1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo trình pháp luật đại cương

304 153 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo trình Pháp luật đại cương
Tác giả Pgs.Ts. Lê Thị Thanh, Ts. Hoàng Thị Giang, Pgs.Ts. Trần Đình Huỳnh, Ths. Vũ Thị Toán, Ths. Hoàng Thu Hằng, Ths. Đỗ Ngọc Thanh, Ths. Đỗ Quốc Quyền, Ths. Tô Mai Thanh, Ths. Đỗ Thị Kiều Phương, Hvch. Nguyễn Thị Ngân Giang, Hvch. Phạm Thị Hồng Nhung
Người hướng dẫn Ths. Đoàn Thị Hải Yến
Trường học Học viện Tài chính
Chuyên ngành Pháp luật đại cương
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 304
Dung lượng 8,62 MB

Cấu trúc

  • Chương 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NUỚC 1. NGUỒN GỐC VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NHÀ NƯỚC (0)
    • 1.1. Nguồn gốc của Nhà nước (5)
    • 1.2. Đặc điểm của Nhà nước (12)
    • 2. BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG CỦA NHÀ NƯỚC (15)
      • 2.1. Bản chất của Nhà nước (15)
      • 2.2. Chức năng của Nhà nước (17)
    • 3. HÌNH THỨC NHÀ NƯỚC VÀ CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ CỦA NHÀ NƯỚC (19)
      • 3.1. Hình thức nhà nước (19)
      • 3.2. Chế độ chính trị của Nhà nước (22)
    • 4. CÁC KIỂU NHÀ NƯỚC (24)
      • 4.1. Khái niệm kiểu Nhà nước (24)
      • 4.2. Các kiểu Nhà nước trong lịch sử (25)
    • 5. NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM (31)
      • 5.1. Lịch sử hình thành, bản chất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (31)
      • 5.3. Hình thức Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (40)
    • 6. NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN (58)
      • 6.1. Nguồn gốc về Nhà nước pháp quyền (58)
      • 6.2. Những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền (64)
      • 6.3. Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam (68)
  • Chương 2. NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG CỦA PHÁP LUẬT 1. NGUỒN GỐC VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA PHÁP LUẬT (0)
    • 1.1. Nguồn gốc của pháp luật (72)
    • 1.2. Đặc điểm của pháp luật (76)
    • 2. BẢN CHẤT CỦA PHÁP LUẬT (80)
      • 2.1. Tính giai cấp (81)
      • 2.2. Tính xã hội (82)
      • 2.3. Tính dân tộc (83)
      • 2.4. Tính mở (84)
    • 3. CHỨC NĂNG CỦA PHÁP LUẬT (89)
      • 3.1. Khái niệm chức năng của pháp luật (89)
      • 3.2. Các chức năng của pháp luật (90)
    • 4. CÁC KIỂU PHÁP LUẬT TRONG LỊCH SỬ (94)
      • 4.1. Khái niệm kiểu pháp luật (94)
      • 4.2. Các kiểu pháp luật trong lịch sử (95)
  • Chương 3. QUY PHẠM PHÁP LUẬT VÀ (0)
    • 1.1. Khái niệm, đặc điểm của quy phạm pháp luật (103)
    • 1.2. Cấu trúc của quy phạm pháp luật (108)
    • 1.3. Phân loại quy phạm pháp luật (114)
    • 2. QUAN HỆ PHÁP LUẬT (116)
      • 2.1. Khái niệm, đặc điểm của quan hệ pháp luật (116)
      • 2.3. Phân loại quan hệ pháp luật (0)
      • 2.3. Các yếu tố của quan hệ pháp luật (123)
      • 2.4. Sự kiện pháp lý (133)
  • Chương 4. HỆ THỐNG PHÁP LUẬT 1. KHÁT NIỆM VỀ HỆ THỐNG PHÁP LUẬT (0)
    • 1.1. Khái niệm, đặc điểm của hệ thống pháp luật (137)
    • 1.2. Hệ thống cấu trúc của pháp luật (139)
    • 1.3. Nguồn của pháp luật (143)
    • 2. MỘT SỐ NGÀNH LUẬT TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM (156)
      • 2.1. Luật Hiến pháp Việt Nam (156)
      • 2.2. Luật Hành chính Việt Nam (165)
      • 2.3. Luật Dân sự Việt Nam (171)
      • 2.4. Luật Hình sự Việt Nam (178)
  • Chương 5. THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VÀ PHÁP CHẾ 1. THỰC HIỆN PHÁP LUẬT (0)
    • 1.1. Khái niệm thực hiện pháp luật (182)
    • 1.2. Các hình thức thực hiện pháp luật (183)
    • 2. VI PHẠM PHÁP LUẬT (188)
      • 2.1. Khái niệm vi phạm pháp luật (188)
      • 2.2. Các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật (193)
      • 2.5. Các loại vi phạm pháp luật (0)
    • 3. TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ (218)
      • 3.1. Khái niệm trách nhiệm pháp lý (218)
      • 3.1. Các hình thức trách nhiệm pháp lý (0)
    • 4. PHÁP CHẾ (229)
      • 4.1. Khái niệm về pháp chế (229)
      • 4.2. Vấn đề tăng cường pháp chế (235)
  • Chương 6. PHÁP LUẬT QUỐC TẾ 1. CÔNG PHÁP QUỐC TẾ (0)
    • 1.1. Khái niệm về Công pháp quốc tế (243)
    • 1.2. Các nguyên tắc cơ bản của Công pháp quốc tế (245)
    • 1.3. Nguồn của Công pháp quốc tế (249)
    • 1.4. Một số nội dung cơ bản của Công pháp quốc tế (0)
    • 2. TƯ PHÁP QUỐC TẾ (263)
      • 2.1. Khái niệm Tư pháp quốc tế (263)
      • 2.2. Xung đột pháp luật trong Tư pháp quốc tế (266)
      • 2.3. Nguồn của Tư pháp quốc tế (281)
      • 2.4. Chủ thể của Tư pháp quôc tế (285)
      • 2.5. Một số nội dung cơ bản của Tư pháp quốc tế (290)

Nội dung

LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NUỚC 1 NGUỒN GỐC VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NHÀ NƯỚC

Nguồn gốc của Nhà nước

Nhà nước là một hiện tượng đa dạng và phức tạp, và để nắm bắt bản chất cũng như các quy luật phát triển của nó, cần làm rõ nguyên nhân hình thành Trong lịch sử tư tưởng chính trị và pháp lý, đã có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc của Nhà nước.

Theo Thuyết thần học, Thượng đế thiết lập trật tự xã hội và tạo ra Nhà nước nhằm bảo vệ trật tự chung Do đó, Nhà nước được coi là một lực lượng siêu nhiên, quyền lực của Nhà nước là vĩnh cửu, và sự phục tùng quyền lực này là điều cần thiết và tất yếu.

Những nhà tư tưởng theo Thuyết gia trưởng cho rằng Nhà nước là sản phẩm của sự phát triển từ gia đình, hình thức tổ chức tự nhiên trong đời sống con người Do đó, Nhà nước hiện diện trong mọi xã hội, với quyền lực của nó tương tự như quyền lực của người đứng đầu gia đình.

1 Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội,

Theo Thuyết khế ước xã hội, Nhà nước ra đời từ hợp đồng giữa những người trong trạng thái tự nhiên, phản ánh lợi ích của các thành viên trong xã hội Mỗi cá nhân có quyền yêu cầu Nhà nước phục vụ và bảo vệ lợi ích của mình Thuyết này đóng vai trò quan trọng, là nền tảng cho thuyết dân chủ cách mạng và tư tưởng cách mạng tư sản nhằm lật đổ chế độ phong kiến, mang lại giá trị lịch sử to lớn Tuy nhiên, nó cũng có những hạn chế, như giải thích nguồn gốc Nhà nước dựa trên phương pháp luận duy tâm, chỉ ra rằng Nhà nước được hình thành từ ý muốn chủ quan mà không làm rõ cội nguồn vật chất và bản chất giai cấp của nó.

Theo Thuyết bạo lực của một số học giả tư sản, sự xuất hiện của Nhà nước được hình thành từ việc một thị tộc sử dụng bạo lực để chiến thắng thị tộc khác Kết quả của cuộc chiến này là thị tộc chiến thắng đã "nghĩ ra" một hệ thống cơ quan đặc biệt, được gọi là Nhà nước, nhằm nô dịch kẻ chiến bại.

Các học giả của Thuyết tâm lý cho rằng sự xuất hiện của Nhà nước bắt nguồn từ nhu cầu tâm lý của con người nguyên thủy, khi họ luôn tìm kiếm sự phụ thuộc vào các thủ lĩnh và giáo sĩ Nhà nước được coi là tổ chức của những siêu nhân, những người mang sứ mệnh lãnh đạo xã hội.

Các quan điểm về sự ra đời của Nhà nước thường bị ảnh hưởng bởi hạn chế lịch sử, nhận thức và lợi ích giai cấp, dẫn đến việc giải thích sai lệch nguyên nhân thực sự của nó Những quan điểm này thường tách rời điều kiện vật chất và nguyên nhân kinh tế của xã hội, cho rằng Nhà nước là một thiết chế không thuộc về giai cấp nào và tồn tại trong mọi xã hội.

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã khẳng định rằng nhà nước không phải là một hiện tượng vĩnh cửu, mà là một hiện tượng lịch sử có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong Trong lịch sử, đã có giai đoạn xã hội không tồn tại nhà nước, và nhà nước chỉ ra đời khi xã hội phát triển đến một trình độ nhất định dưới những điều kiện khách quan cụ thể Những tư tưởng này được thể hiện rõ trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước” của Ph Ăngghen, và tiếp tục được hoàn thiện trong “Nhà nước và cách mạng” của V.I Lênin.

Ph Ăngghen đã chỉ ra rằng xã hội cộng sản nguyên thủy không tồn tại Nhà nước, nhưng những nguyên nhân dẫn đến sự hình thành của Nhà nước lại phát sinh từ chính xã hội này Do đó, việc nghiên cứu cơ sở kinh tế và tổ chức xã hội trong cộng đồng cộng sản nguyên thủy là cần thiết để lý giải nguyên nhân ra đời của Nhà nước.

Cơ sở kinh tế của xã hội cộng sản nguyên thủy được xác định bởi chế độ sở hữu chung về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động Trong bối cảnh phát triển lực lượng sản xuất còn hạn chế và công cụ lao động thô sơ, con người chưa có nhận thức đầy đủ về thiên nhiên và bản thân Do đó, để tồn tại, con người phải sống chung, hợp tác lao động và cùng hưởng thụ thành quả lao động chung.

Trong bối cảnh kinh tế còn thấp kém và chưa có sự phân hóa giai cấp, thị tộc đã trở thành hình thức tổ chức đầu tiên của xã hội cộng sản nguyên thủy Thị tộc, được cấu thành từ quan hệ huyết thống, là tế bào cơ bản của xã hội này, nơi mọi người đều bình đẳng và không có đặc quyền Quyền lực trong thị tộc mang tính xã hội, không tách rời khỏi cộng đồng mà phục vụ lợi ích chung, không có bộ máy cưỡng chế riêng biệt.

Hội đồng thị tộc là tổ chức quyền lực cao nhất, bao gồm những người lớn tuổi, không phân biệt giới tính Hội đồng này có quyền quyết định các vấn đề quan trọng như tổ chức sản xuất, tiến hành chiến tranh, tổ chức nghi lễ tôn giáo và giải quyết tranh chấp nội bộ Các quyết định của Hội đồng thể hiện ý chí chung và có tính bắt buộc đối với mọi thành viên Hội đồng cũng bầu ra các vị trí lãnh đạo như Tù trưởng và Thủ lĩnh quân sự để thực hiện quyền lực và công việc chung Những lãnh đạo này có quyền lực lớn, dựa trên sự tín nhiệm cao từ cộng đồng và phải chịu sự giám sát, có thể bị bãi miễn nếu mất tín nhiệm.

Xã hội phát triển cần mở rộng mối quan hệ giữa các thị tộc, dẫn đến sự hình thành các bào tộc và bộ lạc Bào tộc là liên minh của nhiều thị tộc, trong khi bộ lạc bao gồm nhiều bào tộc Cấu trúc tổ chức của bào tộc và bộ lạc dựa trên nguyên tắc tương tự như thị tộc, nhưng với mức độ tập trung quyền lực cao hơn.

Xã hội cộng sản nguyên thủy là một hình thức xã hội không có Nhà nước, nơi mà các quan hệ xã hội và tổ chức lao động được duy trì chủ yếu nhờ phong tục tập quán và sự kính trọng đối với các bô lão trong thị tộc Trong bối cảnh này, phụ nữ không chỉ có địa vị ngang bằng với nam giới mà còn có thể cao hơn Không tồn tại một hạng người riêng biệt hay chuyên môn để thống trị, tạo nên sự bình đẳng trong cộng đồng.

Sự phát triển của lực lượng sản xuất đã thúc đẩy sự chuyển biến từ phương thức sản xuất cộng sản nguyên thủy sang hình thức sản xuất có phân công lao động xã hội Vào cuối thời kỳ cộng sản nguyên thủy, ba lần phân công lao động xã hội lớn đã diễn ra: 1) Chăn nuôi tách ra khỏi trồng trọt; 2) Thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp; 3) Thương nghiệp trở thành một ngành độc lập Mỗi lần phân công lao động này đã tạo ra những biến động xã hội sâu sắc, góp phần vào sự tan rã của xã hội cộng sản nguyên thủy.

2 V.I Lênin, Toàn tập, Tập 29, NXB Sự thật, Hà Nội, 1972, tr.548

Đặc điểm của Nhà nước

Nhà nước, với vai trò là thiết chế quyền lực của giai cấp thống trị, đóng vai trò trung tâm trong hệ thống chính trị và có khả năng tác động toàn diện, mạnh mẽ đến đời sống xã hội Các đặc điểm cơ bản của nhà nước bao gồm sự tổ chức đặc biệt và khả năng ảnh hưởng hiệu quả đến mọi lĩnh vực trong xã hội.

4 Từ điển Luật học, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999

Thứ nhất, Nhà nước có lãnh thổ và thực hiện sự quản lý dân cư theo đơn vị hành chính lãnh thổ

Nhà nước là một tổ chức quyền lực có nhiệm vụ quản lý dân cư theo lãnh thổ quốc gia, thực hiện công tác quản lý dựa trên các khu vực địa lý hành chính.

Tổ chức thị tộc quản lý thành viên dựa trên huyết thống, trong khi các tổ chức chính trị – xã hội trong xã hội có Nhà nước được thành lập theo tư tưởng, tín ngưỡng, nghề nghiệp và giới tính Nhà nước tổ chức dân cư theo đơn vị hành chính lãnh thổ, không phụ thuộc vào các yếu tố cá nhân Điều này dẫn đến việc hình thành các cơ quan quản lý tại từng đơn vị hành chính – lãnh thổ Yếu tố lãnh thổ là đặc trưng quan trọng của Nhà nước, với quyền lực được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ quốc gia Sự hiện diện của lãnh thổ cũng dẫn đến chế định quốc tịch, quy định sự lệ thuộc của công dân vào một Nhà nước hoặc vùng lãnh thổ cụ thể.

Thứ hai, Nhà nước thiết lập quyền lực công đặc biệt

Nhà nước là tổ chức công quyền với quyền lực đặc biệt, tách rời khỏi dân cư và đứng trên xã hội, do giai cấp thống trị về kinh tế và chính trị nắm giữ Để thực hiện quyền lực này, Nhà nước cần một bộ máy cưỡng chế đặc biệt, bao gồm quân đội, cảnh sát, toà án và các công cụ vật chất như nhà tù, điều mà xã hội thị tộc không có.

Thứ ba, Nhà nước có chủ quyền quốc gia

Nhà nước là tổ chức quyền lực có chủ quyền, thể hiện quyền tự quyết về chính sách đối nội và đối ngoại, độc lập với các quốc gia khác Chủ quyền quốc gia có tính tối cao, với quyền lực phổ biến trên toàn bộ lãnh thổ và đối với mọi công dân, cơ quan, tổ chức Điều này khẳng định sự độc lập và bình đẳng giữa các quốc gia.

Nhà nước ban hành pháp luật để quản lý mọi khía cạnh của đời sống xã hội, trong đó quy phạm pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc ghi nhận yêu cầu và mệnh lệnh của Nhà nước đối với các lĩnh vực hoạt động cụ thể Mục tiêu của quy phạm pháp luật là đảm bảo tính thực thi trong thực tế Quan hệ giữa Nhà nước và pháp luật là mối liên hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau và không thể tách rời.

Thứ năm, Nhà nước quy định và thu các loại thuế

Nhà nước quy định và thu các loại thuế để đảm bảo điều kiện vật chất cho bộ máy nhà nước, phục vụ cho sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng Thuế là nguồn thu quan trọng của Nhà nước, và chỉ có Nhà nước mới có quyền quy định và thu thuế.

BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG CỦA NHÀ NƯỚC

2.1 Bản chất của Nhà nước

Khi bàn về nguồn gốc của Nhà nước, các nhà tư tưởng cổ đại và tư sản thường không làm rõ bản chất của Nhà nước do hạn chế về nhận thức hoặc bị chi phối bởi lợi ích giai cấp Họ xem Nhà nước như một cơ quan điều hòa lợi ích giai cấp, mà không nhận ra rằng nó thực chất là công cụ thống trị giai cấp trong xã hội có giai cấp.

Nhà nước, theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin, là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa Sự ra đời và tồn tại của Nhà nước chỉ diễn ra trong xã hội có giai cấp, và nó luôn thể hiện tính giai cấp một cách sâu sắc.

Nhà nước là một hệ thống tổ chức quyền lực công trong xã hội có giai cấp đối kháng, thể hiện quyền lực công cộng của xã hội nhưng thực chất là công cụ của một giai cấp để trấn áp giai cấp khác Nó duy trì sự thống trị của giai cấp này đối với toàn thể xã hội và hoạt động như một bộ máy quyền lực chuyên chính của giai cấp thống trị.

5 V.I Lênin, Toàn tập, Tập 33, NXB Tiến bộ, Mátxcơva, 1976, tr.9

Tính giai cấp của Nhà nước được thể hiện qua vai trò của nó như một công cụ chuyên chính, phục vụ cho giai cấp thống trị trong việc tổ chức và thực hiện quyền lực chính trị Nhà nước biến ý chí của giai cấp thống trị thành ý chí chung, buộc các tầng lớp xã hội phải tuân theo.

Tính giai cấp là yếu tố cơ bản phản ánh bản chất của Nhà nước, nhưng bên cạnh đó, Nhà nước cũng thể hiện tính xã hội rõ rệt Là sản phẩm của xã hội có giai cấp, Nhà nước không chỉ bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền mà còn phải xem xét lợi ích chung của cộng đồng và các tầng lớp khác Sự tồn tại của giai cấp này là điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của giai cấp khác, do đó, Nhà nước không thể duy trì nếu thiếu sự hiện diện và tính ổn định của các giai cấp và tầng lớp dân cư khác trong xã hội.

Nhà nước, với vai trò là tổ chức quyền lực công, có trách nhiệm giải quyết các vấn đề xã hội nhằm phục vụ lợi ích chung, bao gồm việc xây dựng cơ sở hạ tầng phúc lợi như trường học, bệnh viện, công viên và đường sá Đồng thời, nhà nước cũng phải bảo vệ môi trường và phòng chống dịch bệnh Vai trò của nhà nước là rất quan trọng trong việc xử lý các vấn đề phát sinh, bảo vệ các giá trị chung và đảm bảo sự ổn định, trật tự trong xã hội.

Mức độ thể hiện và thực hiện tính xã hội ở các Nhà nước khác nhau và trong từng giai đoạn lịch sử không hoàn toàn giống nhau Tính xã hội của Nhà nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố như hoàn cảnh lịch sử, điều kiện phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bối cảnh quốc tế, và trình độ nhận thức của nhà cầm quyền Nhìn chung, tính xã hội của các Nhà nước ngày càng rõ ràng hơn cùng với sự phát triển của đời sống xã hội.

2.2 Chức năng của Nhà nước

Chức năng của Nhà nước là những mặt hoạt động chủ yếu của Nhà nước nhằm thực hiện những nhiệm vụ đặt ra cho Nhà nước

Nhiệm vụ của Nhà nước là những mục tiêu cần đạt được và vấn đề cần giải quyết trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể Những nhiệm vụ này phụ thuộc vào bản chất giai cấp, vai trò xã hội của Nhà nước và điều kiện lịch sử của mỗi quốc gia.

Chức năng của Nhà nước được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước, do đó cần phân biệt giữa chức năng tổng thể của Nhà nước và chức năng riêng biệt của từng cơ quan Chức năng của Nhà nước phản ánh các hoạt động chính của toàn bộ bộ máy nhà nước, trong khi chức năng của mỗi cơ quan nhà nước chỉ là những hoạt động cụ thể nhằm hỗ trợ thực hiện chức năng chung của Nhà nước.

Các chức năng của Nhà nước chịu ảnh hưởng từ cơ sở kinh tế và xã hội của nó Những chức năng này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo thành một thể thống nhất trong hoạt động của Nhà nước.

Chức năng của Nhà nước được chia thành hai loại chính: chức năng đối nội và chức năng đối ngoại Chức năng đối nội tập trung vào các hoạt động trong nước, bao gồm bảo đảm trật tự xã hội, trấn áp các phần tử chống đối và bảo vệ chế độ kinh tế Ngược lại, chức năng đối ngoại phản ánh vai trò của Nhà nước trong quan hệ với các quốc gia khác, bao gồm phòng thủ đất nước, chống xâm lược và thiết lập mối quan hệ quốc tế Hai chức năng này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau; thực hiện tốt chức năng đối nội sẽ hỗ trợ chức năng đối ngoại và kết quả của chức năng đối ngoại cũng ảnh hưởng đến chức năng đối nội.

Nhà nước có nhiều chức năng quan trọng, bao gồm chức năng kinh tế nhằm phát triển và quản lý nguồn lực, chức năng văn hóa để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc, chức năng bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, cùng với chức năng bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của công dân.

Tổ quốc; chức năng xác lập các mối quan hệ với các quốc gia, tổ chức quốc tế;

Chức năng của Nhà nước được thực hiện thông qua các hình thức như xây dựng, tổ chức và bảo vệ pháp luật Các phương pháp hoạt động của Nhà nước rất đa dạng, nhưng chủ yếu bao gồm hai phương pháp chính là thuyết phục và cưỡng chế.

HÌNH THỨC NHÀ NƯỚC VÀ CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ CỦA NHÀ NƯỚC

Hình thức nhà nước là phương thức tổ chức quyền lực của nhà nước, được phân tích qua hai khía cạnh chính: hình thức chính thể và hình thức cấu trúc.

Hình thức chính thể của Nhà nước là phương thức tổ chức và thiết lập các cơ quan cao nhất trong bộ máy nhà nước, cùng với mối quan hệ giữa các cơ quan này Có hai dạng chính của hình thức chính thể: chính thể quân chủ và chính thể cộng hòa.

Chính thể quân chủ là loại hình nhà nước mà quyền lực tối cao được tập trung hoàn toàn hoặc một phần vào tay một cá nhân, dựa trên nguyên tắc thừa kế.

Chính thể quân chủ được phân thành hai loại: quân chủ tuyệt đối và quân chủ tương đối Trong các quốc gia theo chế độ quân chủ tuyệt đối, người đứng đầu Nhà nước như vua hoặc hoàng đế nắm giữ quyền lực vô hạn Ngược lại, trong chế độ quân chủ tương đối, quyền lực tối cao không chỉ thuộc về người đứng đầu mà còn được chia sẻ với các cơ quan nhà nước khác.

Chính thể cộng hòa là hình thức nhà nước mà quyền lực tối cao thuộc về một cơ quan được bầu cử trong một khoảng thời gian xác định.

Chính thể cộng hòa có nhiều loại, trong đó hai loại chính là cộng hòa Đại nghị và cộng hòa Tổng thống Ngoài ra, còn tồn tại hình thức nhà nước kết hợp giữa hai loại này, được gọi là chính thể cộng hòa lưỡng tính.

Trong chính thể cộng hòa Đại nghị, Nghị viện đóng vai trò trung tâm trong việc thực thi quyền lực nhà nước, với khả năng bầu ra nguyên thủ quốc gia và thành lập Chính phủ từ các Đảng chính trị chiếm đa số ghế Chính phủ có trách nhiệm giải trình trước Nghị viện, và Nghị viện có quyền bỏ phiếu không tín nhiệm để yêu cầu Chính phủ thay đổi.

Trong chính thể cộng hòa Tổng thống, Tổng thống giữ vai trò quan trọng là nguyên thủ quốc gia và người đứng đầu Chính phủ Tổng thống được bầu bởi nhân dân và có quyền bổ nhiệm các thành viên Chính phủ, những người này phải chịu trách nhiệm trước Tổng thống Tuy nhiên, Tổng thống không có quyền giải tán Nghị viện trước thời hạn, và Nghị viện cũng không có quyền giải tán Chính phủ.

Chính thể cộng hòa lưỡng tính kết hợp đặc điểm của cả cộng hòa đại nghị và cộng hòa tổng thống, trong đó nghị viện đóng vai trò là cơ quan đại diện cao nhất cho ý chí và lợi ích của giai cấp cầm quyền cùng một số tầng lớp khác trong xã hội.

Trong các nhà nước đương đại, hình thức chính phủ có sự phân chia quyền lực rõ rệt Tổng thống, được bầu bởi cử tri, nắm giữ quyền hạn lớn, bao gồm quyền giải tán nghị viện của nền cộng hòa đại nghị và quyền tự thành lập chính phủ Chính phủ hoạt động dưới sự giám sát của cả nghị viện lẫn tổng thống, tạo nên một hệ thống quản lý phức tạp và hiệu quả.

Cấu trúc nhà nước là cách tổ chức các đơn vị hành chính – lãnh thổ, đồng thời xác định mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước trung ương và địa phương.

Có hai dạng hình thức cấu trúc nhà nước chủ yếu là Nhà nước đơn nhất và Nhà nước liên bang

Nhà nước đơn nhất có các đặc điểm sau 7 :

– Có một Hiến pháp duy nhất Các quy định của Hiến pháp được thi hành trên toàn lãnh thổ

– Có một hệ thống các cơ quan trung ương: Nguyên thủ quốc gia, Chính phủ, Nghị viện có thẩm quyền pháp lý trên toàn vẹn lãnh thổ đất nước

– Có một quốc tịch, không một lãnh thổ trực thuộc nào có quyền đặt ra một quốc tịch riêng

Hệ thống pháp luật yêu cầu các cơ quan nhà nước địa phương tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật do cơ quan trung ương ban hành Đồng thời, các cơ quan địa phương cũng có quyền ban hành văn bản pháp luật, nhưng phải đảm bảo sự phù hợp với các quy định của cấp trên.

7 Hình thức của các Nhà nước đương đại, NXB Thế giới, Hà Nội, 2004, tr.28

– Có một hệ thống toà án thực hiện hoạt động xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trên toàn lãnh thổ đất nước

– Lãnh thổ của Nhà nước đơn nhất được phân chia thành các đơn vị hành chính trực thuộc

Nhà nước liên bang là Nhà nước được hình thành từ nhiều Nhà nước thành viên có chủ quyền 8 Nhà nước liên bang có các đặc điểm sau:

– Lãnh thổ của Nhà nước liên bang được hình thành từ lãnh thổ của các Nhà nước thành viên tự nguyện liên hiệp thành

Khi trở thành thành viên của một Nhà nước liên bang, các Nhà nước này không còn giữ được chủ quyền đầy đủ, đặc biệt trong lĩnh vực đối ngoại, khi mà quyền chủ quyền của họ bị hạn chế Hơn nữa, các Nhà nước thành viên không có quyền tự ý rút lui khỏi liên bang.

Các Nhà nước thành viên có quyền thiết lập chính quyền riêng, bao gồm Hiến pháp và hệ thống pháp luật, cùng với các cơ quan nhà nước trực thuộc Tuy nhiên, Hiến pháp và pháp luật của các thành viên phải tuân thủ và không được mâu thuẫn với Hiến pháp và pháp luật liên bang.

3.2 Chế độ chính trị của Nhà nước

Chế độ chính trị bao gồm các phương pháp và cách thức mà Nhà nước, thông qua các cơ quan của mình, thực hiện quyền lực nhà nước.

8 Hình thức của các Nhà nước đương đại, NXB Thế giới, Hà Nội, 2004, tr.45; tr.50

Chế độ chính trị không thuộc nội hàm của khái niệm hình thức nhà nước nhưng có quan hệ mật thiết với hình thức nhà nước

CÁC KIỂU NHÀ NƯỚC

4.1 Khái niệm kiểu nhà nước

Kiểu nhà nước là khái niệm cơ bản trong khoa học lý luận về Nhà nước và pháp luật, giúp nhận thức một cách khoa học về bản chất, vai trò, cũng như điều kiện tồn tại và phát triển của Nhà nước qua các giai đoạn lịch sử khác nhau.

Nhà nước được định nghĩa là bộ máy thống trị của một giai cấp nhất định, tồn tại dựa trên nền tảng kinh tế cụ thể và tương ứng với hình thái kinh tế - xã hội nhất định.

Lý luận Mác-Lênin về Nhà nước và pháp luật định nghĩa "kiểu Nhà nước" là tổng thể các dấu hiệu cơ bản phản ánh bản chất giai cấp và giá trị xã hội Khái niệm này cũng thể hiện những điều kiện cần thiết cho sự hình thành, tồn tại và phát triển của Nhà nước trong một hình thái kinh tế – xã hội cụ thể.

Học thuyết Mác-Lênin về hình thái kinh tế – xã hội cung cấp cơ sở khoa học cho việc phân loại các kiểu Nhà nước trong lịch sử.

Lịch sử xã hội loài người đã trải qua ba hình thái kinh tế – xã hội chính, bao gồm chiếm hữu nô lệ, phong kiến và tư bản chủ nghĩa, mỗi hình thái này đều gắn liền với sự đối kháng giai cấp Tương ứng với ba hình thái này là ba kiểu Nhà nước: Nhà nước chủ nô, Nhà nước phong kiến và Nhà nước tư sản.

Nhà nước xã hội chủ nghĩa là một hình thức đặc biệt, được coi là "nửa Nhà nước", không hoàn toàn tuân theo nguyên nghĩa truyền thống của khái niệm Nhà nước.

Sự thay thế giữa các kiểu Nhà nước trong lịch sử là quy luật khách quan, gắn liền với sự phát triển và thay thế các hình thái kinh tế – xã hội Quy luật này diễn ra thông qua các cuộc cách mạng xã hội, khi giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất mới lật đổ giai cấp thống trị hiện tại để giành quyền lực Lịch sử đã chứng minh rằng kiểu Nhà nước mới luôn tiến bộ hơn kiểu Nhà nước cũ đã bị thay thế.

4.2 Các kiểu nhà nước trong lịch sử

4.2.1 Kiểu Nhà nước chủ nô

Nhà nước chủ nô là tổ chức chính trị đầu tiên trong lịch sử, đại diện cho giai cấp chủ nô nhằm thực hiện sự chuyên chính đối với nô lệ và tầng lớp dân tự do Cơ sở kinh tế của nó dựa vào quyền sở hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất, sản phẩm lao động và nô lệ Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, có hai giai cấp chính là chủ nô và nô lệ, cùng với tầng lớp thợ thủ công và lao động tự do khác Về bản chất, Nhà nước chủ nô là công cụ bạo lực để duy trì sự thống trị và bảo vệ lợi ích của chủ nô, đồng thời đàn áp nô lệ và những người lao động khác.

Nhà nước chủ nô có chức năng đối nội cơ bản là bảo vệ chế độ sở hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất, sản phẩm lao động và người nô lệ, đồng thời đàn áp sự phản kháng của nô lệ và các tầng lớp khác bằng bạo lực Ngoài ra, nhà nước còn củng cố hệ tư tưởng tôn giáo để thống trị tư tưởng trong xã hội Về chức năng đối ngoại, nhà nước chủ nô tiến hành chiến tranh xâm lược, đồng thời thực hiện phòng thủ đất nước chống lại các cuộc xâm lược từ bên ngoài và duy trì quan hệ ngoại giao, buôn bán với các quốc gia khác.

Nhà nước chủ nô có nhiều hình thức đa dạng, bao gồm cả chính thể quân chủ và chính thể cộng hòa Về cấu trúc, Nhà nước chủ nô thường xuất hiện dưới dạng Nhà nước đơn nhất.

Chế độ chính trị của các nước chủ nô thường sử dụng bạo lực và các biện pháp phản dân chủ để thực hiện quyền lực nhà nước Tuy nhiên, ở những quốc gia chủ nô có chính thể cộng hòa, các biện pháp dân chủ được áp dụng rộng rãi hơn trong việc thực thi quyền lực nhà nước.

4.2.2 Kiểu Nhà nước phong kiến

Sự sụp đổ của chế độ chiếm hữu nô lệ đã dẫn đến sự ra đời của chế độ phong kiến, đánh dấu sự diệt vong của Nhà nước chủ nô và sự xuất hiện của Nhà nước phong kiến Nhà nước phong kiến được hình thành nhằm mục đích thống trị giai cấp nông dân và những người lao động khác, phản ánh quyền lực của giai cấp địa chủ phong kiến.

Cơ sở kinh tế của Nhà nước phong kiến dựa vào quan hệ sản xuất phong kiến, trong đó địa chủ phong kiến chiếm hữu đất đai và tư liệu sản xuất, đồng thời chiếm đoạt một phần sức lao động của nông dân Trong xã hội phong kiến, cấu trúc giai cấp trở nên phức tạp với hai giai cấp chính là địa chủ và nông dân, cùng với các tầng lớp khác như thợ thủ công, tăng lữ và thương nhân Giai cấp địa chủ cũng được phân chia thành nhiều đẳng cấp với các đặc quyền khác nhau về sở hữu ruộng đất.

Nhà nước phong kiến đóng vai trò là công cụ của giai cấp địa chủ phong kiến, nhằm thực hiện chuyên chính đối với nông dân, thợ thủ công và các tầng lớp lao động khác Nó là phương tiện để duy trì địa vị kinh tế, bảo vệ lợi ích và sự thống trị của giai cấp địa chủ trong xã hội.

Nhà nước phong kiến bảo vệ chế độ sở hữu ruộng đất của địa chủ và duy trì các hình thức bóc lột đối với nông dân, đồng thời đàn áp sự phản kháng của quần chúng bằng bạo lực và hệ tư tưởng phong kiến Bên cạnh đó, Nhà nước cũng chú trọng đến quản lý kinh tế, duy trì sự ổn định và tạo điều kiện cho xã hội phát triển Trong một số trường hợp, Nhà nước phong kiến tham gia vào các hoạt động như xây dựng và bảo vệ đê điều, làm thủy lợi, khai hoang và di dân tới những vùng đất mới.

NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

5.1 Lịch sử hình thành, bản chất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Nhà nước Việt Nam, với vai trò là tổ chức quyền lực chính trị công, đã tồn tại hàng ngàn năm và đại diện cho toàn xã hội Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, kế thừa từ Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, được thành lập sau Cách mạng tháng Tám 1945 Ngay từ khi ra đời, Nhà nước này đã phải đối mặt với sự xâm lược của thực dân Pháp và cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ Đến tháng 4/1975, miền Nam được giải phóng, đánh dấu giai đoạn mới cho cả nước trong việc khôi phục và phát triển kinh tế Quá trình xây dựng và phát triển của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1945 đến nay có thể chia thành nhiều giai đoạn khác nhau.

– Giai đoạn 1945–1954: Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời và lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp;

Giai đoạn 1954–1975, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thực hiện hai nhiệm vụ cách mạng quan trọng: giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước, đồng thời xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.

– Giai đoạn 1975–1986: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong công cuộc khôi phục đất nước sau chiến tranh;

– Giai đoạn từ năm 1986 đến nay: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong quá trình xây dựng và đổi mới kinh tế, xã hội

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, với bản chất là một Nhà nước kiểu mới, được khẳng định qua Hiến pháp 2013 Theo đó, Nhà nước này là một pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do nhân dân, vì nhân dân, với quyền lực thuộc về nhân dân, dựa trên liên minh giữa giai cấp công nhân, nông dân và trí thức Nhà nước cam kết bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, trong khi Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo trong quản lý Nhà nước và xã hội.

Bản chất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thể hiện qua tính giai cấp và tính xã hội, đồng thời còn phản ánh tính dân tộc và tính nhân dân.

Tính giai cấp và tính xã hội của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thể hiện qua vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, với Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong Đảng Cộng sản là lực lượng dẫn dắt nhân dân trong cuộc Cách mạng giải phóng dân tộc, góp phần thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Tất cả tổ chức và hoạt động của Nhà nước đều dưới sự lãnh đạo của Đảng, với pháp luật thể hiện rõ tư tưởng và quan điểm của Đảng Liên minh giữa giai cấp công nhân, nông dân và trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng, tạo nên nền tảng vững chắc cho khối đại đoàn kết dân tộc, mà Đảng và Nhà nước luôn chăm lo và củng cố.

Hiến pháp 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định rõ ràng về chính sách xây dựng đội ngũ giai cấp công nhân, nông dân, trí thức và các tầng lớp khác trong xã hội Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát huy vai trò của họ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đặt mục tiêu ổn định và phát triển xã hội là ưu tiên hàng đầu Để đạt được điều này, nhiều vấn đề xã hội quan trọng được triển khai, bao gồm cung cấp dịch vụ công và đảm bảo an sinh xã hội.

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thể hiện bản chất dân tộc qua việc khẳng định sự thống nhất của các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam Hiến pháp 2013, Điều 5, nhấn mạnh chính sách bình đẳng, đoàn kết và tương trợ giữa các dân tộc, đồng thời nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị và chia rẽ Các dân tộc có quyền sử dụng tiếng nói, chữ viết và bảo tồn bản sắc văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp của mình.

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn nỗ lực hài hòa lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc, bảo vệ các giá trị truyền thống như đoàn kết và kiên cường Để củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, nhà nước đã xây dựng cơ sở pháp lý vững chắc, tạo điều kiện cho mọi dân tộc tham gia vào quyền lực nhà nước Đồng thời, nhà nước tôn trọng và bảo tồn các giá trị văn hóa, truyền thống của từng dân tộc, ưu tiên hỗ trợ các dân tộc ít người và vùng sâu, vùng xa, nhằm khuyến khích sự tương trợ và phát triển bền vững giữa các cộng đồng.

Tính nhân dân của Nhà nước Việt Nam được thể hiện qua việc nhân dân là chủ thể quyền lực nhà nước và là người giám sát các hoạt động của các cơ quan nhà nước Nhà nước Việt Nam, ra đời từ Cách mạng tháng Tám, là kết quả của sự lãnh đạo của Đảng và sự tham gia của nhân dân Quyền lực nhà nước thuộc về toàn thể nhân dân, và họ có thể lập ra các cơ quan đại diện quyền lực thông qua bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện do nhân dân bầu ra, thực hiện quyền lực nhà nước thay mặt cho nhân dân Các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước đều chịu trách nhiệm trước cơ quan quyền lực nhà nước Nhân dân không chỉ là chủ thể quyền lực mà còn là mục tiêu của quyền lực nhà nước, với pháp luật bảo đảm các quyền chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và tự do cá nhân Nhà nước cần thiết lập chế độ dân chủ trực tiếp để tạo điều kiện cho nhân dân tham gia vào công việc nhà nước, đồng thời lắng nghe ý kiến, giải quyết khiếu nại và bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân, tạo cơ hội cho họ đóng góp ý kiến xây dựng đất nước.

5.2 Chức năng của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Ở bất kỳ Nhà nước nào, chức năng của Nhà nước do bản chất của Nhà nước quyết định Tuỳ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh của từng quốc gia mà chức năng của các Nhà nước cũng có sự khác nhau về mức độ, phạm vi và phương pháp tổ chức thực hiện Thậm chí, ngay trong một quốc gia, ở những giai đoạn lịch sử khác nhau, các chức năng của Nhà nước cũng có những thay đổi nhất định và có sự khác nhau Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều chức năng Giống như các Nhà nước khác, nếu căn cứ vào phạm vi hoạt động, chức năng của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được chia thành chức năng đối nội và chức năng đối ngoại Nếu căn cứ vào nội dung, chức năng của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm: chức năng kinh tế; chức năng bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; chức năng bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; chức năng củng cố và tăng cường tình hữu nghị với các Nhà nước khác

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là công cụ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong việc cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới Đại diện cho ý chí và quyền lực của nhân dân, Nhà nước sở hữu các tư liệu sản xuất chủ yếu và quản lý các công cụ, phương tiện cần thiết Do đó, Nhà nước có khả năng tổ chức quản lý sản xuất, phát triển kinh tế và phân phối lưu thông trên toàn quốc Trong bối cảnh kinh tế thị trường hiện nay, chức năng kinh tế của Nhà nước được thể hiện qua nhiều nội dung quan trọng.

– Định hướng và chỉ đạo sự phát triển của nền kinh tế quốc dân;

– Tạo môi trường kinh tế và khuôn khổ pháp lý cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể;

– Phát huy mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường;

Điều tiết lợi ích giữa các tầng lớp dân cư và các thành phần kinh tế là cần thiết để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng nhanh, ổn định và bền vững, đồng thời đảm bảo công bằng xã hội.

– Đẩy mạnh sự phát triển của các hoạt động kinh tế đối ngoại

5.2.2 Chức năng bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

Bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội là yêu cầu thiết yếu của Nhà nước nhằm bảo vệ chính quyền và thành quả cách mạng, tạo điều kiện cho sự đổi mới trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế Để thực hiện chức năng này, Nhà nước cần tăng cường sức mạnh qua việc xây dựng các cơ quan bảo vệ pháp luật và lực lượng an ninh, đảm bảo sự trung thành với sự nghiệp cách mạng Đồng thời, cần đổi mới tổ chức, phương thức hoạt động và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Hơn nữa, phát huy sức mạnh tổng hợp của các thiết chế trong hệ thống chính trị và sức mạnh toàn dân là cần thiết để thực hiện tốt chức năng này.

Đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội là điều kiện tiên quyết cho hòa bình và ổn định, tạo nền tảng vững chắc cho việc thực hiện các chức năng khác Đồng thời, việc thực hiện hiệu quả các chức năng khác cũng góp phần tích cực vào việc duy trì an ninh và trật tự xã hội.

5.2.3 Chức năng bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

6.1 Nguồn gốc về Nhà nước pháp quyền

“Nhà nước pháp quyền” không phải là một kiểu Nhà nước

Nó là một học thuyết về phương pháp cai trị của Nhà nước

Trong lịch sử phát triển của Nhà nước, các nhà tư tưởng cổ đại và trung đại đã nhấn mạnh mối quan hệ giữa Nhà nước và pháp luật, cùng với vai trò và hiệu lực của pháp luật đối với vận mệnh của Nhà nước Tuy nhiên, Nhà nước pháp quyền chỉ thực sự hình thành trong một bối cảnh lịch sử nhất định, đặc biệt là trong thời kỳ chuẩn bị cho các cuộc cách mạng tư sản Các nhà tư tưởng thời kỳ này, dựa trên tư tưởng lịch sử và tình hình kinh tế – xã hội của các quốc gia phát triển phương Tây, đã phát triển các quan điểm lý luận có hệ thống về Nhà nước pháp quyền Mặc dù các quan điểm này có thể khác nhau tùy theo hoàn cảnh chính trị, kinh tế, văn hóa và truyền thống của mỗi quốc gia, nhưng chúng vẫn đại diện cho các hệ thống pháp lý lớn nhất tại châu Âu, nơi khởi nguồn của Học thuyết Nhà nước pháp quyền.

* Thứ nhất, Học thuyết Nhà nước pháp quyền (Rechtsstaat) của Đức

Học thuyết Rechtsstaat xuất hiện giữa thế kỷ XIX, trước khi Bismark thống nhất nước Đức vào năm 1871, nhằm đáp ứng nhu cầu của giai cấp tư sản đang tìm kiếm một Nhà nước mạnh mẽ để thống nhất đất nước, đồng thời tôn trọng tự do của các tầng lớp mới nổi Quan niệm này khẳng định rằng Nhà nước không thể tách rời khỏi pháp luật, và quyền lực của người đứng đầu (vua) chỉ có thể được thực thi thông qua các phương tiện pháp lý, đồng thời yêu cầu phải tôn trọng luật pháp Quyền lực nhà nước không phải là vô hạn mà phải được giới hạn bởi pháp luật.

Nhà nước pháp quyền (Rechtsstaat) khác biệt rõ rệt với Nhà nước cảnh sát (Polizeistaat), mặc dù Nhà nước cảnh sát đã cải thiện so với Nhà nước chuyên chế bằng cách công nhận và tôn trọng pháp luật Tuy nhiên, pháp luật trong Nhà nước cảnh sát chỉ là công cụ do chính quyền tạo ra và kiểm soát, nhằm buộc người dân tuân thủ mà không yêu cầu nhà cầm quyền phải tuân thủ Do đó, pháp luật tại đây chủ yếu phục vụ cho quyền lực của người cầm quyền và hỗ trợ cho các mục tiêu mà chính quyền đề ra.

Nhà nước pháp quyền (Rechtsstaat) vượt trội hơn Nhà nước cảnh sát, thể hiện sự cần thiết phải tuân thủ các quy tắc tổng quát trong mối quan hệ giữa Nhà nước và người dân Điều này đảm bảo rằng Nhà nước hành động theo những quy định đã được thiết lập từ trước, nhằm bảo vệ quyền lợi và đời sống riêng tư của công dân Nhà nước pháp quyền không chỉ là công cụ để thực thi quyền lực mà còn là ranh giới rõ ràng để hạn chế quyền lực của Nhà nước.

Trong Nhà nước pháp quyền, cơ quan hành chính nhà nước hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, được luật pháp tạo ra hành lang pháp lý và cũng bị ràng buộc bởi các quy định pháp luật Pháp luật thiết lập nguyên tắc tổng quát, trong khi hành chính nhà nước áp dụng những nguyên tắc này cho các trường hợp cụ thể Tóm lại, học thuyết Rechtsstaat nhấn mạnh rằng Nhà nước phải hành động theo pháp luật, bằng pháp luật và phải tuân thủ pháp luật.

* Thứ hai, Học thuyết Nhà nước pháp quyền (Etat de droit) của Pháp

Lý thuyết Etat de droit được du nhập từ Đức và đã có sự phát triển đáng kể tại Pháp sau cuộc cách mạng tư sản năm 1789, khi hệ thống pháp luật trước đó được cải cách và một thứ bậc pháp luật chặt chẽ được thiết lập.

Trên đỉnh cao tột cùng là “luật tự nhiên”, là những quyền tự nhiên, không thể chuyển nhượng và thiêng liêng của con người

Tiếp đến là Hiến pháp, sau đó là Luật do Nghị viện biểu quyết và tiếp đến là những văn bản của Chính phủ

Bộ máy hành chính theo pháp luật thực hiện quyền hành pháp trong các hoạt động của mình Hành chính không được can thiệp vào quyền lập pháp và hoạt động tư pháp, đồng thời không được làm gián đoạn việc áp dụng luật.

Thứ bậc trong hệ thống chính trị có vẻ rõ ràng nhưng thực tế lại tồn tại nhiều sơ hở Luật pháp thể hiện ý chí của toàn thể quốc dân, tuy nhiên, quốc dân không thể trực tiếp quyết định mà phải thông qua những người đại diện được bầu lên trong Nghị viện Mặc dù quyền lập pháp thuộc về Nghị viện, nhưng nếu Nghị viện ban hành luật vi hiến, người dân sẽ không được bảo vệ khi quyền lợi của họ bị xâm phạm bởi chính các luật này.

Lý thuyết Nhà nước pháp quyền (Etat de droit) được du nhập từ Đức nhằm hiện thực hóa tư tưởng của Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1791, nhấn mạnh rằng "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi" Điều này được ghi nhận trong Hiến pháp để đảm bảo rằng cơ quan lập pháp không vi phạm quyền lợi của công dân.

Nước Pháp đã thành lập một toà án đặc biệt – Tòa án Hiến pháp để xét xử các trường hợp vi phạm Hiến pháp

Tư tưởng cơ bản về Nhà nước pháp quyền nhấn mạnh việc hạn chế quyền lực của Nhà nước nhằm bảo vệ quyền lợi của người dân Nhà nước không được phép trở thành một thể chế toàn trị mà phải hành động theo đúng pháp luật, tôn trọng các văn bản quy định thẩm quyền và các nguyên tắc do cơ quan cấp trên cũng như chính mình ban hành Điều này tạo ra quyền lực thực sự cho người dân, cho phép họ yêu cầu các cơ quan nhà nước và hành chính tuân thủ pháp luật Pháp luật cũng quy định các chế tài áp dụng cho mọi vi phạm nguyên tắc này, bao gồm cả vi phạm từ phía chính quyền.

* Thứ ba, Học thuyết Nhà nước pháp quyền (Rule of law) của Anh

Với quan niệm của người Anh, Rule of Law bao gồm các nội dung chủ yếu:

(1) Pháp luật là cao nhất và mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật (giống như Etat de droit)

Pháp luật có những tính chất cơ bản quan trọng, bao gồm việc chỉ áp dụng cho tương lai mà không hồi tố, phải được công bố công khai, rõ ràng và minh bạch Ngoài ra, pháp luật cần có tính tiên liệu để dự báo các tình huống có thể xảy ra và phải tôn trọng quyền cũng như tự do của công dân.

Theo học thuyết Rule of Law thì:

Pháp luật là tối thượng và chống lại mọi hình thức quyền lực tùy tiện, đặc quyền và phân biệt đối xử trong chính quyền Người dân Anh chỉ bị cai trị bởi pháp luật, và mọi hình thức trừng phạt chỉ có thể dựa trên việc vi phạm pháp luật, không thể bị trừng phạt vì bất kỳ lý do nào khác.

– Mọi người dân đều bình đẳng trước pháp luật

Theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền, Nhà nước không chỉ đơn thuần là một cơ chế thực thi pháp luật, mà còn phải đảm bảo một xã hội công lý, đạo đức và văn minh, dựa trên các quyền tự nhiên Tất cả các chủ thể, bao gồm cả Nhà nước, đều phải tuân thủ pháp luật Mọi cá nhân có quyền sử dụng pháp luật để bảo vệ lợi ích của mình, nhưng không được xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

Tóm lại, qua nghiên cứu 3 học thuyết chính ở châu Âu cho thấy, Nhà nước pháp quyền bao gồm 3 chiều hướng, ba cấp bậc sau:

Nhà nước pháp quyền yêu cầu các nhà cầm quyền tuân thủ pháp luật, đảm bảo rằng trật tự pháp luật được tôn trọng Pháp luật phải được áp dụng công bằng cho tất cả mọi người, bao gồm cả công dân và quan chức, thông qua một cơ quan tư pháp độc lập.

Nhà nước pháp quyền là một hình thức quản lý nhà nước mà trong đó, Nhà nước phải tuân thủ pháp luật và không được ban hành các luật hay nguyên tắc pháp lý trái với các nguyên tắc cao hơn được Hiến pháp công nhận Ở cấp độ này, pháp luật được xem là có giá trị cao hơn Nhà nước, từ đó tạo ra giới hạn cho các hành động của Nhà nước.

14 A.V Dicey, Introduction to the study of the law of the constitution, London: Macmillan and Co., 1915

NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG CỦA PHÁP LUẬT 1 NGUỒN GỐC VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA PHÁP LUẬT

QUY PHẠM PHÁP LUẬT VÀ

HỆ THỐNG PHÁP LUẬT 1 KHÁT NIỆM VỀ HỆ THỐNG PHÁP LUẬT

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VÀ PHÁP CHẾ 1 THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

PHÁP LUẬT QUỐC TẾ 1 CÔNG PHÁP QUỐC TẾ

Ngày đăng: 01/08/2021, 20:48

w