rãi trong hệ thần kinh trung ương, bao gồm các khu vực như vỏ não, vùng cá ngựa, thể vân, hạ khâu não, hành não, và đặc biệt là ở hệ thống lưới, hệ viền cùng với tuỷ sống.

BZD tác dụng gián tiếp là làm tăng hiệu quả của GABA, tăng tần số mở kênh Cl-

Bộ não con người có chứa nhiều loại chất dẫn truyền thần kinh, đóng vai trò quan trọng trong việc truyền tín hiệu giữa các tế bào não, giúp điều chỉnh các chức năng kích thích hoặc làm dịu.

Khi một người trải qua cảm giác lo lắng quá mức, não bộ sẽ trở nên phấn khích và hoạt động mạnh mẽ hơn Điều này dẫn đến việc các tín hiệu được truyền nhanh chóng đến các tế bào não, giúp làm chậm hoạt động trong não và giảm bớt triệu chứng lo âu.

GABA là chất dẫn truyền thần kinh an thần Hàng tỷ tế bào não phản ứng với tín hiệu của nó

Các thuốc benzodiazepin tăng cường tác dụng của GABA, một chất dẫn truyền thần kinh quan trọng Những loại thuốc này giúp làm dịu cơ thể và duy trì trạng thái an thần cho não.

– Các trạng thái thần kinh bị kích thích, căng thẳng, lo âu

– Các trạng thái mất ngủ

– Động kinh cơn nhỏ, co giật do sốt cao, hội chứng cai rƣợu

– Các bệnh co cứng cơ

Tác dụng không mong muốn

– Tác dụng không mong muốn của benzodiazepin thường gặp là buồn ngủ chóng mặt, mất phối hợp vận động, lú lẫn, hay quên

Độc tính cấp của benzodiazepin xảy ra khi sử dụng quá liều, nhưng thường ít nguy hiểm hơn so với các thuốc an thần gây ngủ khác Tuy nhiên, nguy cơ độc tính tăng cao khi benzodiazepin được kết hợp với các chất ức chế thần kinh trung ương khác, đặc biệt là rượu Flumazenil là chất giải độc đặc hiệu, hoạt động như một chất đối kháng trên receptor benzodiazepin.

Sử dụng thuốc trong thời gian dài có thể dẫn đến tình trạng độc tính mạn và lệ thuộc thuốc, gây ra hội chứng cai thuốc khi ngừng đột ngột, với các triệu chứng như đau đầu, chóng mặt, dễ kích thích, mất ngủ, run cơ và đau nhức xương khớp Để tránh lệ thuộc, không nên sử dụng thuốc kéo dài; nếu cần thiết, hãy giảm liều từ từ trước khi ngừng thuốc.

– Suy hô hấp, nhƣợc cơ: do tác dụng ức chế thần kinh và giãn cơ

– Suy gan: do thuốc chuyển hoá tạo các chất có tác dụng kéo dài, có thể tăng độc tính hoặc gây độc cho gan đã bị suy

– Những người lái ô tô, làm việc trên cao, đứng máy chuyển động

Do BZD còn một số tác dụng phụ nên đang nghiên cứu một nhóm thuốc an thần mới không tác dụng qua hệ GABA: buspirone, zolpidem (nhóm imidazopiridin)

* Nguyên tắc chung khi dùng thuốc:

– Liều lượng tuỳ thuộc từng người

– Chia liều trong ngày cho phù hợp

– Dùng giới hạn từng thời gian ngắn (1tuần -3 tháng) để tránh phụ thuộc vào thuốc

– Tránh dùng cùng với các thuốc ức chế thần kinh trung ƣơng, rƣợu, thuốc ngủ, kháng histamin.

Phenobarbital: tác dụng, chỉ định, chống chỉ định và ADR

Tên chung quốc tế: Phenobarbital

Loại thuốc: Chống co giật và an thần, gây ngủ

Dạng thuốc và hàm lƣợng

Viên nén 15 mg, 50 mg, 100 mg; dung dịch tiêm 200 mg/1 ml; dung dịch uống 15 mg/5 ml; viên đạn

Phenobarbital là một loại thuốc chống co giật thuộc nhóm barbiturat, có tác dụng tăng cường và/hoặc bắt chước tác động ức chế synap của acid gamma-aminobutyric (GABA) trong não.

Phenobarbital và các barbiturat khác làm giảm sử dụng oxygen ở não trong lúc gây mê, có lẽ chủ yếu thông qua việc ức chế hoạt động của neuron

Động kinh được chỉ định bao gồm động kinh cơn lớn, động kinh giật cơ và động kinh cục bộ, ngoại trừ động kinh cơn nhỏ Ngoài ra, cần chú ý phòng ngừa co giật do sốt cao tái phát ở trẻ nhỏ.

Vàng da sơ sinh thường xảy ra ở những trẻ em có mức bilirubin không liên hợp cao, đặc biệt là ở những người mắc chứng tăng bilirubin huyết không liên hợp bẩm sinh, không tan huyết bẩm sinh và những bệnh nhân bị ứ mật mạn tính trong gan.

Người bệnh quá mẫn với phenobarbital

Người bệnh suy hô hấp nặng, có khó thở hoặc tắc nghẽn

Người bệnh rối loạn chuyển hóa porphyrin Suy gan nặng

Tác dụng không mong muốn Phenobarbital

Trầm cảm, loạng choạng, và rung giật nhãn cầu là những triệu chứng có thể gặp phải Ngoài ra, phản ứng dị ứng da, bao gồm viêm da bong và hoại tử thượng bì do ngộ độc, có thể xảy ra Hội chứng Stevens-Johnson cũng là một nguy cơ cần lưu ý Bệnh nhân có thể trải qua cơn kích thích chống đối, bồn chồn lú lẫn ở người già, hoặc dễ bị kích thích và hiếu động ở trẻ nhỏ Thiếu máu hồng cầu khổng lồ có thể được điều trị bằng acid folic, trong khi nhuyễn xương và động kinh liên tục có thể xuất hiện khi ngừng thuốc Hạ huyết áp, co thắt thanh quản, và ngừng thở có thể xảy ra khi tiêm tĩnh mạch.

Xử trí ADR: Giảm liều ở người cao tuổi, người mắc bệnh gan hoặc thận; tiêm tĩnh mạch thật chậm; ngừng dùng thuốc ngay; bổ sung vitamin D và acid folic

Thường gặp, Buồn ngủ, Có hồng cầu khổng lồ trong máu ngoại vi

Rung giật nhãn cầu và mất điều hòa động tác thường xuất hiện ở người cao tuổi, kèm theo lo âu, kích thích và lú lẫn Trong khi đó, nổi mẩn do dị ứng thường gặp hơn ở người trẻ tuổi, mặc dù trường hợp này ít phổ biến hơn.

Còi xương, nhuyễn xương và loạn dưỡng đau cơ thường xuất hiện ở trẻ em khoảng một năm sau khi điều trị, cùng với triệu chứng đau khớp Ngoài ra, rối loạn chuyển hóa porphyrin và hội chứng Lyell cũng có thể xảy ra, với nguy cơ tử vong cao.

Thiếu máu hồng cầu khổng lồ do thiếu hụt acid folic

Phải giảm liều phenobarbital ở người bệnh cao tuổi, người bệnh có tiền sử bệnh gan hay bệnh thận

Khi tiêm phenobarbital vào tĩnh mạch, cần thực hiện rất chậm với tốc độ dưới 60 mg/phút để tránh gây ức chế hô hấp Việc tiêm nên được thực hiện trong môi trường bệnh viện và chỉ dành cho các trường hợp cấp cứu trạng thái động kinh cấp, với sự theo dõi chặt chẽ.

Ethanol: dƣợc động học, tác dụng, chỉ định và lý giải tại sao ethanol lại đƣợc chỉ định điều trị ngộ độc methanol

Một chất lỏng trong suốt, không màu, nhanh chóng hấp thụ từ đường tiêu hóa và phân phối khắp cơ thể, có hoạt tính diệt khuẩn và thường được sử dụng làm chất khử trùng tại chỗ Nó cũng được sử dụng rộng rãi như một dung môi và chất bảo quản trong các chế phẩm dược phẩm, đồng thời là thành phần chính trong đồ uống có cồn.

Rượu hấp thu nhanh qua đường tiêu hóa Sau khi uống 30 phút, rượu đạt nồng độ tối đa trong máu Thức ăn làm giảm hấp thu rƣợu

Sau khi được hấp thu, rượu nhanh chóng phân phối vào các mô và dịch trong cơ thể, bao gồm cả qua nhau thai Nồng độ rượu trong các mô tương đương với nồng độ trong máu.

Trên 90% rƣợu đƣợc oxy hóa ở gan, phần còn lại đƣợc thải trừ nguyên vẹn qua phổi và thận

Có 2 con đường để chuyển hóa rượu thành acetaldehyd

Chuyển hóa rượu qua enzyme alcool dehydrogenase (ADH) là con đường chính trong cơ thể ADH, một enzym chứa kẽm, chủ yếu tập trung ở gan, nhưng cũng có mặt ở não và dạ dày Quá trình này chuyển đổi rượu thành acetaldehyd với sự hỗ trợ của NAD+ (nicotinamid adenin dinucleotid).

Khi nồng độ rượu trong máu vượt quá 100 mg/dL (22 mmol/L), rượu được chuyển hóa qua hệ thống microsomal ethanol oxidizing system (MEOS) Ở những người nghiện rượu, hoạt tính của các enzym trong hệ MEOS tăng lên, dẫn đến việc tăng cường chuyển hóa rượu và một số loại thuốc như phenobarbital, meprobamat, carbamazepin và diphenylhydantoin cũng được chuyển hóa qua hệ này.

Rượu có tác động ức chế lên hệ thần kinh trung ương, và tác dụng này phụ thuộc vào nồng độ rượu trong máu Ở nồng độ thấp, rượu mang lại hiệu ứng an thần và giảm lo âu, trong khi ở nồng độ cao hơn, nó có thể gây ra rối loạn tâm thần, mất kiểm soát hành động, và thậm chí dẫn đến hôn mê Khi nồng độ rượu trong máu quá cao, người sử dụng có nguy cơ gặp phải tình trạng ức chế hô hấp, đe dọa tính mạng.

Cơ chế tác dụng của rượu được cho là do khả năng ức chế thần kinh trung ương, thông qua việc làm tan rã lớp lipid của màng tế bào Điều này ảnh hưởng đến hoạt động của các kênh ion và protein liên quan, dẫn đến những thay đổi trong chức năng thần kinh.

Nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng rượu có khả năng tăng cường sự gắn kết của GABA trên receptor GABAA, đồng thời cũng tác động đến receptor NMDA glutamat, ức chế khả năng mở kênh Ca++ của glutamat.

Rượu có tác dụng sát khuẩn khi bôi ngoài da, với rượu 700 là lựa chọn tốt nhất Rượu 900 có thể làm đông protein ở da và làm hẹp lỗ tiết mồ hôi, dẫn đến việc không thấm sâu vào da.

Uống rượu nhẹ có ít tác động đến sức khỏe tim mạch, trong khi việc tiêu thụ rượu mạnh trong thời gian dài có thể dẫn đến giãn cơ tim, phì đại tâm thất và xơ hóa.

Rượu nhẹ (dưới 100) có tác dụng tích cực đến hệ tiêu hóa bằng cách tăng tiết dịch vị, trong đó chứa nhiều acid và ít pepsin Điều này dẫn đến việc tăng cường nhu động ruột và khả năng hấp thu thức ăn tại niêm mạc ruột Do đó, việc sử dụng rượu nhẹ một cách điều độ có thể góp phần làm tăng thể trọng.

Rượu 200 có tác dụng ức chế sự bài tiết dịch vị, trong khi rượu mạnh (400) gây viêm niêm mạc dạ dày do ảnh hưởng đến lớp chất nhầy, dẫn đến nôn và co thắt vùng hạ vị Điều này cũng làm giảm khả năng hấp thu một số loại thuốc qua ruột.

Rượu gây giãn mạch nhờ ức chế trung tâm vận mạch và khả năng làm giãn cơ trơn của acetaldehyd, một chất chuyển hóa của rượu Điều này khiến người ngộ độc rượu dễ bị hạ thân nhiệt và có nguy cơ chết cóng khi gặp lạnh.

Rƣợu còn làm giãn cơ tử cung

Ethanol được chỉ định trong điều trị đau mãn tính khó chữa do các tình trạng như ung thư không thể phẫu thuật và đau dây thần kinh sinh ba (tic douloureux) ở những bệnh nhân mà phẫu thuật thần kinh không khả thi Ngoài ra, ethanol cũng được sử dụng để điều trị ngộ độc methanol.

Phác đồ điều trị ngộ độc methanol bao gồm các biện pháp như lọc máu, tăng thải trừ chất độc, sử dụng thuốc vận mạch và truyền dịch Đặc biệt, cần sử dụng thuốc giải độc đặc hiệu như ethanol và fomepizole, giúp ngăn chặn quá trình chuyển hóa methanol thành axit formic và format Khi truyền ethanol, methanol sẽ được đào thải khỏi cơ thể qua thận hoặc lọc máu Ethanol có trong bia, và khi bia được truyền vào cơ thể, gan sẽ ưu tiên chuyển hóa ethanol trước, từ đó tạo điều kiện cho bác sĩ có đủ thời gian để thực hiện lọc máu.

THUỐC GIẢM DAU TRUNG ƢƠNG

Morphin: tác dụng, TDKMM, chỉ định, chống chỉ định

Morphin chủ yếu tác động lên hệ thần kinh trung ương và ruột thông qua thụ thể muy (m) ở sừng sau tủy sống Nó có nhiều tác dụng khác nhau, bao gồm giảm đau, gây buồn ngủ, thay đổi tâm trạng, ức chế hô hấp, giảm nhu động dạ dày ruột, gây buồn nôn và nôn, cũng như ảnh hưởng đến nội tiết và hệ thần kinh tự động.

Tác dụng giảm đau do thay đổi nhận cảm đau và một phần do tăng ngƣỡng đau

Morphin ức chế hô hấp là do ức chế tác dụng kích thích của CO2 trên trung tâm hô hấp ở hành não

Chỉ định sử dụng thuốc giảm đau mạnh trong các trường hợp đau nặng hoặc đau không đáp ứng với các loại thuốc giảm đau khác, bao gồm đau sau chấn thương, đau sau phẫu thuật, và đau ở giai đoạn cuối của bệnh, đặc biệt là đau do ung thư.

Cơn đau gan, đau thận (nhƣng morphin có thể làm tăng co thắt) Ðau trong sản khoa

Phối hợp khi gây mê và tiền mê

Suy hô hấp Triệu chứng đau bụng cấp không rõ nguyên nhân

Suy gan nặng Chấn thương não hoặc tăng áp lực nội sọ

Trạng thái co giật Nhiễm độc rƣợu cấp hoặc mê sảng rƣợu cấp

Trẻ em dưới 30 tháng tuổi Ðang dùng các chất ức chế monoaminoxidase (IMAO)

Khi sử dụng morphine, người dùng có thể gặp phải các triệu chứng như buồn nôn, nôn mửa, táo bón, chóng mặt, buồn ngủ, tăng tiết mồ hôi hoặc khô miệng Ngoài ra, nếu thuốc được tiêm vào cơ hoặc dưới da, có thể xảy ra tình trạng đau, đỏ hoặc sưng tại vị trí tiêm Nếu các tác dụng phụ này kéo dài hoặc trở nên nghiêm trọng hơn, hãy nhanh chóng thông báo cho bác sĩ hoặc dược sĩ.

Để ngăn ngừa táo bón, hãy tăng cường chất xơ trong chế độ ăn uống, uống đủ nước và duy trì thói quen tập thể dục Nếu cần, bạn có thể sử dụng thuốc nhuận tràng và nên hỏi dược sĩ để chọn loại phù hợp Để giảm nguy cơ chóng mặt, hãy đứng dậy từ từ khi chuyển từ tư thế ngồi hoặc nằm.

Khi dùng morphin có thể gặp một số tác dụng không mong muốn:

Các triệu chứng thường gặp bao gồm buồn nôn và nôn (khoảng 20%), táo bón, ức chế thần kinh, co đồng tử và bí đái Ngoài ra, một số triệu chứng ít gặp hơn có thể bao gồm ức chế hô hấp, ngứa, toát mồ hôi, lú lẫn, ác mộng, ảo giác, co thắt túi mật và co thắt phế quản.

Morphin tiêm ngoài màng cứng ít gây buồn nôn, nôn, co thắt đường mật hoặc đường niệu so với các phương pháp khác Phương pháp này cũng có tác dụng ức chế thần kinh và tăng tiết hormon chống bài niệu.

Buồn nôn và nôn (khoảng 20%), táo bón Bí đái Co đồng tử Ít gặp Ức chế hô hấp, bồn chồn, khó chịu, yếu cơ

Gan: Co thắt túi mật Co thắt phế quản Co thắt bàng quang Ngứa

Hạ huyết áp thế đứng

Morphin tiêm ngoài màng cứng không có khuynh hướng gây buồn nôn, nôn, co thắt đường mật, hoặc đường niệu như khi tiêm tĩnh mạch, tiêm bắp hoặc uống

Để khắc phục tình trạng buồn nôn và nôn, có thể tiêm dưới da 0,25 - 0,5 mg atropin Tuy nhiên, nếu tác dụng phụ quá mạnh, có thể cần thay thế morphin bằng methadon hoặc oxycodon để bệnh nhân có thể dung nạp tốt hơn.

Khi bị đau do sỏi mật hoặc sỏi thận, không nên sử dụng morphin đơn độc vì thuốc này có thể làm tăng nguy cơ co thắt Thay vào đó, cần phối hợp morphin với một loại thuốc chống co thắt để đảm bảo hiệu quả điều trị an toàn hơn.

Sử dụng morphin trong thời gian dài có thể gây táo bón do giảm nhu động ruột Để khắc phục tình trạng này, nên sử dụng thuốc nhuận tràng kích thích như bisacodyl hoặc natri picosulfat.

THUỐC ĐT RỐI LOẠN TAM THẦN, CHỐNG DỘNG KINH

THẦN KINH THỰC VẬT

THUỐC TAC DỤNG TREN HỆ TIM MẠCH

THUỐC DIỀU TRỊ LAO

THUỐC DIỆT AMIP

NSAIDs

GLUCOCORTICOID

THUỐC CHỐNG DONG MAU

THUỐC DIỀU TRỊ RỐI LOẠN LIPOPROTEIN MAU

THUỐC DIỀU TRỊ DAI THAO DƯỜNG

KHANG SINH

THUỐC DIỀU TRỊ LOET DẠ DAY TA TRANG

THUỐC KHANG HISTAMIN H1

Ngày đăng: 02/08/2021, 10:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w