TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế mạnh mẽ, các nền kinh tế chuyển đổi đã thu hút một lượng lớn ngoại tệ qua nhiều kênh khác nhau, tạo ra nguồn lực quan trọng cho sự phát triển Tuy nhiên, hiện tượng đô la hóa (ĐLH) đang trở thành thách thức lớn, gây khó khăn cho ngân hàng trung ương trong việc điều hòa cung ứng tiền và ảnh hưởng đến sự cân bằng thị trường ngoại hối ĐLH, mặc dù có tính tích cực trong mô hình kinh tế mở, có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng khi bị lạm dụng hoặc thiếu sự kiểm soát hiệu quả từ các cơ quan quản lý, gây ra rủi ro cho nền kinh tế - xã hội.
Việt Nam, giống như nhiều quốc gia đang phát triển khác, đã có một lịch sử dài sử dụng đồng đô la Mỹ song song với đồng tiền Việt Nam từ những năm 1960 Ở miền Nam, đô la Mỹ được sử dụng phổ biến, trong khi miền Bắc cấm ngoại tệ theo Nghị định 102/CP năm 1963 Sau năm 1975, sau khi đất nước thống nhất, nền kinh tế Việt Nam trải qua nhiều khó khăn, dẫn đến sự mất niềm tin vào giá trị của đồng VND và gia tăng tâm lý ưa chuộng vàng và ngoại tệ Tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ so với M2 được công bố vào năm 1991 đạt 41,2%, từ đó, vấn đề đô la hóa bắt đầu thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu như Dodsworth và cộng sự.
(1996 ) [65]; Nguyễn, Thị Hồng (2002, 2011) [109,11]; Hauskrecht và Nguyễn, Thanh Hải (2004) [79]; Michiael Goujon (2006) [105]; Watanabe Shinichi (2006,
Nhiều nghiên cứu từ năm 2007 đến 2009 đã phân tích tình trạng đô la hóa (ĐLH) tại Việt Nam, chủ yếu dựa trên lý thuyết ĐLH thông thường, bao gồm việc thay thế tài sản bằng ngoại tệ và tiền tệ trong các lĩnh vực khác nhau như hộ gia đình, doanh nghiệp và ngân hàng thương mại Các nghiên cứu này tìm cách hạn chế ĐLH ở mức độ chấp nhận được trong khi vẫn khai thác những ảnh hưởng tích cực của nó Tuy nhiên, thực tế cho thấy ĐLH vẫn tồn tại ở mức độ nhất định và có những diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến sự ổn định và tăng trưởng kinh tế trong quá trình hội nhập của Việt Nam.
Mặc dù có nhiều nghiên cứu về đô la hóa (ĐLH) ở Việt Nam và trên thế giới, tình trạng ĐLH vẫn diễn ra phức tạp, ảnh hưởng đến sự ổn định và tăng trưởng kinh tế trong quá trình hội nhập Hiện nay, chưa có phương thức giải quyết hiệu quả cho vấn đề này trong nền kinh tế Việt Nam Do đó, tác giả lựa chọn nghiên cứu với đề tài “Hạn chế tình trạng đô la hóa tại Việt Nam” cho luận án tiến sĩ.
TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN - 2 - 1.Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Đô la hóa (ĐLH) là một vấn đề quan trọng thu hút sự chú ý của nhiều nhà kinh tế, trong đó có nhiều nghiên cứu tập trung vào quá trình ĐLH nền kinh tế Việt Nam.
Nghiên cứu của Andreas Hauskrecht và Nguyễn Thanh Hải (2004) về "Đô la hóa ở Việt Nam" cho thấy tình trạng đô la hóa tại Việt Nam chủ yếu do hai nguyên nhân: thứ nhất là sự mất tín nhiệm của chính sách tiền tệ do lạm phát cao và tỷ giá hối đoái suy giảm, dẫn đến tăng rủi ro tài sản bằng tiền đồng; thứ hai là mức tiết kiệm bằng nội tệ thấp và ngắn hạn Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng đô la hóa đã làm tăng độ sâu tài chính của nền kinh tế (M2/GDP) Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ đánh giá tình trạng này trong giai đoạn từ 1988 đến 2003, khi Việt Nam chưa hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu.
- Nghiên cứu của Michiael Goujon (2006), “Chống lạm phát trong nền kinh tế bị ĐLH: trường hợp của Việt Nam”(Fighting inflation in a dollarizated economy:
Nghiên cứu về kinh tế Việt Nam giai đoạn 1991-1999 chỉ ra rằng để kiểm soát lạm phát, cần quản lý tỷ giá hối đoái và cung tiền M2 trong bối cảnh nền kinh tế bị ĐLH Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ tập trung vào mối quan hệ giữa lạm phát, biến động tỷ giá hối đoái và cung tiền M2, mà chưa xem xét ảnh hưởng của tình trạng ĐLH đối với lạm phát và tỷ giá hối đoái.
Nghiên cứu của Watanabe Shinichi (2006, 2007) về hiện tượng đô la hóa (ĐLH) tại Việt Nam và các nước trong khu vực như Campuchia và Lào đã chỉ ra rằng kiều hối là nguồn gốc chính của ĐLH, đồng thời nhấn mạnh vai trò quan trọng của kiều hối đối với thị trường ngoại hối Nghiên cứu cũng cho thấy rằng ở những quốc gia có thị trường tài chính không chính thức hoạt động hiệu quả, xu hướng ĐLH càng gia tăng Đặc biệt, nghiên cứu ghi nhận những cải cách tích cực của Chính phủ Việt Nam trong việc thực hiện pháp luật ngoại hối giai đoạn 1996-2005 Tuy nhiên, vẫn còn thiếu giải thích về lý do tại sao người dân tại ba nước này lại có xu hướng giữ ngoại tệ khi nhận được kiều hối.
Nghiên cứu của Jayant Menon (2007) chỉ ra rằng các nền kinh tế chuyển đổi ở Đông Nam Á như Campuchia, Lào và Việt Nam không nên áp dụng ĐLH chính thức do liên quan đến yếu tố chính trị, nhưng cũng không thể loại bỏ hoàn toàn ĐLH khỏi nền kinh tế Nghiên cứu phân tích sự thất bại của Chính phủ Lào trong việc áp đặt biện pháp hành chính để loại bỏ ĐLH vào tháng 6 năm 1997, đồng thời nhấn mạnh rằng ĐLH là “triệu chứng” của sự bất ổn kinh tế vĩ mô, bất ổn chính trị, hệ thống tài chính và tiền tệ kém phát triển, cũng như hệ thống pháp luật quản lý ngoại hối lỏng lẻo Để loại bỏ ĐLH, cần giải quyết những vấn đề này và ghi nhận thành công trong việc giảm tình trạng ĐLH của Việt Nam giai đoạn 1996-2005 Tuy nhiên, nghiên cứu diễn ra trước khi Việt Nam gia nhập WTO, khi độ mở cửa nền kinh tế còn hạn chế và chưa phản ánh đầy đủ mối quan hệ giữa ĐLH và các chỉ số kinh tế vĩ mô.
- Nghiên cứu của Patricia và Alicia (2008), “Đô la hóa và chống đô la hóa: hệ quả đối với chính sách tiền tệ” (To dollarize or de-dollarize: Consequences for
Nghiên cứu phân loại tình trạng ĐLH ở các quốc gia Châu Á, Châu Mỹ Latinh, Israel và Nga từ quý 4/1986 đến quý 3/2006 cho thấy rằng các nước có tình trạng ĐLH cao sẽ có phản ứng tích lũy của lạm phát do cú sốc tỷ giá lớn hơn Dữ liệu cũng được thu thập từ quý 1/1993 đến quý 3/2006 đối với Campuchia, Lào và Việt Nam Mặc dù nghiên cứu chỉ tập trung vào tác động giữa lạm phát và tỷ giá trong bối cảnh ĐLH cao, nhưng chưa làm rõ mối quan hệ giữa tình trạng ĐLH, lạm phát và tỷ giá.
- Nghiên cứu của Luis Carranza và cộng sự (2009), “Tỷ giá hối đối và lạm phát trong các nền kinh tế đô la hóa” (Exchange rate and Inflation Dynamics in
Nghiên cứu về các nền kinh tế đô la hóa (ĐLH) đã sử dụng dữ liệu từ 124 quốc gia, bao gồm Việt Nam, để phân tích cơ chế dẫn truyền của tỷ giá hối đoái Kết quả cho thấy, ở những quốc gia có mức độ ĐLH cao, tác động của biến động tỷ giá hối đoái đến lạm phát trở nên mạnh mẽ hơn Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ tập trung vào cơ chế dẫn truyền của tỷ giá trong các nền kinh tế bị ĐLH mà không xem xét mối liên hệ giữa tình trạng ĐLH và biến động tỷ giá.
Nghiên cứu về ĐLH (đô la hóa) đã chỉ ra nhiều yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tình trạng này Balino và cộng sự (1999) cho rằng ĐLH được xác định bởi tỷ suất lợi nhuận giữa tài sản bằng nội tệ và ngoại tệ Irfan Civcir (2003) nhấn mạnh rằng lãi suất và kỳ vọng tỷ giá là những biến chính trong việc xác định ĐLH tại Thổ Nhĩ Kỳ giai đoạn 1986–1999 Edwards (2001&2003) cung cấp bằng chứng cho thấy các nền kinh tế ĐLH chính thức có tỷ lệ lạm phát và tăng trưởng GDP thấp hơn, cùng với sự biến động lớn hơn về sản lượng đầu ra so với các nền kinh tế sử dụng nội tệ Nicolo và đồng sự (2003) cảnh báo rằng ĐLH tiền gửi và tiền vay có thể gây rủi ro cho hệ thống ngân hàng thương mại, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của hệ thống tài chính trong bối cảnh lạm phát cao Galindo - Leiderman (2005) chỉ ra rằng nợ công cao là nguyên nhân dẫn đến ĐLH, trong khi Calvo, Izquierdo và Mejia (2004) cho rằng ĐLH nợ phải trả là nguyên nhân chính gây khủng hoảng tài chính khi dòng vốn vào bị ngưng trệ Domac và Martiner Peria (2003) tìm thấy mối liên hệ giữa ĐLH và bất ổn tài chính, và Reinhart cùng các đồng sự (2003) chứng minh rằng ĐLH có thể kiềm chế lạm phát nhưng cũng gây ra mất cân đối tiền tệ ở các nước đang phát triển Arteta (2002) cho rằng ĐLH tiền gửi ít gây hại hơn so với ĐLH tiền vay Edurado Levy Yeyati (2003) khuyến nghị rằng để hạn chế ĐLH, cần không khuyến khích sử dụng đồng USD và tăng cường sức hấp dẫn của đồng nội tệ Cuối cùng, Neanidis và Savva (2009) đã nghiên cứu 11 nền kinh tế chuyển tiếp ở Trung và Đông Âu, cung cấp thêm dữ liệu về hiện tượng này.
Nghiên cứu tại Ukraina cho thấy rằng tiền gửi và cho vay ngoại tệ chịu ảnh hưởng bởi chênh lệch lãi suất giữa nội tệ và ngoại tệ Các nghiên cứu trước đây, như của Kamin và Ericsson (2003) cho Argentina, Clements và Schwartz (1993) cho Bolivia, và Mueller (1994) cho Lebanon, cũng chỉ ra rằng nhu cầu nắm giữ ngoại tệ tăng cao trong bối cảnh lạm phát kéo dài.
1.2.2.Tình hình nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng (2002) về "ĐLH tài sản nợ và tài sản có tài chính của hộ gia đình, doanh nghiệp và các ngân hàng ở Việt Nam" đã sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp để hệ thống hóa bức tranh ĐLH ở Việt Nam trong giai đoạn 1991-2001 Nghiên cứu chỉ ra rằng hội nhập thương mại và tài chính quốc tế cùng với sự phối hợp không hiệu quả giữa chính sách tỷ giá và lãi suất là những nguyên nhân chính Tuy nhiên, giai đoạn nghiên cứu đã lâu và Việt Nam chưa gia nhập WTO cũng như chưa bị ảnh hưởng mạnh từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Đề án “Nâng cao tính chuyển đổi của đồng tiền Việt Nam, khắc phục tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế” được ban hành theo Quyết định số 98/2007/QĐ, nhằm cải thiện khả năng chuyển đổi của đồng Việt Nam và giảm thiểu sự phụ thuộc vào đô la Mỹ trong các giao dịch kinh tế.
Vào ngày 04 tháng 7 năm 2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành một đề án phân tích tính chuyển đổi của VND và đánh giá tình trạng đô la hóa (ĐLH) trong nền kinh tế Đề án này đã đưa ra lộ trình và giải pháp nhằm khắc phục tình trạng ĐLH, tuy nhiên, các giải pháp này chủ yếu mang tính chất tạm thời cho giai đoạn 2007-2010 Điều đáng lưu ý là những giải pháp không xuất phát từ việc phân tích mối quan hệ giữa tình trạng ĐLH và các biến số kinh tế vĩ mô, dẫn đến việc chưa đề xuất được giải pháp mang tính dài hạn hơn.
Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thanh Bình (2009) mang tên “Các giải pháp thúc đẩy tiến trình phi đô la hóa ở Việt Nam” đã phân tích lý luận về quá trình phi đô la hóa (ĐLH), đánh giá thực trạng và tác động của ĐLH đối với nền kinh tế Việt Nam Bài luận cũng tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến tình trạng ĐLH trong khu vực dân cư, doanh nghiệp và hệ thống ngân hàng thương mại, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy tiến trình phi ĐLH tại Việt Nam dựa trên chuỗi dữ liệu từ năm.
Từ năm 1992 đến 2007, nghiên cứu đã sử dụng tần suất hàng năm để phân tích mối quan hệ giữa môi trường kinh tế và tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ trên M2 Cụ thể, ba phương trình hồi quy được thiết lập: (i) lạm phát năm trước và môi trường kinh tế bất ổn ảnh hưởng đến tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ/M2 năm sau; (ii) lãi suất huy động VND tăng làm giảm mức độ đầu tư của khu vực dân cư, trong khi môi trường kinh tế bất ổn lại gia tăng mức độ đầu tư này; (iii) ngược lại, doanh nghiệp sẽ giảm mức độ đầu tư khi môi trường kinh tế bất ổn và có xu hướng nắm giữ ngoại tệ trong bối cảnh lạm phát cao Tuy nhiên, các giả định cho việc chọn biến giải thích còn hạn chế, vì tình trạng đầu tư không chỉ phụ thuộc vào lạm phát và môi trường kinh tế bất ổn, mà còn bị ảnh hưởng bởi biến động tỷ giá hối đoái, lợi tức từ đồng tiền và nhu cầu nhập khẩu của doanh nghiệp Giai đoạn nghiên cứu được xác định đến năm 2007.
2007 là giai đoạn nền kinh tế Việt Nam mới gia nhập WTO, chưa chịu nhiều ảnh hưởng từ nền kinh tế thế giới [10]
Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Anh Tuấn (2009) mang tên “Hiện tượng đô la hóa và tác động của nó đến nền kinh tế Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế” đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để phân tích lý luận về đô la hóa (ĐLH), thực trạng và nguyên nhân của ĐLH tài sản, tiền tệ và hệ thống ngân hàng thương mại Luận án cũng đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế ĐLH tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, giống như luận án của Nguyễn Thanh Bình, nghiên cứu này chỉ dừng lại ở năm 2007, thời điểm Việt Nam mới gia nhập WTO và chưa bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.
MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu này là phân tích tình trạng đô thị hóa (ĐLH) trong nền kinh tế Việt Nam, đồng thời xác định mối tương quan giữa ĐLH và các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô Từ những phân tích này, nghiên cứu sẽ đề xuất một số chính sách nhằm hạn chế tình trạng ĐLH tại Việt Nam.
+ Nghiên cứu tình trạng ĐLH: phân tích thực trạng ĐLH, xác định nguyên nhân cũng tác động của tình trạng ĐLH đến nền kinh tế giai đoạn từ 1992 đến 2017
Mối tương quan giữa tình trạng đô la hóa (ĐLH) và các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, dự trữ ngoại hối, tỷ giá, lạm phát và lãi suất là rất quan trọng Việc hiểu rõ mối quan hệ này giúp đánh giá tác động của ĐLH đối với nền kinh tế, từ đó đưa ra các chính sách phù hợp nhằm ổn định và phát triển kinh tế bền vững.
+ Đề xuất các giải pháp hạn chế tình trạng ĐLH trong nền kinh tế Việt Nam
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu Để đạt được các mục tiêu nêu trên, câu hỏi đặt ra khi nghiên cứu luận án:
Đô thị hóa (ĐLH) ở Việt Nam trải qua nhiều giai đoạn, bắt đầu từ những năm 1986 với chính sách Đổi mới, dẫn đến sự gia tăng dân số tại các thành phố lớn Nguyên nhân chính của tình trạng ĐLH này bao gồm sự chuyển dịch lao động từ nông thôn ra thành phố, tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và sự phát triển hạ tầng ĐLH ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế Việt Nam, tạo ra cơ hội việc làm nhưng cũng gây áp lực lên hạ tầng và môi trường Chính phủ đã áp dụng nhiều biện pháp nhằm khắc phục tình trạng ĐLH, bao gồm quy hoạch đô thị bền vững, phát triển giao thông công cộng và nâng cao chất lượng sống cho cư dân đô thị.
Câu hỏi 2: Liệu có mối liên hệ giữa tình trạng ĐLH và các biến số kinh tế vĩ mô như lạm phát, tỷ giá, lãi suất, và dự trữ ngoại hối? Nếu có, thì chiều hướng và mức độ tác động của các yếu tố này ra sao?
Câu hỏi 3: Giải pháp nào để hạn chế tình trạng ĐLH nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh hội nhập?
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này tập trung vào thực trạng ĐLH, nguyên nhân gây ra tình trạng này, và mối tương quan giữa ĐLH với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô Tình trạng ĐLH được đánh giá qua các tiêu chí như ĐLH tiền gửi, ĐLH tiền vay, ĐLH tiền mặt và ĐLH định giá, niêm yết Luận án đặc biệt chú trọng đến ĐLH tiền gửi, được tính bằng tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ trên tổng tiền gửi, và ĐLH tiền vay, tính bằng tỷ lệ cho vay ngoại tệ trên tổng cho vay Các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô được xem xét bao gồm lạm phát, tỷ giá, lãi suất, tăng trưởng GDP, dự trữ ngoại hối và giá trị xuất nhập khẩu.
Tiền gửi và cho vay ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong tổng tiền gửi và cho vay của cá nhân và doanh nghiệp Việc quản lý và sử dụng ngoại tệ hiệu quả giúp tăng cường tính thanh khoản và hỗ trợ hoạt động kinh doanh quốc tế.
Nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn từ năm 1992 đến 2017, dựa trên dữ liệu thống kê về tiền gửi và cho vay bằng ngoại tệ từ trang web của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và các Báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước, chỉ được công bố trong khoảng thời gian này Đồng thời, trong giai đoạn này, Việt Nam đã chính thức mở cửa nền kinh tế và bắt đầu đối mặt với những tác động của tình trạng đô la hóa.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu, luận án áp dụng phương pháp tiếp cận hệ thống và phương pháp luận duy vật biện chứng Trong khuôn khổ này, các phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp, phân tích so sánh và diễn dịch được sử dụng liên tục để giải thích các vấn đề nghiên cứu.
Luận án áp dụng phương pháp định lượng hồi quy mô hình hiệu chỉnh sai số dạng véctơ (VECM) thông qua phần mềm Eviews 8.0 nhằm giải quyết câu hỏi nghiên cứu số 2.
NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN
Luận án có những điểm mới như sau:
Luận án này hệ thống hóa các lý luận về ĐLH và đánh giá tình trạng ĐLH trong nền kinh tế Việt Nam từ 1992 đến 2017 Nó xác định nguyên nhân của tình trạng ĐLH và phân tích những thành công cũng như hạn chế của các biện pháp khắc phục mà Chính phủ đã triển khai trong thời gian nghiên cứu.
PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH LƯỢNG PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH TÍNH
Các giải pháp khắc phục tình trạng ĐLH đã được Chính phủ sử dụng
Mối quan hệ giữa tình trạng ĐLH tiền gởi và các chỉ số tiền tệ
Mối quan hệ giữa tình trạng ĐLH tiền vay với tăng trưởng kinh tế và xuất khẩu
GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ
Trong giai đoạn nghiên cứu, luận án đã chỉ ra rằng tình trạng ĐLH tiền gởi chịu ảnh hưởng từ các biến số vĩ mô dưới tác động của chính sách trần lãi suất huy động Cụ thể, dự trữ ngoại hối và lãi suất huy động nội tệ có tác động tiêu cực đến tình trạng này, trong khi lợi nhuận thị trường song song, lãi suất huy động ngoại tệ, tỷ giá và lạm phát lại có tác động tích cực Đặc biệt, chính sách 2 trần lãi suất huy động, với trần lãi suất huy động USD bằng 0%, đã chứng tỏ hiệu quả rõ rệt trong việc giảm tình trạng ĐLH tiền gởi khi nền kinh tế vĩ mô ổn định.
Trong giai đoạn nghiên cứu, luận án đã kiểm định mối quan hệ giữa tình trạng ĐLH tiền vay với tăng trưởng kinh tế và xuất khẩu Kết quả cho thấy tình trạng ĐLH tiền vay có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, nhưng lại có tác động tích cực đến xuất khẩu trong ngắn hạn Bên cạnh đó, tình trạng ĐLH tiền vay cũng ảnh hưởng tích cực đến tình trạng ĐLH tiền gửi và chênh lệch chi phí phải trả khi vay VND so với vay USD.
KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tình trạng đô la hóa
Chương 3: Tình trạng đô la hóa tại Việt Nam giai đoạn 1992-2017
Chương 4: Bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa tình trạng đô la hóa với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô
Chương 5: Kết luận và giải pháp hạn chế tình trạng đô la hóa tại Việt Nam
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA
TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA TRONG NỀN KINH TẾ
2.1.1 Lý luận chung về đô la hóa và tình trạng đô la hóa
Mỗi quốc gia đều có lịch sử và điều kiện kinh tế - xã hội - chính trị riêng, dẫn đến việc phát hành đồng tiền riêng nhằm quản lý lưu thông tiền tệ trong nước Tuy nhiên, với xu hướng toàn cầu hóa mạnh mẽ và sự gia tăng giao lưu thương mại, hiện tượng các quốc gia sử dụng đồng tiền của nước khác ngày càng phổ biến, đặc biệt ở các nền kinh tế đang chuyển đổi, được gọi là đô la hóa (dollarization).
Đô la hoá (ĐLH) đã xuất hiện ở nhiều quốc gia từ lâu trước khi thu hút sự chú ý toàn cầu Mặc dù thuật ngữ "ĐLH" được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu, vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về hiện tượng này.
Theo Hausmann và cộng sự (2001), ĐLH đề cập đến hiện tượng cá nhân sở hữu và sử dụng tài sản cùng với khoản nợ được định giá bằng bất kỳ ngoại tệ nào, không chỉ riêng đô la.
Theo Fischer (1982) định nghĩa rằng đô la hóa xảy ra khi một quốc gia chuyển từ việc sử dụng đồng nội tệ sang đồng ngoại tệ để thực hiện các chức năng như cất trữ, đơn vị tính toán và thanh toán.
McKinnon (2004) phân tích rất kỹ: “ĐLH là việc đồng ngoại tệ chiếm lĩnh các chức năng sau của đồng nội tệ:
- Phương tiện trao đổi: Khi đồng đôla được lưu hành song song với đồng nội tệ dưới dạng tiền mặt và các khoản tiền gửi
- Cất trữ giá trị: Khi những tài sản cá nhân và nhà nước dưới dạng ngoại tệ thay thế các tài sản bằng nội tệ
- Đơn vị tính toán: Khi lương và những hợp đồng nội địa ngắn hạn được tính toán trực tiếp hoặc gián tiếp gắn với tỷ giá đôla
Tiêu chuẩn cho các khoản thanh toán kỳ hạn bao gồm các khoản vay nước ngoài ngắn hạn như tín dụng thương mại và vay liên ngân hàng, cũng như việc phát hành trái phiếu chính phủ cho người nước ngoài bằng ngoại tệ Tại Việt Nam, các nhà hoạch định chính sách đồng quan điểm rằng khi ngoại tệ được sử dụng rộng rãi để thay thế một hoặc nhiều chức năng của nội tệ, nền kinh tế đó được coi là bị đô la hóa.
Trong các khái niệm về ĐLH, thuật ngữ này không chỉ đề cập đến USD mà còn bao gồm bất kỳ ngoại tệ nào thay thế chức năng của nội tệ, được gọi là ngoại tệ hóa USD hiện nay là đồng tiền phổ biến nhất trong các hoạt động thương mại và tài chính toàn cầu, dẫn đến việc thuật ngữ "đô la hóa" trở nên phổ biến Tính đến năm 2017, USD vẫn chiếm ưu thế với 62,7% trong dự trữ và thanh toán toàn cầu.
Trong nền kinh tế Việt Nam, bên cạnh việc ưa chuộng các ngoại tệ mạnh như USD và EUR, một bộ phận dân cư vẫn cất trữ và giao dịch bằng vàng, một loại tiền tệ “cổ điển” Trước đây, người dân thường thanh toán bằng vàng khi mua bán tài sản giá trị như đất đai và nhà cửa, hiện tượng này được gọi là “vàng hóa” Mặc dù “vàng hóa” gây khó khăn cho việc điều hành nền kinh tế của Chính phủ, nhưng nó khác với hiện tượng đô la hóa (ĐLH) ở chỗ vàng không nằm trong tổng phương tiện thanh toán (M2) mà chỉ được coi là tài sản tài chính có tính thanh khoản cao Do đó, trong nghiên cứu về tác động của ĐLH, tác giả không đề cập đến “vàng hóa”.
Hình 2.1: Tỷ lệ dự trữ các đồng tiền trên thế giới
Nguồn: International Financial Statistics, IMF
Từ những phân tích trên, theo tác giả, khái niệm về ĐLH có thể được hiểu như sau:
ĐLH, hay hiện tượng dollar hóa, xảy ra khi một đồng tiền của quốc gia này được sử dụng trong nền kinh tế của quốc gia khác, bất chấp sự chấp nhận của chính phủ nước đó Điều này có nghĩa là người dân có thể sử dụng đồng tiền không do chính phủ của họ phát hành Để hiểu rõ hơn về ĐLH, bài viết sẽ trình bày một số khái niệm liên quan đến hiện tượng này.
Đồng tiền ĐLH, hay còn gọi là đồng tiền của một quốc gia được sử dụng như nội tệ ở quốc gia khác, thường là những đồng tiền mạnh với tính chuyển đổi cao Những đồng tiền này đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế Hiện nay, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đánh giá mức độ sử dụng các đồng tiền ĐLH dựa trên tỷ lệ của chúng trong dự trữ ngoại hối (DTNH) của các quốc gia.
Đồng tiền bị ĐLH là loại tiền tệ của một quốc gia nhưng đang dần bị các ngoại tệ thay thế trong các chức năng tiền tệ tại quốc gia đó Những đồng tiền này thường có giá trị không ổn định và chủ yếu chỉ lưu hành trong phạm vi lãnh thổ quốc gia Thông thường, đồng tiền bị ĐLH xuất hiện ở các nước có nền kinh tế đang phát triển.
Quốc gia phát hành đồng tiền ĐLH là những nước sử dụng đồng tiền của mình để tiến hành hoạt động ĐLH nền kinh tế tại các quốc gia khác Những quốc gia này thường là các cường quốc với vị thế và ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế toàn cầu.
Quốc gia bị ĐLH là quốc gia mà đồng tiền nội địa bị các đồng tiền khác lấn át, làm giảm dần các chức năng tiền tệ của nó Trước đây, hiện tượng này thường xảy ra ở các quốc gia đang phát triển với mức tăng trưởng thấp và lạm phát cao Tuy nhiên, ngày nay, ngay cả những quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và lạm phát ổn định cũng chủ động thực hiện ĐLH nền kinh tế của mình.
Phân loại đô la hóa
Căn cứ vào tính hợp pháp của ngoại tệ
Theo Berg & Borensztein (2000) [49]; Baliủo (2003) [44]; Gulde et al (2004)
Đồng tiền hóa (ĐLH) được chia thành ba loại chính: ĐLH chính thức, ĐLH không chính thức và ĐLH bán chính thức, là hình thái trung gian giữa hai loại này.
ĐLH chính thức hay ĐLH toàn phần là việc sử dụng ngoại tệ bởi người cư trú để thực hiện chức năng tiền tệ, được pháp luật công nhận Trong trường hợp này, tài sản, giá cả hàng hóa, dịch vụ, và tiền lương đều được thanh toán bằng ngoại tệ, trong khi nội tệ chỉ đóng vai trò thứ yếu, thường là tiền xu hoặc mệnh giá nhỏ để thuận tiện cho giao dịch hàng ngày Thông thường, các quốc gia áp dụng ĐLH chính thức sau khi không thành công trong các chương trình ổn định kinh tế, và thường chỉ chọn một ngoại tệ làm đồng tiền hợp pháp.
ĐLH không chính thức hay ĐLH từng phần đề cập đến việc sử dụng ngoại tệ bởi người dân trong một quốc gia để thực hiện chức năng của tiền tệ, mặc dù không được công nhận là đồng tiền hợp pháp Một số quốc gia cho phép nắm giữ ngoại tệ dưới dạng tài khoản tiền gửi ngoại tệ tại các ngân hàng trong nước hoặc ngân hàng nước ngoài Trong nền kinh tế có ĐLH không chính thức, người dân thường nắm giữ ngoại tệ qua các hình thức như trái phiếu ngoại tệ, tài sản phi tiền tệ ở nước ngoài, tiền gửi ngoại tệ tại ngân hàng trong nước, tiền gửi ở nước ngoài và ngoại tệ tiền mặt.
HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA NỀN KINH TẾ
Hạn chế tình trạng đô la hóa nền kinh tế là nhiệm vụ quan trọng của Chính phủ, trong đó cần kết hợp các chính sách kinh tế vĩ mô và biện pháp vi mô nhằm nâng cao sức hấp dẫn của nội tệ so với ngoại tệ.
Hạn chế ĐLH thành công cần một chiến lược lâu dài với hệ thống chính sách vĩ mô và biện pháp vi mô hợp lý theo từng đối tượng và giai đoạn cụ thể Để đạt được điều này, cần đảm bảo mức giá cả ổn định, tạo kỳ vọng mạnh mẽ về giá trị nội tệ, giảm thiểu vai trò của ngoại tệ như đơn vị dự trữ, và xóa bỏ vai trò của ngoại tệ trong giao dịch và tính toán trên thị trường.
2.2.2 Chính sách và biện pháp hạn chế tình trạng đô la hóa
Việc kết hợp các chính sách kinh tế vĩ mô và biện pháp vi mô để hạn chế tình trạng ĐLH là mối quan tâm hàng đầu của Chính phủ các nước Nhiều nhà nghiên cứu, như Ize & Yeyati (1998, 2006), Herrera & Rodrigo (2004), và Arias (2005), đã thảo luận về cách xây dựng chính sách hạn chế ĐLH thành công Họ đồng thuận rằng không có khung chính sách thống nhất nào, mà cần tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế - chính trị và tình trạng ĐLH của từng quốc gia để áp dụng những chính sách phù hợp Các nghiên cứu cho thấy rằng việc hạn chế ĐLH thành công đòi hỏi sự kết hợp của nhiều chính sách và biện pháp khác nhau.
(i) Ổn định kinh tế vĩ mô: trọng tâm là giảm và giữ ổn định tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (lạm phát) một cách vững chắc
(ii) Sử dụng các công cụ thị trường: xây dựng và điều hành các công cụ của
CSTT hiệu quả và linh hoạt, đặc biệt trong việc điều chỉnh tỷ giá và lãi suất, đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển thị trường tài chính trong nước Đồng thời, việc tăng cường quản lý nợ công là cần thiết để đảm bảo sự bền vững của ngân sách nhà nước Chính sách quản lý ngoại hối cũng cần được thực hiện một cách hiệu quả và chặt chẽ để hỗ trợ nền kinh tế.
(iii) Sử dụng các công cụ hành chính bắt buộc:
Việc áp dụng các quy định hành chính bắt buộc là cần thiết khi công cụ thị trường không đủ hiệu quả để thay đổi nhận thức của các chủ thể kinh tế, đòi hỏi sự can thiệp mạnh mẽ từ Chính phủ Mặc dù một số công cụ hành chính có thể đạt được kết quả mong đợi, nhưng vẫn tồn tại nhiều công cụ thường xuyên không thành công.
Các công cụ đạt được kết quả mong đợi bao gồm: quy định thời gian nắm giữ ngoại tệ kết hợp với việc giới thiệu các công cụ tiền tệ trong nước được lập chỉ mục; bắt buộc sử dụng nội tệ trong giao dịch, niêm yết và định giá hàng hóa nội địa, cấm sử dụng ngoại tệ trong các giao dịch nội địa; và các quy định phân biệt đối xử với ngoại tệ, như giới hạn cho vay ngoại tệ (bao gồm hạn chế đối tượng và mục đích), áp dụng lãi suất trần và không bảo hiểm đối với tiền gửi ngoại tệ.
Các công cụ thường xuyên thất bại trong quản lý ngoại tệ bao gồm: (1) yêu cầu chuyển đổi tiền gửi ngoại tệ sang nội tệ; (2) cấm người gửi tiền rút ngoại tệ từ tài khoản ngân hàng; và (3) đóng băng tài khoản tiền gửi ngoại tệ để kiểm soát lạm phát hoặc chuyển đổi sang nội tệ.
Các chính sách hạn chế đầu tư nước ngoài (ĐLH) có thể mang lại cả thành công lẫn hậu quả không lường trước Do đó, trước khi triển khai các biện pháp này, Chính phủ các nước cần xem xét kỹ lưỡng để bảo vệ các lợi ích mà ĐLH mang lại và đồng thời lựa chọn các giải pháp hiệu quả nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực của ĐLH.
KINH NGHIỆM GIẢI QUYẾT TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
2.3.1 Thực tiễn đô la hóa ở một số nước trên thế giới
2.3.1.1 Các nước đô la hóa chính thức
Theo đánh giá của IMF, hiện có hơn 20 quốc gia trên thế giới đang trải qua tình trạng ĐLH rất cao, trong đó 7 quốc gia thực hiện ĐLH chính thức, bao gồm Đông Timor, Ecuador, El Salvador, Quần đảo Marshall, Micronesia, Palau và Panama Panama là quốc gia đầu tiên áp dụng ĐLH chính thức từ năm 1904, và sau hơn một thế kỷ, người dân đã quen với việc sử dụng đồng USD và không có ngân hàng trung ương Các chuyên gia kinh tế nhận định rằng ĐLH ở Panama đã góp phần tích cực vào sự ổn định vĩ mô và phát triển kinh tế, nhờ vào việc khai thác tốt lợi thế địa lý từ xuất khẩu dịch vụ trên Kênh đào, đóng góp hơn 70% GDP của đất nước Ecuador và El Salvador cũng mới quyết định thực hiện ĐLH chính thức, và quyết định này đã tác động đến nền kinh tế của mỗi quốc gia.
Nguyên nhân quyết định ĐLH
Ecuador, một quốc gia đang phát triển tại Mỹ Latinh, có nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp và xuất khẩu các sản phẩm như chuối, cacao, cà phê và tôm Từ những năm 1970, sự phát hiện các mỏ dầu đã biến dầu thô thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực, mang lại nguồn lợi cho Chính phủ để đầu tư vào cơ sở hạ tầng và phúc lợi xã hội Tuy nhiên, vào đầu thập niên 80, giá dầu giảm mạnh đã khiến nền kinh tế Ecuador suy thoái, với lạm phát cao và nợ công gia tăng Tình hình trở nên tồi tệ hơn do thiên tai, chiến tranh biên giới với Peru và ảnh hưởng nghiêm trọng của hiện tượng El Nino năm 1997-1998, dẫn đến siêu lạm phát và sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng khi người dân chuyển sang sử dụng các đồng tiền ổn định hơn.
Vào đầu năm 2000, Chính phủ Ecuador đã phải thực hiện kế hoạch ĐLH toàn phần mặc dù trước đó kế hoạch này bị phản đối mạnh mẽ, dẫn đến việc Tổng thống Mahuad từ chức Bước đầu tiên trong kế hoạch là đổi đồng Sucre sang USD với tỷ giá 25.000 Sucre đổi 1 USD, và chính phủ chỉ đúc các đồng xu tương đương với các mệnh giá 1/100, 1/20, 1/10, 1/4, 1/2 USD Đến cuối năm 2000, đồng Sucre đã hoàn toàn biến mất khỏi lưu thông.
Hình 2.3: Các chỉ số kinh tế của Ecuador trước và sau khi ĐLH chính thức ĐLH chính thức
GDP Lạm phát Thất nghiệp
Nguồn: World Economic Outlock Databases, IMF [142]
Tình hình kinh tế vĩ mô trước và sau ĐLH
ĐLH đã giúp Ecuador thoát khỏi khủng hoảng, cải thiện lạm phát và đạt mức tăng trưởng khả quan, với tỷ lệ thất nghiệp giảm 1/3 so với trước khi thực hiện ĐLH, đạt mức thấp nhất trong lịch sử Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế vẫn chủ yếu dựa vào xuất khẩu dầu thô và phụ thuộc vào giá dầu, khiến nền kinh tế dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài Mặc dù tỷ lệ thất nghiệp giảm, việc làm vẫn khó kiếm, chi phí sinh hoạt cao, lãi suất lớn và tín dụng hạn chế, gây khó khăn trong việc thu hút đầu tư từ cả trong và ngoài nước.
Được và mất từ việc ĐLH
Lợi ích lớn nhất của nền kinh tế Ecuador sau khi ĐLH hoàn toàn là kiềm chế lạm phát, từ đó tạo ra sự ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng Môi trường tài chính ổn định cùng với chi tiêu xã hội cao hơn đã giúp giảm nghèo và cải thiện các chỉ số xã hội Tuy nhiên, thành công này cũng phần nào nhờ vào sự may mắn từ việc giá dầu liên tục tăng cao trong những năm qua, tạo ra khoản thu nhập khổng lồ hỗ trợ cho ngân sách quốc gia.
Việc từ bỏ đồng nội tệ đã khiến Chính phủ Ecuador mất quyền kiểm soát các vấn đề tiền tệ, dẫn đến sự phụ thuộc hoàn toàn vào quyết định của FED, mà không đảm bảo lợi ích cho đất nước Hơn nữa, sự thiếu vắng chính sách tài chính sẽ hạn chế khả năng ứng phó với rủi ro tài chính từ bên ngoài, đồng thời làm giảm đáng kể lợi thế cạnh tranh của hàng hóa Ecuador so với các quốc gia khác trên thế giới.
Một vấn đề quan trọng mà ĐLH không thể giải quyết là những thách thức cốt lõi của nền kinh tế, bao gồm cơ sở hạ tầng kém phát triển, gánh nặng nợ nần, tình hình chính trị bất ổn và tình trạng tham nhũng nghiêm trọng.
Nguyên nhân quyết định ĐLH
El Salvador, nằm ở châu Mỹ Latinh, đã có quyết định ĐLH hoàn toàn khác biệt so với Ecuador, phản ánh xu hướng mới trong chính sách kinh tế toàn cầu Sau cuộc nội chiến kéo dài, nền kinh tế El Salvador đã bắt đầu hồi phục và phát triển ổn định từ khi ký hiệp định hòa bình năm 1992 Vào cuối tháng 11 năm 2000, nghị viện El Salvador đã thông qua luật ĐLH toàn phần, chính thức chuyển đổi sang sử dụng đồng đô la Mỹ từ ngày 01/01/2001, với tất cả các máy đếm tiền tự động được lập trình để phát ra đô la Mỹ và mọi tài khoản ngân hàng đều chuyển sang đồng tiền này.
Quyết định dollar hóa (ĐLH) tại El Salvador không xuất phát từ khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng như ở Ecuador, mà là do Chính phủ El Salvador chủ động cố định đồng Colon với đồng USD từ năm 1993, vì nền kinh tế nước này phụ thuộc lớn vào Mỹ Ngân hàng Trung ương El Salvador đã ngừng in đồng Colon, và Chính phủ tin rằng ĐLH sẽ mang lại lợi ích cho nền kinh tế.
El Salvador đặt ra bốn mục tiêu chính: thứ nhất, loại bỏ nguy cơ mất giá và bảo vệ giá trị của tiền gửi tiết kiệm cũng như lương hưu; thứ hai, giảm lãi suất và tăng cường cạnh tranh trong lĩnh vực tài chính; thứ ba, khuyến khích đầu tư tư nhân; và thứ tư, giảm thiểu sự thiếu tín nhiệm tiền tệ thông qua việc từ bỏ chính sách tiền tệ độc lập.
Hình 2.4: Các chỉ số kinh tế của El Salvador trước và sau khi ĐLH chính thức Đ L H c hí nh th ức
GDP Lạm phát Thất nghiệp
Nguồn: World Economic Outlock Databases, IMF [142]
Tình hình kinh tế vĩ mô trước và sau ĐLH
Sau khi công bố ĐLH, El Salvador đối diện với nhiều thách thức, bao gồm hai trận động đất mạnh, giá cà phê giảm, giá dầu tăng và suy thoái kinh tế Mỹ Những yếu tố này đã cản trở chính phủ trong việc thu lợi từ ĐLH nền kinh tế.
Được và mất từ việc ĐLH
Trái ngược với Ecuador, nền kinh tế El Salvador trước khi quyết định ĐLH tương đối ổn định và có lạm phát thấp Sau khi thực hiện ĐLH, tăng trưởng kinh tế của El Salvador mặc dù không cao nhưng vẫn duy trì sự ổn định, bất chấp nhiều khó khăn Kiều hối từ Mỹ tiếp tục tăng trưởng, và xuất khẩu sang Mỹ vẫn giữ được sự ổn định Tuy nhiên, mặc dù việc ĐLH đã giúp giảm chi phí giao dịch và cải thiện tích hợp thương mại với Mỹ, nhưng cho đến nay, El Salvador vẫn chưa đạt được nhiều lợi ích từ mục tiêu ĐLH, và các chuyên gia nhận định rằng quốc gia này có thể đã mất nhiều hơn được từ quyết định này.
2.3.1.2 Các nước đô la hóa bán chính thức
Bối cảnh kinh tế quốc tế
Campuchia, quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương và là láng giềng của Việt Nam, đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế - xã hội gần đây, nhưng vẫn gặp khó khăn do tình trạng dollar hóa (ĐLH) cao nhất khu vực Đông Nam Á, với hơn 80% tiền gửi bằng ngoại tệ Nguyên nhân chính của tình trạng này là sự mất niềm tin vào đồng Riel, xuất phát từ hệ thống tiền tệ kém phát triển, bất ổn chính trị, và quản lý kinh tế yếu kém Nền kinh tế Campuchia đã bị tàn phá nặng nề sau những năm 70, tiếp tục chịu ảnh hưởng từ sự quản lý kém trong những năm 80, cũng như lượng lớn USD đổ vào trong nước trong giai đoạn UNTAC và tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997-1998.
Kể từ khi chế độ diệt chủng Pol Pot kết thúc vào năm 1992, nền kinh tế Campuchia đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ Dù toàn cầu trải qua khủng hoảng tài chính vào năm 2009, GDP của Campuchia vẫn đạt 0.09% Đến cuối năm 2017, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp 2.96% Tuy nhiên, việc quản lý kinh tế vẫn còn nhiều vấn đề, trong đó nổi bật là tình trạng đô la hóa (ĐLH) đã làm cho hệ thống tiền tệ trong nước gặp khó khăn.
Hình 2.5: Tăng trưởng, lạm phát và tình trạng ĐLH nền kinh tế Campuchia
Nguồn: Ngân hàng trung ương Campuchia [144]
Các công cụ sử dụng để hạn chế tình trạng ĐLH
Tại Campuchia, đồng Riel ít được sử dụng, trong khi USD, Baht và VND trở thành lựa chọn phổ biến, với USD được ưa chuộng nhất trong các giao dịch thương mại Tình trạng USD thay thế Riel trong các chức năng tiền tệ đã tồn tại từ lâu và vẫn tiếp tục gia tăng Mặc dù Campuchia đã trải qua nhiều cải cách kinh tế và có mức tăng trưởng ấn tượng, quốc gia này vẫn đối mặt với nhiều vấn đề như nghèo đói, chênh lệch giàu nghèo lớn, bất ổn chính trị và tham nhũng Đặc biệt, tỷ lệ đô la hóa cao đã làm suy yếu hệ thống ngân hàng và tiền tệ Chính phủ Campuchia đang phải đối mặt với thách thức trong việc duy trì và phát triển đồng Riel thông qua một hệ thống ngân hàng độc lập và khung pháp lý chặt chẽ.
ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ TÁC ĐỘNG ĐẾN TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA TẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Giai đoạn 1992 – 2017 chứng kiến sự hội nhập sâu rộng của Việt Nam vào nền kinh tế toàn cầu, nhưng cũng trải qua nhiều thách thức do hai cuộc khủng hoảng tài chính lớn Những biến động này đã tạo ra cơ hội phát triển cho nền kinh tế, đồng thời làm nổi bật tình trạng ĐLH Luận án sẽ phân tích các đặc điểm của nền kinh tế mở và tác động của chúng đến tình trạng ĐLH tại Việt Nam.
Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, Việt Nam không thể tách rời khỏi sự phát triển kinh tế thế giới Hệ thống tài chính và thị trường tài chính của Việt Nam còn non trẻ và dễ bị tổn thương trước các cú sốc kinh tế nội và ngoại Điều này dẫn đến những bất ổn vĩ mô như lạm phát cao, biến động mạnh tỷ giá, nợ công gia tăng và thâm hụt ngân sách kéo dài, tất cả đều ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế Niềm tin vào giá trị và sự ổn định của đồng VND cũng đang rất mong manh.
Để khôi phục niềm tin của người dân vào VND, cần phải duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, thay thế thói quen sử dụng vàng và ngoại tệ trong thanh toán và cất trữ.
Mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế và tình trạng ĐLH được thể hiện rõ qua hình 3.1 Trước khủng hoảng tài chính khu vực Châu Á, nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng mạnh với mức trung bình 8,89%/năm, trong khi tình trạng ĐLH giảm nhanh từ 40,64% năm 1992 xuống còn 30,83% năm 1996 Tuy nhiên, giai đoạn 1997 - 2001, do ảnh hưởng của khủng hoảng, GDP bình quân giảm xuống khoảng 6%/năm, trong khi tình trạng ĐLH lại tăng mạnh.
32,14% năm 1997 lên 40,63% năm 2001 Giai đoạn 2000 – 2006, GDP hồi phục và tăng trưởng ổn định, bình quân trên 7%/năm, tình trạng ĐLH giảm còn 23,93% năm
Từ năm 2007-2008, khi GDP giảm do khủng hoảng, ĐLH lại tăng lên Ngược lại, trong giai đoạn 2009-2010, khi GDP tăng, ĐLH lại giảm Từ năm 2011-2013, mặc dù GDP giảm, ĐLH vẫn tiếp tục giảm do lãi suất huy động VND tăng cao do chính sách tiền tệ thắt chặt của Ngân hàng Nhà nước Trong giai đoạn 2014-2017, GDP tăng từ 5,98% năm 2014 lên 6,81% năm 2017, trong khi ĐLH giảm từ 12,26% xuống còn 9,56%.
Có một mối quan hệ ngược chiều giữa tốc độ tăng trưởng GDP và tình trạng thất nghiệp Khi GDP ổn định và tăng trưởng, tỷ lệ thất nghiệp thường giảm Ngược lại, khi GDP giảm, tỷ lệ thất nghiệp có xu hướng tăng lên.
Hình 3.1: Tăng trưởng GDP và tình trạng ĐLH giai đoạn 1992-2017
GDP (cột trái) FCD/TD (cột phải)
Hội nhập thương mại giúp gỡ bỏ rào cản, mở rộng giao lưu hàng hóa và dịch vụ giữa Việt Nam và các quốc gia khác, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho các nước đang phát triển Độ mở thương mại lớn sẽ gia tăng nhu cầu ngoại tệ cho xuất nhập khẩu Tuy nhiên, sự gia tăng kim ngạch xuất khẩu cũng kéo theo nhập khẩu tăng, đặc biệt là máy móc và nguyên vật liệu Nếu không kiểm soát tốt hoạt động thương mại, tình trạng nhập siêu sẽ trở nên nghiêm trọng, gây áp lực lên tỷ giá và khan hiếm ngoại tệ Điều này tạo cơ hội cho đầu cơ và tích trữ ngoại tệ, trong khi khả năng can thiệp của Ngân hàng Nhà nước còn hạn chế, dẫn đến tình trạng đô la hóa gia tăng.
Khi Việt Nam mở cửa theo các hiệp định với Mỹ, ASEAN và WTO, kim ngạch xuất khẩu đã tăng đáng kể, góp phần quan trọng vào tăng trưởng GDP Năm 1986, tổng kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 789 triệu USD và có mặt tại 33 quốc gia, nhưng đến cuối năm 2017, con số này đã vượt 227 tỷ USD với sự hiện diện tại 220 quốc gia và vùng lãnh thổ trên hầu hết các châu lục Các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam bao gồm Hoa Kỳ, EU, ASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc.
Hoạt động nhập khẩu hàng hóa đang gia tăng mạnh mẽ, với máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu chiếm hơn 80% tổng kim ngạch nhập khẩu Hàng tiêu dùng chỉ chiếm khoảng 10%, trong khi các mặt hàng khác chiếm phần còn lại Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu nhiều hơn so với khu vực trong nước, góp phần đáp ứng nhu cầu nguyên vật liệu cho sản xuất hàng xuất khẩu và nhu cầu hàng hóa trong nước.
Từ năm 2012, Việt Nam đã chuyển từ vị thế nước nhập siêu sang xuất siêu, nhờ vào sự cải thiện của CCTM Hình 3.2 cho thấy rằng, trong giai đoạn 1992-2008, tình trạng ĐLH và CCTM có xu hướng tăng, giảm cùng chiều, trong khi giai đoạn 2009-2017 lại cho thấy xu hướng ngược chiều giữa hai yếu tố này.
Hình 3.2: Cán cân thương mại và tình trạng ĐLH giai đoạn 1992-2017
Nguồn: IMF, World Economic Outlook Database, April 2018
Việt Nam đang tiến hành hội nhập tài chính mạnh mẽ cùng với việc mở cửa thương mại, thông qua các hiệp định song phương và đa phương, giúp loại bỏ rào cản và cho phép luồng vốn tự do vào ra nền kinh tế Nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư, bao gồm chính trị ổn định, nguồn nhân lực dồi dào và chi phí lao động cạnh tranh, cùng với cải cách thủ tục hành chính, đã làm tăng tiềm năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài từ các nguồn như FDI, FPI, ODA và kiều hối Nghiên cứu chỉ ra rằng nếu dòng vốn được quản lý tốt, sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định tỷ giá và nâng cao tính chuyển đổi của VND, từ đó nâng cao vị thế của đồng tiền này Ngược lại, thiếu chính sách quản lý hiệu quả có thể dẫn đến tình trạng đô la hóa gia tăng và giảm sút vị thế của VND.
Hình 3.3: Dòng vốn nước ngoài vào Việt Nam giai đoạn 1992 – 2017
FDI (Net) FPI ODA Kiều hối
Nguồn: Tổng cục thống kê, World Bank, IMF, SBV
USD vẫn là đồng tiền chiếm ưu thế trong dự trữ và thanh toán quốc tế, nổi bật với tính mạnh mẽ và ổn định, không gặp rủi ro về thanh khoản hay biến động giá lớn Điều này khiến USD trở thành yếu tố quan trọng trong các hoạt động kinh tế toàn cầu Để duy trì sự cân bằng cung cầu ngoại tệ, dự trữ ngoại hối của các quốc gia cần đủ mạnh để can thiệp khi thị trường tiền tệ biến động; ngược lại, nếu dự trữ yếu, sẽ dẫn đến xu hướng găm giữ và đầu cơ ngoại tệ.
Trước kia, Việt Nam bị bao vây cấm vận kinh tế và ngoại giao, dẫn đến hoạt động thương mại quốc tế kém phát triển và DTNH thấp Tuy nhiên, từ năm 2006, sự bùng nổ thị trường chứng khoán cùng với việc gia nhập WTO đã thu hút mạnh mẽ các luồng tài chính quốc tế như FDI, FPI, kiều hối và ODA, góp phần làm tăng trưởng đáng kể cho quỹ DTNH.
Hình 3.4: Dự trữ ngoại hối và tình trạng ĐLH giai đoạn 1992-2017
Dự trữ ngoại hối (cột trái) %
Đến cuối năm 2017, dự trữ ngoại tệ (DTNT) đạt 48,69 tỷ USD, tạo ra một mức bảo vệ vững chắc cho giá trị đồng nội tệ và hạn chế biến động tỷ giá hối đoái Sự ổn định này không chỉ đáp ứng nhu cầu ngoại tệ của nền kinh tế mà còn giúp quốc gia chống đỡ trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế và tài chính Đồng thời, DTNT cũng đảm bảo khả năng thanh toán nghĩa vụ nợ nước ngoài, củng cố niềm tin của công chúng vào sự ổn định của kinh tế vĩ mô và giá trị đồng VND Hình 3.4 cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa DTNT và tình trạng đòn bẩy tài chính (ĐLH).
THỰC TRẠNG ĐÔ LA HÓA TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
Trước khi mở cửa, nền kinh tế Việt Nam có quy mô nhỏ, khả năng cạnh tranh hàng hóa và dịch vụ thấp, và hệ thống ngân hàng còn sơ khai Giai đoạn 1985-1986, VND suy yếu mạnh do chính sách giá - lương - tiền thất bại, lạm phát lên tới ba con số và giá vàng tăng liên tục Mặc dù bị cấm, người dân vẫn mua vàng và ngoại tệ để tích trữ và sử dụng làm phương tiện thanh toán Tuy nhiên, tình trạng đầu tư lách luật không đáng kể do độ mở của nền kinh tế còn hạn chế.
Từ khi Nghị định 161-HĐBT được ban hành vào năm 1988, ĐLH đã xuất hiện tại Việt Nam trong bối cảnh kinh tế hỗn loạn Sự sụp đổ của các nước Đông Âu và Liên Xô cũ dẫn đến mất nguồn “nhập siêu”, buộc doanh nghiệp phải thiết lập quan hệ ngoại thương bằng USD, khiến đồng tiền này trở nên khan hiếm Tình trạng tích cực vơ vét USD từ cá nhân, doanh nghiệp và ngân hàng thương mại đã đẩy tỷ giá USD/VND tăng liên tục, kéo theo lạm phát tăng nhanh và bất thường, đặc biệt vào cuối quý hoặc cuối năm Ngoại tệ khan hiếm không được sử dụng cho xuất khẩu mà bị buôn bán lòng vòng giữa các cá nhân, tổ chức trong nước, tạo ra một bối cảnh rất phức tạp trước năm 1992.
Kể từ năm 1992, Việt Nam đã chính thức mở cửa và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu, đồng thời bắt đầu đối diện với thách thức của "căn bệnh" ĐLH trong nền kinh tế.
3.2.1 Đô la hóa tiền gởi
Tình trạng đô la hóa tiền gửi trong hệ thống ngân hàng được đo bằng chỉ số DDI (Deposit Dollarization Index), phản ánh tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ so với tổng tiền gửi.
Giai đoạn 1992-1996, mặc dù tỷ lệ ĐLH tiền gửi vẫn ở mức cao, nhưng có xu hướng giảm từ 40,64% xuống 30,83% Sự giảm này diễn ra trong bối cảnh kinh tế vĩ mô ổn định với mức tăng trưởng trung bình 8,5%/năm, lạm phát được kiểm soát và giảm xuống còn 9,1% vào năm 1996 Tỷ giá ổn định và lãi suất thực chuyển từ âm sang dương nhờ vào cơ chế điều hành có lợi cho VND Thêm vào đó, Quyết định 396/QĐ-TTg ngày 4/8/1994 yêu cầu các doanh nghiệp có doanh thu ngoại tệ chỉ được giữ lại trên tài khoản ngoại tệ phục vụ nhập khẩu trong một quý, góp phần vào sự thay đổi này.
Hình 3.5: Tình trạng ĐLH tiền gởi giai đoạn 1992-2017
Tổng tiền gởi (phải) Tiền gởi ngoại tệ (phải) DDI (trái)
Giai đoạn 1997-2001, tình trạng ĐLH tiền gởi tại Việt Nam tăng nhanh từ 32,1% lên 40,63%, chịu ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng tài chính khu vực Châu Á Lạm phát bắt đầu gia tăng từ giữa năm 1997, đạt đỉnh vào năm 1998-1999, rồi chuyển sang giảm phát trong năm 2000-2001 Mặc dù lạm phát ở Việt Nam không cao như các nước Đông Nam Á khác, nhưng nền kinh tế vẫn bị ảnh hưởng lớn từ sự biến động lạm phát, dẫn đến tăng trưởng kinh tế suy giảm mạnh Trong năm 1998, tiền đồng mất giá với tổng mức phá giá lên tới 16,3% do NHNN thực hiện hai lần Lãi suất huy động VND giảm mạnh, chỉ còn 3,6% vào quý 1/2000, thấp hơn lãi suất USD trong thời gian dài Làn sóng chuyển đổi tài sản từ VND sang USD diễn ra mạnh mẽ, và NHNN áp dụng chính sách kết hối với tỷ lệ cao nhất 80% vào năm 1998 Mặc dù tiền gởi ngoại tệ giảm, nhưng khi tỷ lệ kết hối giảm, tiền gởi ngoại tệ lại tăng lên, cho thấy mệnh lệnh hành chính không đạt kết quả như mong đợi và gây sức ép cho doanh nghiệp.
Giai đoạn 2002-2007, chỉ số DDI giảm mạnh từ 37,07% xuống 21,04%, mặc dù nền kinh tế đã vượt qua thời kỳ giảm phát và lạm phát được kiểm soát hợp lý Năm 2004, lạm phát tăng do thiên tai và dịch bệnh, kéo theo sự gia tăng của DDI Một lý do khác cho sự sụt giảm tiền gửi là NHNN chỉ điều chỉnh biên độ tỷ giá một lần từ ±0,25% (2002-2006) lên ±0,5% (2007) và duy trì tỷ giá biến động không quá 1%, trong khi lãi suất huy động VND tăng lên, tạo điều kiện thuận lợi cho người gửi.
Giai đoạn 2008-2011, DDI biến động không theo xu hướng rõ ràng, bắt đầu từ năm 2008 khi khủng hoảng tài chính toàn cầu và lạm phát cao khiến DDI tăng lên 22,31% Năm 2009, dù lạm phát giảm nhưng tỷ giá biến động mạnh làm DDI chỉ giảm nhẹ xuống 20,63% Nửa đầu năm 2010, DDI giảm do lạm phát thấp và dòng vốn ngoại tăng, nhưng nửa cuối năm, DDI lại tăng lên do lạm phát tăng 10,8% và sự phá giá VND Đầu năm 2011, DDI tiếp tục tăng do lạm phát và sự phá giá mạnh của VND, nhưng đến cuối năm, DDI giảm khi lạm phát tăng chậm, tỷ giá ổn định và LSHĐ VND tăng cao.
Từ năm 2012 đến 2017, tình trạng ĐLH tiền gửi giảm mạnh và duy trì ở mức thấp do tăng trưởng kinh tế cao, lạm phát giảm, và tỷ giá ổn định Lãi suất có lợi cho VND nhờ chính sách của NHNN hạ trần LSHĐ USD xuống 0% từ đầu năm 2016 Tuy nhiên, có những thời điểm DDI tăng lên liên quan đến lạm phát, tỷ giá và lãi suất.
Tình trạng ĐLH tiền gửi tại Việt Nam biến động theo sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô Trong các giai đoạn kinh tế ổn định (1992 – 1996; 2002 – 2007), ĐLH tiền gửi có xu hướng giảm, trong khi trong các giai đoạn suy thoái hoặc chịu ảnh hưởng từ khủng hoảng toàn cầu (1997-2001; 2008-2011; 2013), ĐLH tiền gửi lại tăng cao Đến cuối năm 2017, tỷ lệ ĐLH tiền gửi ở Việt Nam chỉ đạt 9,4%, cho thấy tình hình tài chính vẫn còn nhiều thách thức.
3.2.2 Đô la hóa tiền vay
Tình trạng ĐLH tiền vay được xác định qua tỷ lệ giữa số dư cho vay bằng ngoại tệ so với tổng dư nợ của ngân hàng thương mại, được ký hiệu là LDI (Loans Dollarization Index).
Tăng trưởng tín dụng ngoại tệ thường song hành với huy động ngoại tệ, do các ngân hàng thương mại cần áp dụng chính sách tín dụng hợp lý để đảm bảo an toàn thanh khoản, hạn chế rủi ro về tỷ giá, đồng thời vẫn đạt được lợi nhuận.
Hình 3.6: Huy động và cho vay ngoại tệ giai đoạn 1992-2017
FCD (cột trái) FCL (cột trái) FCL/FCD (cột phải)
Tín dụng ngoại tệ đã tăng trưởng mạnh mẽ từ năm 1992 đến 1996, với mức tăng gần gấp 5 lần từ 3,97 nghìn tỷ đồng lên 18,56 nghìn tỷ đồng, cho thấy khả năng hấp thụ vốn ngoại tệ của nền kinh tế rất tốt và sự phát triển của hoạt động xuất nhập khẩu Nguyên nhân chính cho sự tăng trưởng này là tỷ giá ổn định và rủi ro tỷ giá thấp Tuy nhiên, sự tăng trưởng nhanh chóng của tín dụng ngoại tệ so với tiền gửi bằng ngoại tệ đã tiềm ẩn nhiều rủi ro cho hệ thống ngân hàng, với tỷ lệ FCL/FCD đạt khoảng 157% vào năm 1994.
Từ năm 1997 đến 2001, tiền gửi bằng ngoại tệ đã vượt xa tín dụng ngoại tệ, dẫn đến tỷ lệ tín dụng trên huy động bằng ngoại tệ giảm mạnh, đạt mức thấp nhất vào năm đó.
Từ năm 2001, tỷ lệ tín dụng ngoại tệ đạt 41,2%, và từ 2002 đến 2012, các ngân hàng thương mại (NHTM) mở rộng tín dụng ngoại tệ nhanh chóng, đặc biệt là khối NHTM tư nhân Điều này diễn ra trong bối cảnh Việt Nam gặp phải tình trạng nhập siêu lớn và các NHTM cần giải phóng nguồn ngoại tệ bị ứ đọng Từ năm 2013 đến nay, số dư cho vay ngoại tệ biến động không theo xu hướng nhất định, với sự giảm trong năm 2013, tăng trong năm 2014, giảm tiếp năm 2015, và tăng trở lại trong hai năm 2016 và 2017.
Hình 3.7: Tình trạng ĐLH tiền vay giai đoạn 1992-2017
Tổng cho vay (cột trái) Cho vay bằng VND (cột trái) Cho vay bằng ngoại tệ (cột trái) LDI (cột phải)
NGUYÊN NHÂN TÌNH TRẠNG ĐÔ LA HÓA TẠI VIỆT NAM
Đến cuối năm 2017, Việt Nam đã thoát khỏi tình trạng ĐLH cao, tuy nhiên diễn biến vẫn phức tạp với sự tăng giảm không ổn định, gây ra xáo trộn và ảnh hưởng mạnh đến tỷ giá hối đoái cũng như thị trường ngân hàng Các nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng ĐLH này bao gồm nhiều yếu tố khác nhau.
3.3.1 Tỷ lệ lạm phát cao và diễn biến phức tạp
Lạm phát có mối quan hệ chặt chẽ với tình trạng đô la hóa (ĐLH) trong nền kinh tế Tỷ lệ lạm phát cao và biến động không ổn định khiến cho giá trị VND giảm sút, sức mua của đồng tiền này giảm, và người dân mất niềm tin vào nội tệ, dẫn đến việc chuyển sang nắm giữ ngoại tệ Thực tế kinh tế và số liệu thống kê cho thấy sự liên quan giữa tình trạng ĐLH tiền gửi và tỷ lệ lạm phát.
Từ năm 1992 đến 1996, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, bao gồm việc kiểm soát tỷ giá và kiềm chế lạm phát ở mức một con số, đảm bảo sự ổn định vĩ mô Đồng thời, tăng trưởng GDP bình quân đạt 8,5% mỗi năm, tạo điều kiện cho đồng VND trở nên hấp dẫn hơn, dẫn đến tình trạng gửi tiền giảm đáng kể trong giai đoạn này.
Cuộc khủng hoảng tài chính khu vực Châu Á đã dẫn đến sự gia tăng lạm phát từ giữa năm 1997, đạt đỉnh cao vào năm 1998-1999, trước khi chuyển sang giảm phát trong giai đoạn 2000-2001 Mặc dù lạm phát ở Việt Nam không cao như một số nước Đông Nam Á, nhưng sự biến động từ lạm phát sang giảm phát, cùng với sự suy giảm mạnh của tăng trưởng kinh tế và sự mất giá liên tục của tiền đồng, đã tạo ra làn sóng chuyển đổi tài sản từ VND sang ngoại tệ mạnh mẽ.
Kể từ năm 2002, nền kinh tế đã phục hồi sau giai đoạn giảm phát, với lạm phát được kiểm soát ở mức hợp lý và tỷ lệ ĐLH tiền gửi giảm mạnh Tuy nhiên, vào năm 2004, lạm phát gia tăng do thiên tai và dịch bệnh, dẫn đến tỷ lệ ĐLH tiền gửi cũng tăng theo.
Từ cuối năm 2007, lạm phát tại Việt Nam đã trở lại với mức hai con số, với giá cả hàng hóa tăng mạnh trong năm 2008, cùng với tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, dẫn đến bất ổn vĩ mô nghiêm trọng Người dân lo ngại về tài sản của mình đã chuyển sang cất trữ bằng ngoại tệ, khiến lượng tiền gửi tăng cao khi lạm phát vượt 20% vào tháng 4/2008 Mặc dù Chính phủ đã đưa ra 8 gói giải pháp vào cuối năm 2008, chỉ số CPI vẫn ở mức cao Năm 2009, lạm phát giảm nhưng kinh tế trì trệ, buộc Chính phủ phải áp dụng gói kích cầu 8 tỷ USD để vượt qua khủng hoảng Tuy nhiên, việc lần đầu tiên sử dụng gói kích cầu cũng đã dẫn đến những hạn chế và là nguyên nhân làm lạm phát gia tăng trở lại vào cuối năm 2010 và 2011.
Việc áp dụng chính sách tiền tệ mở rộng trong giai đoạn 2009-2010, kết hợp với gói kích cầu của Chính phủ, đã dẫn đến tăng trưởng tín dụng nóng và mở rộng cung tiền quá mức Để đạt mục tiêu lạm phát dưới 7% vào năm 2011, Ngân hàng Nhà nước đã giảm cung tiền M2 xuống 12,4% và hạ tăng trưởng tín dụng đột ngột xuống 14,4%, gây ra những hệ quả tiêu cực như lãi suất cho vay cao và nợ xấu gia tăng, cùng với tình trạng thanh khoản căng thẳng Thêm vào đó, việc điều chỉnh giá xăng, dầu, điện, nước không hợp lý đã góp phần đẩy tỷ lệ lạm phát trong quý 4/2011 lên tới 22,54%.
Từ năm 2012 đến 2017, nhờ thực hiện các giải pháp đồng bộ, lạm phát đã ổn định, mặc dù có thời điểm tăng cao vào năm 2013 Nhìn chung, lạm phát được kiềm chế ở mức một con số và lãi suất tiền gửi cũng giảm đáng kể.
Hình 3.9: Tình trạng ĐLH tiền gởi và lạm phát giai đoạn 1992-2017
Nguồn: International Financial Statistics, IMF
Mối quan hệ giữa lạm phát và tình trạng tiền gửi tại ngân hàng thể hiện rõ qua các năm 1994, 1997-1998, 2004, 2008 và 2011, khi lạm phát tăng cao, tiền gửi cũng ngay lập tức gia tăng Ngược lại, trong giai đoạn lạm phát giảm mạnh vào năm 2009, 2010 và 2012, tiền gửi chỉ giảm nhẹ, cho thấy niềm tin của người dân vào đồng VND dễ bị ảnh hưởng nhưng khó phục hồi Đặc biệt, trong giai đoạn giảm phát từ 2000 đến 2001, tiền gửi lại tăng mạnh.
Như vậy, có thể nói khi nền kinh tế bị lạm phát cao hay giảm phát đều làm tăng tình trạng găm giữ, cất trữ ngoại tệ
3.3.2 Tỷ giá hối đoái USD/VND có xu hướng tăng thường xuyên
Một nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng người dân tích trữ USD là sự mất giá của VND so với USD, thể hiện qua tỷ giá USD/VND thường xuyên tăng Từ năm 1992 đến 2017, tỷ giá đã trải qua hai giai đoạn tăng mạnh trong các cuộc khủng hoảng tài chính khu vực Châu Á (1997-2001) và toàn cầu (2008-2011), trong khi các giai đoạn khác tương đối ổn định Khi tỷ giá tăng, người dân có xu hướng tích trữ USD để tránh mất giá VND và kỳ vọng vào lợi nhuận từ việc tăng tỷ giá, dẫn đến sự gia tăng DDI Ngược lại, đối với ĐLH tiền vay, tỷ giá tăng khiến LDI giảm do doanh nghiệp lo ngại về rủi ro tỷ giá, nhưng khi tỷ giá ổn định, doanh nghiệp thường chọn vay ngoại tệ hơn vì LSCV ngoại tệ thường thấp hơn LSCV VND.
Mối quan hệ giữa tỷ giá và tình trạng dư nợ hộ gia đình (ĐLH) rất chặt chẽ, đặc biệt trong các giai đoạn 1997-2001 và 2008-2011, khi tỷ giá tăng thì ĐLH tiền gửi cũng tăng, trong khi ĐLH tiền vay lại giảm Ngược lại, trong các giai đoạn 1992-1996, 2002-2007 và 2012-2017, khi tỷ giá ổn định, ĐLH tiền gửi giảm mạnh và ĐLH tiền vay tăng lên Đặc biệt trong giai đoạn 2012-2017, mặc dù tỷ giá ổn định, nhưng ĐLH tiền vay giảm mạnh do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thu hẹp đối tượng cho vay và nhu cầu vay ngoại tệ giảm.
Hình 3.10: ĐLH tiền gởi, ĐLH tiền vay và tỷ giá USD/VND giai đoạn 1992-2017
Tỷ giá USD/VND (cột phải) LDI (cột trái)
Việc tỷ giá tăng lên hay giảm xuống xuất phát từ cơ chế điều hành tỷ giá của
Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn trong lịch sử điều hành tỷ giá, với việc Ngân hàng Nhà nước quy định tỷ giá bằng mệnh lệnh hành chính cho từng thời kỳ trước năm 1989 Sau năm 1989, quá trình điều chỉnh tỷ giá đã có những thay đổi quan trọng, phản ánh sự phát triển của nền kinh tế.
Năm 1989, tỷ giá hối đoái được thống nhất theo mức công bố của Ngân hàng Nhà nước, với các điều chỉnh dựa trên tỷ lệ lạm phát, lãi suất và tình hình cán cân thanh toán quốc tế.
NHTM chỉ được phép giao dịch trong biên độ ±5%, nhưng do mất nguồn "nhập siêu" từ Liên Xô cũ, các doanh nghiệp nhập khẩu đã tích cực thu gom USD, dẫn đến những cơn sốt giá theo chu kỳ vào cuối quý và cuối năm Vào tháng 12/1991, giá USD có thể tăng từ 60% đến 80% chỉ trong một tháng Sự chênh lệch giữa tỷ giá chính thức do NHNN công bố và tỷ giá thị trường tự do rất lớn.
Bảng 3.3: Diễn biến tỷ giá USD/VND giai đoạn 1989 – 1991
Năm Thị trường Tháng 1 Tháng 3 Tháng 6 Tháng 9 Tháng 12
Nguồn: Ngân hàng nhà nước
Sau năm 1992, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã chuyển sang chính sách tiền tệ nhằm chống lạm phát, tập trung vào việc duy trì ổn định tỷ giá hối đoái danh nghĩa Việc thành lập Quỹ dự trữ ngoại hối và hai Trung tâm giao dịch ngoại hối, cùng với sự ra đời của Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong việc điều hành tỷ giá theo quy luật cung cầu Nhờ đó, tỷ giá trong giai đoạn này trở nên ổn định hơn, củng cố niềm tin của người dân vào đồng VND.