1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn chấm dứt hợp đồng lao động

41 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận Văn Chấm Dứt Hợp Đồng Lao Động
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Vân
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Luật
Thể loại luận văn
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 1,23 MB

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (1)
  • 2. Mục tiêu, đối tượng nghiên cứu đề tài (0)
  • 3. Phạm vi nghiên cứu đề tài (2)
  • 4. Phương pháp nghiên cứu đề tài (2)
  • 5. Kết cấu đề tài (2)
  • CHƯƠNG 1 (2)
    • 1.1. Khái niệm và đặc điểm hợp đồng lao động (3)
      • 1.1.1. Khái niệm hợp đồng lao động (3)
      • 1.1.2. Đặc điểm hợp đồng lao động (3)
    • 1.2. Khái quát về chấm dứt hợp đồng lao động (6)
      • 1.2.1. Khái niệm về chấm dứt hợp đồng lao động (6)
      • 1.2.2. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động (6)
      • 1.2.3. Ý nghĩa quy định pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động (7)
      • 1.2.4. Sơ lược lịch sử về quy định liên quan đến chấm dứt hợp đồng lao động (8)
  • CHƯƠNG 2 (2)
    • 2.1. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động (13)
      • 2.1.1. Chấm dứt hợp đồng lao động do ý chí của hai bên chủ thể (13)
      • 2.1.2. Hợp đồng lao động đương nhiên chấm dứt không phụ thuộc vào ý chí của (13)
      • 2.1.3. Chấm dứt hợp đồng lao động do người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải (14)
      • 2.1.6. Chấm dứt hợp đồng lao động do tổ chức lại doanh nghiệp, hợp tác xã (0)
      • 2.1.7. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (0)
        • 2.1.7.1. Đơn phương chấm dứt hợp đồng của người lao động (0)
        • 2.1.7.2. Đơn phương chấm dứt hợp đồng của người sử dụng lao động (0)
        • 2.1.7.3. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật (0)
    • 2.2. Quy định pháp luật về trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động (25)
      • 2.2.1. Trợ cấp thôi việc (25)
      • 2.2.2. Trợ cấp mất việc làm (28)
    • 2.3. Xử lý vi phạm quy định về chấm dứt hợp đồng lao động (0)
  • CHƯƠNG 3 (2)
    • 3.1 Tình hình chung về chấm dứt hợp đồng lao động (32)
    • 3.2. Nguyên nhân và giải pháp (33)
    • 3.3. Một số bất cập trong quy định pháp luật và một số kiền nghị hoàn thiện quy định pháp luật (34)
  • KẾT LUẬN (37)

Nội dung

Phương pháp nghiên cứu đề tài

Trong quá trình nghiên cứu và viết luận, tác giả đã áp dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh để lựa chọn tài liệu liên quan Bài viết cũng vận dụng thực tiễn và đối chiếu với các quy định pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động, đồng thời tham khảo thông tin từ sách báo, internet và các bản án đã được công bố.

Kết cấu đề tài

Ngoài phần mục lục, Lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Khái niệm và đặc điểm hợp đồng lao động

1.1.1 Khái niệm hợp đồng lao động

Trong quan hệ lao động, người lao động thường ở vị thế yếu hơn do phụ thuộc vào người sử dụng lao động về kinh tế và việc làm, đồng thời chịu sự quản lý trong quá trình làm việc Điều này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi mà còn đến tính mạng, sức khỏe và danh dự của họ Do đó, bên cạnh các nguyên tắc chung của hợp đồng, pháp luật lao động quy định những chuẩn mực riêng cho việc giao kết, thực hiện và chấm dứt hợp đồng lao động, trong đó hợp đồng lao động được xem là chế định trung tâm.

“ xương sống” của Luật lao động 1

Hợp đồng lao động là hình thức pháp lý quy định quan hệ lao động cá nhân, phổ biến trong nền kinh tế thị trường, được thiết lập trên nguyên tắc tự do, tự nguyện và bình đẳng giữa người lao động và người sử dụng lao động Đây là một mối quan hệ hợp tác cùng có lợi, dựa trên sự hiểu biết và quan tâm lẫn nhau nhằm đạt được lợi ích mà mỗi bên mong muốn Mục tiêu tối đa hóa lợi ích là động lực chính cho cả hai bên, giúp dung hòa quyền lợi trong suốt quá trình thực hiện quan hệ lao động.

Hiện nay, về mặt pháp lý, khái niệm hợp đồng lao độngđược quy định tại Điều 15

Bộ luật Lao động 2012 định nghĩa hợp đồng lao động là thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, cùng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên Mặc dù định nghĩa này nêu rõ các chủ thể và nội dung của hợp đồng, nhưng chưa đề cập đến sự phụ thuộc về mặt pháp lý của người lao động vào người sử dụng lao động.

1.1.2 Đặc điểm hợp đồng lao động

Hợp đồng lao động, như một loại hợp đồng, có những đặc điểm chung của các hợp đồng khác, bao gồm sự tự do thỏa thuận dựa trên nguyên tắc tự nguyện và bình đẳng giữa các bên Tuy nhiên, hợp đồng lao động cũng mang tính chất pháp lý đặc thù của quan hệ mua bán hàng hóa sức lao động, và do đó, nó sở hữu năm đặc điểm riêng biệt.

Thứ nhất, trong quan hệ hợp đồng lao động, có sự lệ thuộc về mặt pháp lý của người lao động vào người sử dụng lao động 2

1 Trần Hoàng Hải (Chủ biên), Giáo trình Luật lao động, Nxb Hồng Đức, Hội Luật gia Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh, 2013, trang 149

2 Trần Hoàng Hải (Chủ biên), Giáo trình Luật lao động, Nxb Hồng Đức, Hội Luật gia Việt Nam, Thành phố Hồ Chí

Trang 4 SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Vân Đây là đặc trưng quan trọng của hợp đồng lao động để phân biệt với các loại hợp đồng khác và được thừa nhận rộng rãi trong pháp luật lao động cũng như trong khoa học pháp lý của nhiều nước, đặc biệt là ở các nước theo hệ thống thông luật Tuy nhiên đặc điểm này chỉ thể hiện trong qúa trình thực hiện quan hệ lao động, xuất phát từ tính chất đặc biệt của hàng hóa sức lao động và đòi hỏi khách quan của qúa trình sử dụng lao động Trong quan hệ lao động, người sử dụng lao động “ mua sức lao động” về để sử dụng, do vậy để đảm bảo việc người sử dụng lao động sử dụng được sức lao động một cách có hiệu quả, họ phải có quyền quản lý, giám sát, điều hành quá trình lao động của người lao động Hơn nữa, hoạt động sản xuất, kinh doanh ngày nay hầu như đã mang tính xã hội hóa, do đó đòi hỏi phải có sự phối hợp của nhiều khâu, nhiều người lao động theo một quy tắc, trật tự nhất định thì mới có thể thực hiện được hoạt động này Bên cạnh đó người sử dụng lao động bỏ vốn ra để kinh doanh, họ có quyền tự chủ trong kinh doanh như quyền quyết định việc thu hẹp hay mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh theo nhu cầu của thị trường, quyết định việc thay đổi địa điểm kinh doanh, thậm chí là quyền chấm dứt hoặc chuyển nhượng hoạt động sản xuất kinh doanh cho người khác, để có thể đáp ứng được các nhu cầu trên, người sử dụng lao động phải có những quyền hành nhất định trong quá trình sử dụng lao động Do vậy mặc dù trong quan hệ lao động, người lao động yếu thế hơn, nhưng pháp luật vẫn trao cho người sử dụng lao động những quyền uy nhất định như quyền điều hành lao động, quyền điều chuyển lao động,quyền đặt ra nội quy lao động buộc người lao động phải tuân theo, quyền khen thưởng và xử lý kỷ luật lao động,v.v…

Sự lệ thuộc về mặt pháp lý là yếu tố quan trọng phân biệt hợp đồng lao động với các loại hợp đồng dân sự như hợp đồng gia công, hợp đồng dịch vụ, và hợp đồng ủy quyền Trong các hợp đồng dân sự, các bên chủ yếu quan tâm đến kết quả công việc, do đó bên thực hiện công việc có quyền tự chủ trong quá trình lao động mà không bị quản lý bởi bên kia Sự khác biệt này dẫn đến nguyên tắc chịu rủi ro khác nhau giữa hợp đồng lao động và hợp đồng dân sự.

Thứ hai, đối tượng của hợp đồng lao động là việc làm có trả công 3

Sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt, khác biệt so với các loại hàng hóa thông thường, vì việc mua bán nó không chỉ đơn thuần là chuyển giao tài sản Thay vào đó, sức lao động chỉ có thể được chuyển giao cho "bên mua" thông qua việc "bên bán" thực hiện một công việc cụ thể Do đó, nội dung thỏa thuận trong hợp đồng lao động giữa các bên cần phải được xác định rõ ràng.

3 Trần Hoàng Hải (Chủ biên), Giáo trình Luật lao động, Nxb Hồng Đức, Hội Luật gia Việt Nam, Thành phố Hồ Chí

Trang 5 SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Vân động biểu hiện ra bên ngoài là công việc phải làm Khi các bên thỏa thuận về công việc phải làm, các bên đã tính toán cân nhắc về sức lao động của người lao động để có thể đáp ứng các điều kiện thực hiện được công việc đó Việc làm là điều khoản đầu tiên, quan trọng nhất của hợp đồng lao động, là lý do để các bên xác lập quan hệ lao động Thực tế, một công việc cụ thể cũng có thể là đối tượng của một số hợp đồng dân sự như hợp đồng gia công, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng vận chuyển, v.v…Tuy nhiên, “ công việc phải làm” trong hợp đồng lao động là việc làm có trả công Khi người lao động đã cung ứng sức lao động để làm một công việc cho người sử dụng lao động như đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động, họ phải nhận được tiền công, tiền lương mà không phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của người sử dụng lao động

Trong quan hệ hợp đồng lao động, người lao động phải tự mình thực hiện công việc theo quy định tại Điều 30 Bộ luật Lao động 2012, nhấn mạnh rằng công việc phải do chính người lao động đã ký hợp đồng thực hiện Địa điểm làm việc cũng phải tuân theo hợp đồng lao động hoặc thỏa thuận giữa hai bên Quy định này phản ánh rằng lao động bị ảnh hưởng bởi các đặc điểm nhân thân của người lao động như trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, kỹ năng, sức khỏe, và tính cách, những yếu tố mà người sử dụng lao động xem xét khi ký kết hợp đồng.

Thứ tư, việc thực hiện hợp đồng lao động có liên quan đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người lao động 5

Quá trình chuyển giao hàng hóa sức lao động diễn ra khi người lao động thực hiện công việc dưới sự quản lý của người sử dụng lao động, liên quan đến các vấn đề nhân thân như tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm Do đó, pháp luật yêu cầu các bên thỏa thuận về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, địa điểm làm việc, an toàn lao động, vệ sinh lao động và bảo hiểm xã hội để bảo vệ sức khỏe và tính mạng của người lao động Ngoài ra, pháp luật cũng quy định rằng người sử dụng lao động phải tôn trọng danh dự, nhân phẩm và đối xử công bằng với người lao động.

4 Trần Hoàng Hải (Chủ biên), Giáo trình Luật lao động, Nxb Hồng Đức, Hội Luật gia Việt Nam, Thành phố Hồ Chí

5 Trần Hoàng Hải (Chủ biên), Giáo trình Luật lao động, Nxb Hồng Đức, Hội Luật gia Việt Nam, Thành phố Hồ Chí

6 Khoản 1 Điều 23, Bộ luật Lao động 2012

7 Khoản 2 Điều 6, Bộ luật Lao động 2012

Trang 6 SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Vân

Thứ năm, hợp đồng lao động phải thực hiện một cách liên tục 8

Khi ký kết hợp đồng lao động, các bên cần thỏa thuận về thời hạn và giờ làm việc của người lao động Trong thời gian hợp đồng có hiệu lực, người lao động phải thực hiện nghĩa vụ lao động liên tục theo thỏa thuận trong hợp đồng, thỏa ước lao động tập thể (nếu có) và nội quy lao động Hợp đồng lao động chỉ được tạm hoãn trong những trường hợp do pháp luật quy định hoặc theo thỏa thuận giữa hai bên.

Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động

2.1.1 Chấm dứt hợp đồng lao động do ý chí của hai bên chủ thể

Hợp đồng lao động được hình thành từ sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động Theo Điều 36 Bộ luật Lao động 2012, việc chấm dứt hợp đồng lao động chủ yếu xảy ra do sự đồng thuận của cả hai bên.

Trường hợp khi hết hạn hợp đồng lao động

Khi hợp đồng lao động hết hạn, nếu không có nhu cầu tiếp tục, các bên có quyền chấm dứt hợp đồng Đối với cán bộ công đoàn kiêm nhiệm, họ có quyền làm việc tiếp cho đến khi hết nhiệm kỳ công đoàn, ngay cả khi hợp đồng đã hết hạn Theo Điều 47 Bộ luật Lao động 2012, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động ít nhất 15 ngày trước khi hợp đồng hết hạn.

Trường hợp đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động

Nội dung công việc của người lao động là một phần quan trọng trong hợp đồng lao động, được hai bên thống nhất khi ký kết Do đó, khi công việc theo hợp đồng đã hoàn thành, hợp đồng lao động sẽ chấm dứt hiệu lực, ngay cả khi thời hạn hợp đồng chưa kết thúc Điều này áp dụng cho những người lao động làm việc theo hợp đồng với công việc xác định.

Trường hợp hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động

Trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động, cả người lao động và người sử dụng lao động đều có thể có nhu cầu chấm dứt hợp đồng Bên có nhu cầu có quyền đề nghị chấm dứt hợp đồng với bất kỳ lý do nào, và nếu bên còn lại chấp nhận, hợp đồng sẽ được chấm dứt.

2.1.2 Hợp đồng lao động đương nhiên chấm dứt không phụ thuộc vào ý chí của hai bên chủ thể

Người lao động đủ điều kiện hưởng lương hưu cần đáp ứng yêu cầu về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và độ tuổi Cụ thể, nam giới phải đủ 60 tuổi và nữ giới đủ 55 tuổi để được nhận lương hưu theo quy định pháp luật Đối với những người lao động bị suy giảm khả năng lao động, điều kiện hưởng lương hưu có thể khác.

10 Khoản 1 Điều 47 Bộ luật lao động 2012

11 Điều 54 Luật Bảo hiểm xã hội 2014

12 Điều 55 Luật Bảo hiểm xã hội 2014

Trang 14 SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Vân hưu dưới 60 tuổi đối với nam, nữ dưới 55 tuổi và theo hướng dẫn Thông tư số 15/2016/TT-BLĐTBXH ban hành danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm 13

Người lao động sẽ bị chấm dứt hợp đồng nếu bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm thực hiện công việc theo hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Ba là, trong trường hợp người lao động hoặc người sử dụng lao động (cá nhân) qua đời, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, hoặc mất tích, thì theo khoản 6,7 Điều 36 sẽ có những quy định cụ thể liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan.

Bộ luật Lao động năm 2012 quy định về hai sự biến pháp lý này làm chấm dứt hợp đồng lao động

Trong quan hệ lao động, sự biến pháp lý như cái chết của người lao động hoặc người sử dụng lao động có thể dẫn đến việc chấm dứt hợp đồng lao động Khi một trong hai bên chủ thể không còn tồn tại, hợp đồng lao động sẽ không thể tiếp tục duy trì và do đó sẽ chấm dứt Những sự kiện pháp lý này là yếu tố quyết định trong việc xác định tính hợp lệ của quan hệ lao động.

Khi tổ chức sử dụng lao động chấm dứt tồn tại do hợp nhất, sáp nhập, chia tách doanh nghiệp hoặc hợp tác xã, quan hệ lao động cũng sẽ kết thúc Đây là những trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp, thường ít xảy ra tranh chấp.

2.1.3 Chấm dứt hợp đồng lao động do người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải

Chấm dứt hợp đồng lao động do bị xử lý kỷ luật sa thải xảy ra khi người lao động vi phạm kỷ luật lao động nghiêm trọng, gây thiệt hại đến tài sản và lợi ích của người sử dụng lao động Đây là hình thức kỷ luật nặng nhất theo Điều 125 Bộ luật Lao động 2012 Để duy trì quan hệ lao động hiệu quả và có trật tự, người sử dụng lao động cần quy định nội quy lao động và các chế tài áp dụng cho hành vi vi phạm, bao gồm hình thức kỷ luật sa thải.

Sa thải là hình thức kỷ luật nghiêm khắc nhất đối với người lao động Để đảm bảo việc xử lý kỷ luật lao động đúng pháp luật và tránh lạm quyền, người sử dụng lao động cần tuân thủ quy định pháp luật Việc sa thải trái pháp luật có thể xảy ra khi vì lợi ích cá nhân mà người sử dụng lao động quyết định chấm dứt hợp đồng lao động một cách không hợp lý.

Thông tư số 15/2016/TT-BLĐTBXH, ban hành ngày 28 tháng 06 năm 2016, của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định danh mục các nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, cũng như các nghề đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm Thông tư này nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động, đảm bảo an toàn và sức khỏe trong môi trường làm việc.

14 Khoản 6,7 Điều 36 Bộ luật Lao động 2012

15 Khoản 3 Điều 125 Bộ luật Lao động 2012

Trang 15 SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Vân động có những quy định cụ thể tại Điều 126 Bộ luật lao động năm 2012 gồm các trường hợp như sau:

Người lao động có thể bị xử lý kỷ luật nếu thực hiện các hành vi vi phạm như trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy tại nơi làm việc, tiết lộ bí mật kinh doanh hoặc công nghệ, và xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động Đặc biệt, đối với các hành vi này, cần xác định rõ giá trị thiệt hại về tài sản để có biện pháp xử lý thích hợp, theo quy định tại Điều 119 Bộ luật Lao động.

Nội quy lao động năm 2012 quy định một số nội dung quan trọng như thời giờ làm việc, nghỉ ngơi, trật tự nơi làm việc, an toàn lao động, vệ sinh lao động, bảo vệ tài sản, bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ và sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động.

Xử lý vi phạm quy định về chấm dứt hợp đồng lao động

Bài viết tập trung vào việc nghiên cứu các quy định hiện hành về chấm dứt hợp đồng lao động và đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam liên quan đến vấn đề này.

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài Đề tài tập trung nghiên cứu trong phạm vi phân tích những quy định pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động trong Bộ luật lao động 2012 và những văn bản hướng dẫn liên quan đề tài

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Trong quá trình nghiên cứu và viết luận, người viết áp dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, đồng thời lựa chọn tài liệu liên quan từ thực tiễn Bên cạnh đó, họ cũng đối chiếu một số quy định pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động và dẫn chiếu thông tin từ sách báo, internet cũng như các bản án đã được công bố.

Ngoài phần mục lục, Lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về chấm dứt hợp đồng lao động

Chương 2: Quy định pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động

Tình hình chung về chấm dứt hợp đồng lao động

Quá trình nghiên cứu về quy định pháp luật chấm dứt hợp đồng lao động cho thấy rằng quyền lợi của người lao động cần được đảm bảo Tuy nhiên, thực tế cho thấy các văn bản hướng dẫn bổ sung vẫn chưa quy định rõ ràng một số vấn đề, có những quy định chưa thỏa đáng và chưa đầy đủ Điều này dẫn đến việc tồn tại những lỗ hổng trong pháp luật, cần được xem xét điều chỉnh để đảm bảo công bằng cho cả hai bên trong quan hệ lao động.

Bản án số 483/2019/LĐ-PT ngày 28/5/2019 liên quan đến tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động giữa Công ty TNHH N Việt Nam và ông H Người viết không đồng ý với phán quyết của Tòa án phúc thẩm về quyết định thôi việc số 290-MSNV: 1147 ngày 24/7/2017, cho rằng việc chấm dứt hợp đồng lao động với ông H là trái pháp luật do vi phạm thỏa thuận theo Khoản 2 Điều 6 Nghị định 05/2015/NĐ-CP.

Tòa án không thể chỉ dựa vào Khoản 2 Điều 6 Nghị định 05/2015/NĐ-CP để đánh giá hành vi trái pháp luật, vì trong trường hợp người sử dụng lao động đồng ý chấm dứt hợp đồng lao động nhưng người lao động không đồng ý, hoặc ngược lại, cần có quy định rõ ràng về hình thức thỏa thuận, có thể là lời nói, hành vi hay văn bản.

Theo Bộ luật lao động 2012 và Luật Bảo hiểm xã hội, nam giới đủ 60 tuổi và nữ giới đủ 55 tuổi mới đủ điều kiện nghỉ hưu, nhưng nếu không có đủ thời gian đóng bảo hiểm xã hội, người lao động sẽ không được hưởng lương hưu Trong trường hợp này, việc khởi kiện của nguyên đơn có thể không hợp lý, vì trách nhiệm đảm bảo đủ thời gian đóng bảo hiểm không thuộc về người sử dụng lao động Người lao động có thể tham gia bảo hiểm tự nguyện để đủ điều kiện hưởng lương hưu Tuy nhiên, người sử dụng lao động có thể hỗ trợ bằng cách ký hợp đồng lao động tiếp theo để người lao động có thu nhập và thời gian tham gia bảo hiểm xã hội đầy đủ.

Theo Điều 91 Luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án có quyền áp dụng quy định này nhưng không chỉ rõ trong bản án ai đúng giữa người sử dụng lao động và người lao động.

Trang 33 SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Vân lao động chứng minh được người lao động không đủ sức khỏe để làm việc thì pháp luật xử lý như thế nào?, và ngược lại) Do đó trong vụ án này có nhiều tình tiết để xử lý mà Tòa án chỉ lấy sự không thỏa thuận để kết án là Công ty Trách nhiệm hữu hạn N Việt Nam ra quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với Ông H là trái quy định pháp luật là chưa đủ sức thuyết phục

Theo quan điểm của người viết, pháp luật hiện chưa quy định rõ ràng về việc người lao động đến tuổi nghỉ hưu mà chưa đủ thời gian đóng bảo hiểm xã hội có bị người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng hay không Điều này dẫn đến tâm lý lo ngại từ phía người sử dụng lao động, đặc biệt là khi giao kết hợp đồng với người cao tuổi, do họ e ngại về rủi ro lớn liên quan đến an toàn lao động.

Nguyên nhân và giải pháp

Mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động thường xuyên xảy ra vi phạm pháp luật, như việc chấm dứt hợp đồng lao động đơn phương từ cả hai phía vì nhiều lý do khác nhau Điều này tạo ra mâu thuẫn trong quan hệ lao động Mặc dù có những trường hợp áp dụng đúng quy định pháp luật trong việc chấm dứt hợp đồng, nhưng nếu căn cứ pháp lý và trình tự không rõ ràng, sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của cả hai bên cũng như lợi ích của nhà nước và xã hội Việc tìm ra giải pháp hoàn thiện quy trình chấm dứt hợp đồng lao động sẽ gặp khó khăn nếu các bên không tuân thủ đúng quy định pháp luật hoặc thực hiện không rõ ràng.

Thực trạng vi phạm về chấm dứt hợp đồng lao động xuất phát từ những quy định pháp luật chưa rõ ràng và còn nhiều bất cập Người lao động và người sử dụng lao động thường thiếu hiểu biết về luật lao động, dẫn đến ý thức pháp luật chưa cao Hơn nữa, tổ chức công đoàn còn hạn chế, phụ thuộc vào chủ sử dụng lao động, và thiếu khả năng bảo vệ quyền lợi cho người lao động Vai trò giám sát của công đoàn chưa được phát huy đầy đủ, đặc biệt trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động khi hợp đồng lao động bị chấm dứt.

Chính vì thế, việc hoàn thiện pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động là điều rất

Trang 34 SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Vân cần thiết cho tình hình thực tế hiện nay, một mặt để thực thi pháp luật hiệu quả cần phải tuyên truyền phổ biến rộng rãi trên các phương tiện truyền thông đại chúng, cần thiết nhất là công đoàn cơ sở phải nắm vững kiến thức về pháp luật lao động để tuyên cho người lao động hiểu rõ ràng là điều quan trọng Từ đó giúp hai bên chủ thể mắm rỏ về quyền và nghĩa vụ của mình trong giao kết hợp đồng hay chấm dứt hợp đồng lao động.

Một số bất cập trong quy định pháp luật và một số kiền nghị hoàn thiện quy định pháp luật

 Một số bất cập trong quy định pháp luật

Theo khoản 4 Điều 36 Bộ luật Lao động năm 2012, hợp đồng lao động sẽ chấm dứt khi người lao động đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và độ tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 187 Điều này có nghĩa là để hợp đồng lao động được chấm dứt theo quy định, người lao động phải đáp ứng cả hai yêu cầu trên Nếu người lao động chưa đủ một trong hai điều kiện, thì hợp đồng lao động không thể chấm dứt theo quy định này.

Quy định về tuổi nghỉ hưu hiện nay đang gây ra nhiều vướng mắc cho cả người lao động và doanh nghiệp Doanh nghiệp gặp khó khăn khi phải tiếp tục sử dụng lao động đủ tuổi nghỉ hưu nhưng chưa đủ thời gian đóng bảo hiểm xã hội, dẫn đến áp lực trong quản lý và gia tăng nguy cơ tai nạn lao động Trong khi đó, người lao động lớn tuổi cũng đối mặt với trở ngại trong việc xin việc, khi mà doanh nghiệp thường ưu tiên tuyển dụng lao động trẻ hơn, mặc dù lao động lớn tuổi có chuyên môn và kinh nghiệm cao hơn Điều này tạo ra một vòng luẩn quẩn, khiến cả hai bên đều gặp khó khăn trong việc giải quyết vấn đề lao động.

Trang 35 SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Vân

Điều 47 Bộ luật Lao động 2012 về "Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động" có những bất cập, bởi vì nội dung quy định không rõ ràng, khi gộp chung trách nhiệm của người lao động vào trách nhiệm của người sử dụng lao động, dẫn đến sự không phù hợp giữa tiêu đề và nội dung.

 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật

Trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định khoản 4 Điều 36 Bộ luật Lao động 2012

Phương án thứ nhất, sửa đổi quy định tại khoản 4 Điều 36 Bộ luật Lao động năm

Năm 2012, pháp luật đã mở rộng khả năng chấm dứt hợp đồng lao động, cho phép người lao động có thể chấm dứt hợp đồng nếu đáp ứng một trong hai điều kiện về độ tuổi hoặc thời gian đóng bảo hiểm xã hội Cụ thể, người lao động cần đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội hoặc đủ tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 187 của Bộ luật Lao động.

Phương án thứ hai đề xuất giữ nguyên quy định tại khoản 4 Điều 36 Bộ luật Lao động năm 2012, đồng thời bổ sung tại khoản 1 Điều 38, cho phép người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi người lao động đã đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại khoản 1 Điều 187, tức là nam đủ 60 tuổi và nữ đủ 55 tuổi.

Vấn đề này tại Điều 169 Dự thảo Bộ luật Lao động sửa đổi (Lần 7) theo đó tuổi nghỉ hưu được thực hiện theo hai phương án:

1 Người lao động bảo đảm điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội được hưởng lương hưu khi đủ tuổi nghỉ hưu

2 Tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với nữ vào năm 2035

Kể từ năm 2021, tuổi nghỉ hưu đối với lao động nam là 60 tuổi 03 tháng và đối với lao động nữ là 55 tuổi 04 tháng trong điều kiện lao động bình thường Mỗi năm, tuổi nghỉ hưu sẽ tăng thêm 03 tháng cho lao động nam và 04 tháng cho lao động nữ.

1 Người lao động bảo đảm điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội được hưởng lương hưu khi đủ tuổi nghỉ hưu

2 Tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với nam và đủ 60 tuổi đối với nữ

Trang 36 SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Vân

Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021, Chính phủ đã quy định lộ trình điều chỉnh tuổi nghỉ hưu của người lao động dựa trên các yếu tố như ngành nghề, tính chất công việc, môi trường và điều kiện lao động, cũng như tình hình cung cầu của thị trường lao động và xu hướng già hóa dân số.

Theo dự thảo sửa đổi Bộ luật Lao động, phương án 2 được ủng hộ, cho phép điều chỉnh tuổi hưu của người lao động dựa trên ngành nghề, tính chất công việc, môi trường lao động và điều kiện làm việc.

Trường hợp trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại Điều 47 Bộ luật lao động 2012

Theo Điều 47 Bộ luật Lao động 2012, nếu có quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động, thì cũng cần có quy định tương ứng về trách nhiệm của người lao động Điều này cho thấy sự cần thiết phải có sự cân bằng trong trách nhiệm giữa hai bên trong hợp đồng lao động, hoặc có thể sửa đổi tên điều luật “trách nhiệm khi chấm dứt hợp đồng lao động” để phản ánh rõ ràng hơn về trách nhiệm của cả hai chủ thể.

Trang 37 SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Vân

Ngày đăng: 20/07/2021, 21:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 08 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Khác
10. Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội;phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình 11. Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ Luật lao động 2012 Khác
12. Nghị định số 88/2015/NĐ-CP ngày 07/10/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 08 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Khác
13. Thông tư 47/2015/TT-BLĐTBXH ngày 16/11/2015 của Bộ lao động Thương binh và xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều về hợp đồng, kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động Khác
14. Nghị định số 148/2018/NĐ-CP ngày 24/12/2018 của Chính phủ về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ Luật lao động 2012. Danh mục án lệ và bản ánBản án số: 483/2019/LĐ-PT Ngày: 28/5/2019 V/v tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động Danh mục văn bản quy phạm pháp luật Khác
15. Trần Hoàng Hải (Chủ biên), Giáo trình Luật lao động, Nxb. Hồng Đức, Hội Luật gia Việt Nam,Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2013. Trang thông tin điện tử Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w