Kinh nghiệm giảm nghèo ở Mê-hi-cô
Năm 1997, tình trạng người nghèo ở Mê-hi-cô gặp khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ y tế, với tỷ lệ trẻ em thất học và trốn học cao Để giảm nghèo đói và tăng cường đầu tư vào vốn con người, Chính phủ Mê-hi-cô đã triển khai Chương trình giáo dục, y tế và dinh dưỡng Chương trình này nhằm chấm dứt tình trạng nghèo đói kéo dài qua nhiều thế hệ, đặc biệt là ở các gia đình nghèo nông thôn Phương thức thực hiện bao gồm việc chuyển giao tiền mặt trực tiếp cho các gia đình, yêu cầu các thành viên tham gia khám sức khỏe, bà mẹ tham gia các buổi phổ biến thông tin về vệ sinh và dinh dưỡng, và trẻ em phải đến trường.
Chương trình giáo dục, y tế và dinh dưỡng hỗ trợ các gia đình nghèo để trẻ em dưới 18 tuổi có thể học từ lớp 3 tiểu học đến lớp 3 trung học, với mức trợ cấp tăng dần theo cấp học và ưu tiên cho bé gái Học sinh lớp 3 trung học nhận trợ cấp tương đương 46% thu nhập trung bình của người làm nông nghiệp, nhưng gia đình có trẻ bỏ học hơn 15% số ngày trong tháng hoặc lưu ban quá 1 lần sẽ không được nhận trợ cấp Các gia đình nghèo cũng phải đảm bảo khám sức khỏe định kỳ và tham gia các buổi phổ biến thông tin về dinh dưỡng Tiền trợ cấp được trao cho mẹ, người chịu trách nhiệm chính trong việc chăm sóc con cái Chương trình có một cầu nối duy nhất giữa cán bộ và người thụ hưởng là nữ tuyên truyền viên cộng đồng, giúp kết nối giữa các hộ gia đình và nhà cung cấp Với mục tiêu khuyến khích đầu tư vào vốn con người, chương trình nhận thức được mối quan hệ giữa giáo dục, y tế và dinh dưỡng, đồng thời gắn trợ cấp tiền mặt với hành vi của hộ gia đình để thay đổi thái độ và giảm thiểu can thiệp chính trị.
Chương trình giáo dục, y tế và dinh dưỡng đã góp phần tăng cường tỉ lệ học sinh đi học, đặc biệt là ở các bé gái, đồng thời cải thiện tình trạng còi xương và suy dinh dưỡng ở trẻ em hộ nghèo Hơn nữa, chương trình không chỉ mang lại thu nhập tạm thời mà còn nâng cao năng suất và thu nhập tương lai cho những trẻ em thụ hưởng.
Kinh nghiệm giảm nghèo ở Uganđa
Sau nhiều thập kỷ chịu đựng chiến tranh và khủng hoảng kinh tế, Uganda đã trải qua sự phục hồi mạnh mẽ với mức tăng trưởng trung bình trên 5% mỗi năm kể từ thập kỷ 1990 Chỉ trong vòng 6 năm, đất nước này đã chứng kiến những bước tiến đáng kể trong phát triển kinh tế.
Từ năm 1992 đến 1998, tỉ lệ nghèo đói ở Uganda đã giảm từ 56% xuống 44%, cho thấy sự chia sẻ lợi ích của tăng trưởng kinh tế giữa các nhóm thu nhập và hộ gia đình nông thôn cũng như thành thị Mức tiêu dùng thực tế trên đầu người tăng lên ở tất cả các nhóm dân cư, chứng tỏ rằng nghèo đói đã giảm, bất kể tiêu chuẩn ngưỡng nghèo được áp dụng.
Bất bình đẳng thu nhập đã giảm nhẹ, với hệ số GINI giảm từ 0,36 xuống 0,34, góp phần tích cực vào việc giảm nghèo đói và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Trong vòng 5 năm qua, mức sống của các hộ gia đình nghèo tại Uganda đã có sự cải thiện đáng kể Tiêu dùng bình quân đầu người trong nhóm 10% dân số nghèo nhất tăng 27%, trong khi nhóm 10% giàu nhất chỉ tăng 15% Đặc biệt, nhóm nông dân sản xuất hàng hóa, đặc biệt là người trồng cà phê, đã chứng kiến sự giảm nghèo nhanh hơn gấp đôi so với mức trung bình toàn quốc.
Kinh nghiệm giảm nghèo của Việt Nam
Mặc dù nguồn lực có hạn, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong 10 năm thực hiện Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và giảm nghèo Số hộ nghèo đã giảm từ 29% vào năm 2002 xuống còn 10,7% vào năm 2010 Đồng thời, chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn cũng giảm từ 2,3 lần năm 1999 xuống còn 2 lần.
Từ năm 2008, Việt Nam đã vượt qua ngưỡng thu nhập bình quân đầu người 1.000 USD, trở thành nước có thu nhập trung bình Cơ sở hạ tầng tại các xã đặc biệt khó khăn đã được cải thiện đáng kể với hàng vạn công trình điện, đường, trường, trạm, và thủy lợi được xây dựng Đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, đã có nhiều thay đổi tích cực Các chính sách đúng đắn và kịp thời của Đảng và Nhà nước đã khơi dậy ý chí vươn lên thoát nghèo của nhân dân, giúp nhiều người thoát khỏi tình trạng nghèo cùng cực Việt Nam cũng đã tích lũy được những bài học quan trọng về giảm nghèo trong quá trình phát triển.
Giảm nghèo ở Việt Nam đã trở thành mục tiêu quốc gia, không chỉ đơn thuần là một chính sách xã hội Chính sách này được thực hiện song song với tăng trưởng kinh tế, tạo ra sự hài hòa giữa hai yếu tố Một trong những thành tựu nổi bật của Việt Nam là duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định, đồng thời hạn chế sự gia tăng bất bình đẳng xã hội, điều này đã được cộng đồng quốc tế công nhận.
Dựa trên sự quyết tâm và đồng thuận của toàn bộ hệ thống chính trị, các chính sách giảm nghèo đã được ban hành một cách tích cực và toàn diện, phù hợp với đặc điểm của đối tượng thụ hưởng Các cơ chế này tập trung vào việc tạo ra tiền đề cần thiết để người nghèo phát huy khả năng tự lực, cải thiện đời sống và thoát nghèo Điều này bao gồm đầu tư vào cơ sở hạ tầng, cung cấp vốn phát triển sản xuất, dạy nghề, và hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, nhà ở và nước sinh hoạt.
Quá trình tổ chức và thực hiện các chương trình giảm nghèo cần linh hoạt và năng động, với các mục tiêu cụ thể và giải pháp phù hợp, chú trọng đến đặc thù vùng miền, tập quán dân cư và cộng đồng Các chương trình giảm nghèo theo ngành và phát triển kinh tế - xã hội vùng cũng cần được xem xét để đạt hiệu quả cao nhất.
Việc xác định đối tượng nghèo và phân loại nguyên nhân nghèo là rất quan trọng để xây dựng các chính sách giảm nghèo hiệu quả Điều này giúp các chính sách tập trung vào những nhóm dân cư khác nhau, đảm bảo tính phù hợp và mang lại tác động thực tế tích cực.
Sự nghiệp giảm nghèo tại Việt Nam đã thu hút sự tham gia của mọi cấp, ngành và toàn xã hội thông qua nhiều hình thức huy động nguồn lực đa dạng Đồng thời, Việt Nam cũng đã nhận được sự hỗ trợ từ cộng đồng quốc tế về vốn, kỹ thuật và kinh nghiệm trong quá trình này.
THỰC TRẠNG NGHÈO ĐÓI VÀ CÔNG TÁC XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
Khái quát về huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai
2.1.1 Vị trí địa lí Định Quán là một huyện miền núi, nằm phía Bắc tỉnh Đồng Nai, có diện tích tự nhiên là 971,23 km 2 (chiếm 16,45% diện tích tự nhiên toàn tỉnh), bao gồm 13 xã và 1 TT.
- Về tọa độ địa lí: Huyện Định Quán trải dài từ 11 0 00’30’’ đến 11 0 25’00’’ vĩ độ Bắc và từ 107 0 07’30’’ đến 107 0 30’00’’ kinh độ Đông.
- Về ranh giới địa lí : Huyện Định Quán tiếp giáp với các huyện, thị sau:
+ Phía Bắc và Đông Bắc giáp huyện Tân Phú (Đồng Nai).
+ Phía Đông Nam giáp huyện Đức Linh (Bình Thuận).
+ Phía Nam giáp các huyện Thống Nhất, Xuân Lộc và thị xã Long Khánh (Đồng Nai).
+ Phía Tây giáp huyện Vĩnh Cửu (Đồng Nai).
Huyện Định Quán, nằm dọc theo quốc lộ 20, kết nối quốc lộ 1A với thành phố Đà Lạt, cách Biên Hòa khoảng 80 km, Thành phố Hồ Chí Minh 110 km và Đà Lạt 185 km, có vị trí thuận lợi cho giao lưu với các vùng lân cận Là một huyện thuộc tỉnh Đồng Nai, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Định Quán có tiềm năng phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội mạnh mẽ.
Huyện Định Quán nằm ở độ cao trung bình 180m so với mực nước biển, là khu vực chuyển tiếp giữa cao nguyên và trung du với địa hình gồ ghề, bao gồm các đồi lượn sóng tại các xã như La Ngà, Ngọc Định, Gia Canh, Thanh Sơn và Phú Vinh Địa hình huyện được chia cắt bởi sông Đồng Nai và sông La Ngà, tạo thành ba tiểu vùng với đặc điểm địa hình và thổ nhưỡng riêng biệt: Tiểu vùng phía Nam (gồm La Ngà, Phú Túc, Túc Trưng, Phú Cường và Suối Nho), tiểu vùng Thanh Sơn và phần còn lại.
Huyện Định Quán có khí hậu nhiệt đới gió mùa với sự phân chia rõ rệt giữa mùa mưa và mùa khô Nhiệt độ trung bình hàng năm đạt 26,9°C, và chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng không lớn Trong năm, khu vực này nhận được tổng cộng 2.502 giờ nắng.
Vùng cao nguyên Bảo Lộc – Lâm Đồng đóng vai trò là sườn chắn gió Tây Nam, mang lại lượng hơi ẩm lớn từ biển Ấn Độ Dương Điều này dẫn đến lượng mưa tại Định Quán khá cao, dao động từ 2.500 đến 2.800 mm mỗi năm, với khoảng 150 đến 170 ngày mưa trong năm Độ ẩm trung bình hàng năm ở khu vực này đạt 80%.
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu khí hậu tại trạm khí tượng thủy văn La Ngà – Định Quán
Nhiệt độ trung bình tháng ( 0 C) Độ ẩm (%)
Số giờ nắng (Giờ/tháng)
(Nguồn: Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn Đồng Nai) Đặc trưng khí hậu theo mùa của Định Quán như sau:
Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, với nhiệt độ trung bình đạt 26,9 độ C và trung bình 7,77 giờ nắng mỗi ngày Trong thời gian này, lượng mưa rất ít, chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng lượng mưa hàng năm.
- Mùa mưa (Từ tháng 5 đến tháng 10): Nhiệt độ trung bình các tháng mùa mưa là
Nhiệt độ trung bình là 26,8°C với khoảng 5,97 giờ nắng mỗi ngày Lượng mưa hàng năm chiếm từ 85% đến 90% tổng lượng mưa, kết hợp với địa hình dốc gây ra hiện tượng rửa trôi và xói mòn mạnh, dẫn đến sự phân hoá vỏ thổ nhưỡng diễn ra nhanh chóng.
Mặc dù huyện Định Quán gặp một số thách thức do sự biến đổi khí hậu theo mùa, nhưng nhìn chung, khí hậu nơi đây vẫn khá thuận lợi cho việc phát triển kinh tế và cải thiện đời sống của người dân.
Huyện Định Quán có diện tích tự nhiên 97.123,7 ha, chiếm 16,45% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Đồng Nai Dựa trên bản đồ đất tỉnh Đồng Nai và bản đồ đất huyện Định Quán tỷ lệ 1/25.000, được chỉnh lý và xây dựng trên nền bản đồ địa hình năm 1998 cùng với kết quả điều tra bổ sung năm 2010, huyện có 05 nhóm đất chính.
Bảng 2.2: Cơ cấu các nhóm đất chính của huyện Định Quán
STT Tên đất Việt Nam
(Nguồn: Phòng Tài nguyên môi trường - UBND huyện Định Quán)
- Nhóm đất xám (Acrisols): Đây là nhóm đất chính của huyện có diện tích
Diện tích tự nhiên của huyện đạt 49.962,68 ha, chiếm 51,45% tổng diện tích Đất chủ yếu phát triển trên nền đá phiến và đá granit, với đặc điểm nghèo mùn và các chất dinh dưỡng tổng số cũng như dễ tiêu thấp Đất có tính axit, cation trao đổi (CEC) thấp và thuộc loại nhẹ đến trung bình, thích hợp cho việc trồng các loại cây như mía, bắp, đậu, xoài, nhãn và điều.
Nhóm đất đá bọt (Andosols) tại huyện có diện tích 427,33 ha, chiếm 0,44% tổng diện tích tự nhiên Đất này hình thành trên nền đá Bazan và thường có tầng đất lẫn nhiều đá cục, đôi khi có kết von Do cấu trúc đất ít thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, nhóm đất này chủ yếu được sử dụng để trồng chuối, bắp và đậu.
Nhóm đất đỏ (Ferrasols) tại huyện có diện tích 12.796,55 ha, chiếm 13,18% tổng diện tích tự nhiên Được hình thành từ mẫu chất Bazan, đất đỏ có tầng dày, cấu trúc viên tơi xốp, giàu đạm và lân, cùng với khả năng trao đổi cation cao Loại đất này rất phù hợp cho việc trồng các loại cây lâu năm như cao su, cà phê và cây ăn quả.
Nhóm đất Gley (Gleysols) tại huyện có diện tích 608,86 ha, chiếm 0,62% tổng diện tích tự nhiên Đất Gley chủ yếu được sử dụng để trồng lúa và các loại cây hoa màu ngắn ngày, trong khi một số khu vực được cải tạo để trồng cây ăn trái.
Nhóm đất đen (Luvisols) có diện tích 16.986,51 ha, chiếm 17,49% tổng diện tích tự nhiên của huyện Đất này được hình thành từ mẫu chất Bazan, nổi bật với hàm lượng dinh dưỡng và chất hữu cơ dễ tiêu hóa cao, đặc biệt là lân tổng số và canxi, magiê Chính vì vậy, đất đen rất phù hợp cho việc phát triển đa dạng các loại cây trồng trong nông nghiệp.
Huyện Định Quán có nguồn tài nguyên nước mặt phong phú, bao gồm nhiều suối như suối Tam Bung, suối Son, suối Sà Mách và suối Thuỷ Nhập Sơn, cùng với hai sông lớn là sông Đồng Nai và sông La Ngà, cung cấp nước chủ yếu cho sinh hoạt và sản xuất Tuy nhiên, mực nước thay đổi theo mùa với biên độ lớn; mùa khô hầu như không có nước, trong khi mùa mưa lại gây ngập úng ở một số khu vực, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp.
Thực trạng nghèo đói và công tác xóa đói, giảm nghèo ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai
2.2.1 Tiêu chí xác định hộ nghèo của tỉnh Đồng Nai
Trong những năm qua, tỉnh Đồng Nai đã đạt được nhiều tiến bộ trong phát triển kinh tế - xã hội, tuy nhiên vẫn còn một số vùng và bộ phận dân cư sống trong tình trạng nghèo đói Để hỗ trợ các đối tượng này vươn lên thoát nghèo, tỉnh Đồng Nai đã xác định Chương trình Xóa đói giảm nghèo (XĐGN) là một chương trình trọng tâm trong các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Từ năm 2001 đến nay, Đồng Nai đã xây dựng chuẩn nghèo riêng dựa trên chuẩn nghèo quốc gia và tình hình thực tế của địa phương.
Giai đoạn 2001 – 2005, Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai đã ban hành Nghị quyết số 17/2000/NQ-HĐND vào ngày 19/7/2000, quy định về chuẩn nghèo và chuẩn cận nghèo trên địa bàn tỉnh.
+ Hộ nghèo : là hộ có thu nhập dưới 130.000 đồng/người/tháng (đối với khu vực nông thôn) và dưới 160.000 đồng/người/tháng (đối với khu vực thành thị).
Hộ cận nghèo được định nghĩa là những hộ gia đình có thu nhập từ 130.000 đến dưới 156.000 đồng/người/tháng tại khu vực nông thôn, và từ 160.000 đến dưới 192.000 đồng/người/tháng tại khu vực thành thị.
Giai đoạn 2006 – 2010: Trong giai đoạn này tỉnh Đồng Nai đã 2 lần thay đổi chuẩn nghèo, cận nghèo của tỉnh.
- Theo NQ 52/2005/HĐND7 ngày 21/7/2005 của HĐND tỉnh, chuẩn nghèo và chuẩn cận nghèo giai đoạn 2006 – 2010 được xác định như sau:
+ Hộ nghèo : là hộ có thu nhập dưới 250.000 đồng/người/tháng (đối với khu vực nông thôn) và dưới 400.000 đồng/người/tháng (đối với khu vực thành thị).
Hộ cận nghèo được định nghĩa là những hộ gia đình có thu nhập từ 250.000 đến dưới 300.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn, và từ 400.000 đến dưới 480.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị.
Sau 3 năm (2006 – 2008) thực hiện NQ Đại hội VIII của Đảng bộ và NQ 52 củaHĐND tỉnh về Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006 – 2010, ĐồngNai đã triển khai hiệu quả các chính sách, dự án giảm nghèo và đạt được nhiều thành tựu quan trọng; tỉ lệ hộ nghèo giảm nhanh từ 9,84% năm 2006 xuống còn 3,3% cuối năm2008; đời sống hộ nghèo, vùng nghèo tiếp tục được cải thiện nhiều mặt Như vậy,chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006 – 2010 đã hoàn thành mục tiêu trước 2 năm Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo chưa thật bền vững, nhiều hộ tuy vượt chuẩn nghèo nhưng cuộc sống còn rất khó khăn, tình trạng tái nghèo còn cao, khoảng cách giàu - nghèo và mức sống giữa thành thị - nông thôn có xu hướng gia tăng, thành tựu giảm nghèo là đáng kể nhưng chưa tương xứng với kết quả tăng trưởng của một tỉnh kinh tế trọng điểm Mặt khác, trong các năm 2007 – 2008 giá tiêu dùng tăng đột biến làm cho chuẩn nghèo được ban hành theo NQ số 52 của HĐND không còn phù hợp, vì vậy HĐND tỉnh đã ban hành NQ số 128/2008/NQ-HĐND ngày 05/12/2008 về điều chỉnh chuẩn nghèo, chuẩn cận nghèo và mục tiêu, giải pháp Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2009 – 2010 trên địa bàn tỉnh Đồng Nai:
+ Hộ nghèo : là hộ có thu nhập dưới 450.000 đồng/người/tháng (đối với khu vực nông thôn) và dưới 650.000 đồng/người/tháng (đối với khu vực thành thị).
+ Hộ cận nghèo : là hộ có thu nhập từ 450.000 đồng/người/tháng đến dưới
540.000 đồng/người/tháng (đối với khu vực nông thôn) và từ 650.000 đồng/người/tháng đến dưới 780.000 đồng/người/tháng (đối với khu vực thành thị).
Giai đoạn 2011 – 2015: Chuẩn nghèo áp dụng trong giai đoạn 2006
Vào ngày 31/12/2010, các nghị quyết NQ 52/2005/HĐND7 và NQ 128/2008/NQ-HĐND của HĐND tỉnh sẽ hết hiệu lực Mặc dù đời sống của một bộ phận dân cư nghèo đã có sự cải thiện rõ rệt, nhiều hộ gia đình vẫn gặp khó khăn so với mức sống chung của tỉnh Do đó, để xây dựng Chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011 – 2015, việc ban hành chuẩn nghèo mới là cần thiết Ngày 02/7/2010, HĐND tỉnh đã tiến hành ban hành chuẩn nghèo mới.
NQ số 176/2010/NQ-HĐND quy định chuẩn nghèo và Chương trình giảm nghèo bền vững của tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011 – 2015 Chuẩn nghèo mới của tỉnh trong giai đoạn này đã được xác định nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và hỗ trợ người dân thoát nghèo bền vững.
Hộ nghèo được xác định là những hộ có thu nhập dưới 650.000 đồng/người/tháng tại khu vực nông thôn và dưới 850.000 đồng/người/tháng tại khu vực thành thị Tiêu chí này sẽ được điều chỉnh nếu chỉ số giá tiêu dùng tăng hơn 20% mỗi năm.
Trong giai đoạn 2011 – 2015, chuẩn nghèo của tỉnh Đồng Nai cao hơn chuẩn nghèo và chuẩn cận nghèo Quốc gia Theo NQ 176/2010/NQ-HĐND ngày 02/07/2010, các hộ mới thoát nghèo sẽ tiếp tục được hưởng một số chính sách hỗ trợ như tín dụng, bảo hiểm y tế, giáo dục, dạy nghề và khuyến nông – khuyến công trong 2 năm tiếp theo, do đó, Đồng Nai không ban hành chuẩn cận nghèo trong thời gian này.
2.2.2 Thực trạng nghèo và công tác giảm nghèo ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai
2.2.2.1 Thực trạng nghèo ở huyện Định Quán tỉnh Đồng Nai
2.2.2.1.1 Thực trạng hộ nghèo huyện Định Quán giai đoạn 2001 – 2011
Năm 2001, theo NQ số 17/2000/NQ–HĐND của HĐND tỉnh Đồng Nai, huyện Định Quán có 8.568 hộ nghèo với 44.424 nhân khẩu, chiếm 20,20% tổng số hộ dân Trong đó, khu vực nông thôn ghi nhận 7.724 hộ nghèo, tương đương 90,15% tổng số hộ nghèo và 89,76% nhân khẩu nghèo của huyện.
Tính đến năm 2005, huyện Định Quán ghi nhận 576 hộ nghèo, chiếm 1,36% tổng số hộ dân Sau 5 năm thực hiện Chương trình giảm nghèo giai đoạn 2001 - 2005, huyện đã giảm được 7.992 hộ nghèo, hạ tỷ lệ hộ nghèo từ 20,2% vào đầu năm 2001 xuống còn 1,36% vào cuối năm 2005.
Năm 2006, theo Nghị quyết số 52/2005/HĐND7 của HĐND tỉnh Đồng Nai, toàn huyện ghi nhận 6.877 hộ nghèo với 35.083 nhân khẩu, chiếm 16,21% tổng số hộ dân Trong đó, khu vực nông thôn có 6.378 hộ nghèo, tương đương 92,74% số hộ nghèo và 92,73% nhân khẩu nghèo của huyện.
Do tình hình kinh tế biến động và lạm phát tăng cao, vào ngày 05/12/2008, HĐND tỉnh Đồng Nai đã ban hành NQ số 128/NQ–HĐND để điều chỉnh chuẩn nghèo và ban hành chuẩn cận nghèo cho tỉnh, áp dụng trong năm 2009 và 2010 Theo chuẩn nghèo và cận nghèo mới, đầu năm 2009, toàn huyện ghi nhận 6.320 hộ nghèo, chiếm 13,8% tổng số hộ dân trong khu vực.
Cuối năm 2010, huyện ghi nhận có 3.057 hộ nghèo, chiếm 6,5% tổng số hộ dân, giảm từ 16,21% vào đầu năm 2006 Trong giai đoạn 2006 – 2010, mặc dù chuẩn nghèo có sự điều chỉnh, đã có 8.071 hộ thoát nghèo, trong đó 4.746 hộ từ 2006 – 2008 và 3.325 hộ từ 2009 – 2010 Đầu năm 2011, huyện áp dụng chuẩn nghèo mới theo quy định của tỉnh Đồng Nai.