GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu đang trở thành lựa chọn tối ưu cho nhiều ngân hàng trung ương toàn cầu, theo khảo sát của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) với 88 quốc gia phi công nghiệp, trong đó hơn một nửa bày tỏ mong muốn áp dụng cơ chế này Việt Nam cũng nằm trong nhóm các quốc gia tiềm năng để thực hiện lạm phát mục tiêu, như được chỉ ra bởi Batini và Laxton (2006) Quyết tâm chuyển đổi sang chính sách này đã được thể hiện rõ trong đề án phát triển ngành ngân hàng Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, theo Quyết định số 112/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang thực hiện chính sách tiền tệ dựa trên điều tiết khối lượng tiền và hướng tới điều hành chính sách dựa trên lãi suất Mục tiêu là chuyển sang cơ chế lạm phát mục tiêu sau năm 2010 Đến nay, gần 75% các quốc gia được IMF đánh giá có tiềm năng đã thực hiện chuyển đổi này, trong khi Việt Nam vẫn đang trên con đường tiến tới lạm phát mục tiêu Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức mà Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần giải quyết để hoàn thành mục tiêu này.
Theo nghiên cứu của IMF, để áp dụng cơ chế lạm phát mục tiêu, một quốc gia cần thỏa mãn hai điều kiện cơ bản Thứ nhất, ngân hàng trung ương phải độc lập trong việc điều hành chính sách tiền tệ, không bị chi phối bởi chính sách tài khoá và không tài trợ cho thâm hụt ngân sách của Chính phủ, nhằm kiểm soát lạm phát hiệu quả Thứ hai, ngân hàng trung ương cần ưu tiên kiểm soát lạm phát hơn là theo đuổi nhiều mục tiêu khác như ổn định tỷ giá hay tăng trưởng kinh tế.
Việt Nam vẫn chưa áp dụng cơ chế lạm phát mục tiêu do thiếu độc lập trong công cụ chính sách tiền tệ và nhiều mục tiêu trong điều hành chính sách Nghiên cứu cho thấy thâm hụt ngân sách không phải là nguyên nhân chính gây ra lạm phát (Nguyen & Nguyen, 2010; Hoang, 2014), nhưng mối quan hệ giữa lãi suất và lạm phát ở Việt Nam chưa rõ ràng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hiện có quá nhiều mục tiêu, trong khi các ngân hàng trung ương khác chỉ tập trung vào ổn định giá cả Dù lạm phát đã được kiểm soát ở mức một con số từ năm 2012, sự thiếu cam kết về ổn định giá cả trong dài hạn vẫn tạo ra kỳ vọng tăng giá, ảnh hưởng đến phát triển bền vững Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới đề xuất lựa chọn giữa quản lý tỷ giá và mục tiêu lạm phát Mặc dù chính sách tiền tệ hiện nay ưu tiên kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá vẫn là vấn đề quan trọng cần giải quyết trước khi áp dụng cơ chế lạm phát mục tiêu, vì tỷ giá ảnh hưởng lớn đến lạm phát ở Việt Nam (Nguyen & Nguyen, 2010) Luận án sẽ phân tích sâu hơn về tác động của chế độ tỷ giá thả nổi đến mục tiêu kiểm soát lạm phát.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các điều kiện cần thiết để áp dụng cơ chế điều hành chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu tại Việt Nam, trong đó có nghiên cứu của Tô Kim Ngọc.
Nhiều nghiên cứu trước đây về chính sách tiền tệ ở Việt Nam, như của Tô Kim Ngọc và Nguyễn Khương Duy (2012), Nguyễn Xuân Hưng (2008, 2009), và Nguyễn Phúc Cảnh (2013), chưa phân tích sâu về độc lập công cụ chính sách tiền tệ cũng như vai trò của tỷ giá trong việc chuyển đổi sang cơ chế lạm phát mục tiêu Do đó, nghiên cứu này với đề tài “Chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu và khả năng áp dụng ở Việt Nam” sẽ làm rõ mức độ thoả mãn của Việt Nam đối với các điều kiện cần thiết để áp dụng cơ chế này thông qua các kiểm định định lượng Kết quả thực nghiệm từ luận án sẽ cung cấp cơ sở khoa học cho những khuyến nghị nhằm tiến tới áp dụng cơ chế lạm phát mục tiêu ở Việt Nam trong tương lai.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Mục tiêu chính của luận án là đánh giá khả năng áp dụng chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu tại Việt Nam, dựa trên hai điều kiện tiên quyết: sự độc lập của ngân hàng trung ương trong việc thực hiện chính sách tiền tệ và việc tập trung vào mục tiêu kiểm soát lạm phát.
Mục tiêu nghiên cứu thứ nhất:
Mức độ độc lập của ngân hàng trung ương bao gồm độc lập về chính trị, kinh tế và công cụ điều hành chính sách tiền tệ Để áp dụng chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu, ngân hàng trung ương cần có độc lập trong việc lựa chọn công cụ điều hành Ngân hàng trung ương Việt Nam có quyền lựa chọn công cụ chính sách tiền tệ, nhưng thành công trong cơ chế lạm phát mục tiêu phụ thuộc vào mối quan hệ giữa công cụ chính sách và lạm phát Luận án này sẽ kiểm định mối quan hệ giữa công cụ lãi suất, thường được sử dụng trong điều hành chính sách tiền tệ theo lạm phát mục tiêu, và lạm phát.
Mục tiêu nghiên cứu thứ hai:
Khi Ngân hàng Trung ương (NHTW) áp dụng chính sách tiền tệ theo lạm phát mục tiêu, mục tiêu chính là kiểm soát lạm phát Tại Việt Nam, chính sách tiền tệ thường hướng đến nhiều mục tiêu cùng lúc, trong đó NHTW có xu hướng ưu tiên ổn định tỷ giá hơn là kiểm soát lạm phát Sự lệch hướng này có thể ảnh hưởng đến việc áp dụng cơ chế lạm phát mục tiêu Do đó, nghiên cứu sẽ xác định rõ mục tiêu ưu tiên của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) trong việc điều hành chính sách tiền tệ là ổn định lạm phát hay ổn định tỷ giá.
Câu h i nghiên cứu được thiết lập dựa trên hai mục tiêu nghiên cứu của luận án như sau:
Câu hỏi nghiên cứu thứ nhất:
Liệu có tồn tại mối quan hệ giữa lãi suất chính sách và lạm phát ở Việt Nam hay không?
Câu hỏi nghiên cứu thứ hai:
Việc điều hành công cụ lãi suất hiện nay ở Việt Nam hướng tới kiểm soát lạm phát hay ổn định tỷ giá?
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận án sử dụng cả phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính để trả lời hai câu hỏi nghiên cứu Tác giả đã thiết lập mô hình hồi quy vector với năm biến: lạm phát, lãi suất, tỷ giá, tổng cầu trong nước và tổng cầu nước ngoài, phản ánh cơ chế dẫn truyền chính sách tiền tệ qua công cụ lãi suất Ngân hàng trung ương Việt Nam công bố hai loại lãi suất chính sách: lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu, từ đó tác giả xây dựng hai mô hình để kiểm định vai trò của chúng Sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai số VECM do chuỗi dữ liệu dừng ở sai phân bậc 1, kết quả phân tích sẽ cho thấy tác động của lãi suất tới lạm phát và tỷ giá Dữ liệu được xử lý trên phần mềm STATA 14, kết hợp với phân tích định tính để đối chiếu với thực trạng hiện nay Cuối cùng, tác giả đưa ra đánh giá về khả năng áp dụng chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu tại Việt Nam dựa trên kết quả nghiên cứu định lượng và định tính.
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu chính của luận án này là khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ và công cụ lãi suất chính sách ở Việt Nam
Luận án bắt đầu nghiên cứu từ tháng 1 năm 2011, thời điểm áp dụng Luật Ngân hàng Nhà Nước 2010 Dữ liệu được thu thập hàng tháng từ tháng 1 năm 2011 đến tháng 6 năm 2018.
KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN
Luận án được thiết kế với kết cấu 5 chương, bao gồm những nội dung chính như sau:
Chương 1 Giới thiệu chung về đề tài: Trong chương 1, tác giả trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu Đầu tiên, tác giả trình bày l do chọn đề tài nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu chính của luận án này Từ đó, câu h i nghiên cứu được phát triển cùng với việc trình bày các phương pháp nghiên cứu thích hợp để trả lời cho câu h i nghiên cứu đó Tiếp theo đó là những nội dung chính sẽ được trình bày trong luận án Và cuối cùng, những đóng góp và phát hiện mới của luận án cho việc nghiên cứu áp dụng chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu ở Việt Nam Những nội dung chính trong chương 1 giúp cho người đọc có cái nhìn bao quát về luận án.
Chương 2 Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu về chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu: Chương 2 trình bày các l thuyết liên quan đến chính sách tiền tệ nói chung và chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu nói riêng L thuyết về chính sách tiền tệ trong chương 2 chứng minh tại sao quốc gia áp dụng chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu chọn lãi suất làm công cụ chính trong việc điều hành chính sách tiền tệ Tiếp theo đó, chương 2 trình bày các định nghĩa khác nhau về chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu cũng như nhiều nhóm điều kiện khác nhau để các quốc gia chuẩn bị trước khi áp dụng chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu Ngoài ra, kinh nghiệm điều hành chính sách tiền tệ của các quốc gia áp dụng lạm phát mục tiêu cũng là nội dung quan trọng chương 2
Chương 3 Mô hình và phương pháp nghiên cứu: Trong chương 3, tác giả trình bày cách xây dựng 2 mô hình nghiên cứu l thuyết chính của luận án Tiếp theo đó, tác giả trình bày phương pháp ước lượng, cách chọn biến số đại diện và nguồn dữ liệu Và sau cùng là trình tự các bước tiến hành để phân tích dữ liệu
Chương 4 Kết quả nghiên cứu: Các kết quả thống kê, ước lượng phương trình, kết quả phân tích phương trình phản ứng đẩy và phân rã phương sai được trình bày một cách cụ thể rõ ràng trong chương 4 Dựa trên những kết quả nghiên cứu này, tác giả đưa ra nhận định về việc đánh giá khả năng áp dụng chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu ở Việt Nam
Chương 5 Kết luận và hàm ý chính sách: Chương 5 tóm t t những kết quả nghiên cứu chính được tìm thấy trong nghiên cứu Bên cạnh đó, tác giả đưa ra một số khuyến nghị cần thiết dựa trên những kết quả nghiên cứu của luận án.
Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu về lạm phát mục tiêu đã được thực hiện ở Việt Nam, nhưng hiện tại, luận án này chỉ ra rằng công cụ lãi suất là điểm nghẽn trong việc áp dụng chính sách tiền tệ theo lạm phát mục tiêu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong việc hoàn thành các mục tiêu do Chính phủ và Quốc hội đề ra Tuy nhiên, cần tiếp tục cải tiến và hiện đại hóa phương pháp điều hành chính sách tiền tệ Những bằng chứng từ luận án này hy vọng sẽ giúp các nhà chính sách nhận diện các vướng mắc hiện tại, từ đó thành công hơn trong việc áp dụng cơ chế lạm phát mục tiêu trong tương lai.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ LẠM PHÁT MỤC TIÊU
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
Chính sách tiền tệ được hiểu qua nhiều góc nhìn khác nhau từ các nhà khoa học Johnson (1973) định nghĩa nó là công cụ của ngân hàng trung ương nhằm kiểm soát cung tiền để đạt mục tiêu kinh tế chung Trong khi đó, Mishkin (2011) nhấn mạnh rằng chính sách này liên quan đến việc quản lý cung tiền để thiết lập lãi suất, từ đó đạt được các mục tiêu như kiềm chế lạm phát, ổn định tỷ giá và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tại Việt Nam, Nguyễn Văn Tiến (2009) cho rằng chính sách tiền tệ là một phần của chính sách kinh tế vĩ mô, trong đó ngân hàng trung ương sử dụng các công cụ để điều chỉnh cung tiền và lãi suất nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội đã đề ra.
Chính sách tiền tệ quốc gia, theo Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010 của Việt Nam, được định nghĩa là các quyết định về tiền tệ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm ổn định giá trị đồng tiền thông qua chỉ tiêu lạm phát Đây là chính sách vĩ mô mang tính quốc gia và là một phần quan trọng trong hệ thống chính sách kinh tế tài chính Ngân hàng trung ương có thể thực thi hai loại chính sách tiền tệ: nới lỏng và thắt chặt Chính sách nới lỏng nhằm cung ứng thêm tiền cho nền kinh tế để khuyến khích đầu tư và tạo việc làm, trong khi chính sách thắt chặt giảm cung ứng tiền nhằm hạn chế đầu tư và kiểm soát lạm phát.
Chính sách tiền tệ, theo quan điểm của các nhà hoạch định chính sách và các nhà khoa học, được coi là công cụ quản lý kinh tế vĩ mô do ngân hàng trung ương thực hiện Công cụ này nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội của quốc gia thông qua các biện pháp và phương tiện phù hợp.
2.1.2 Hệ thống mục tiêu chính sách tiền tệ
Mỗi quốc gia đặt ra nhiều mục tiêu cho nền kinh tế như tăng trưởng cao, toàn dụng việc làm, lạm phát thấp và tăng trưởng xuất khẩu, với chính sách tiền tệ riêng biệt tùy theo tình hình kinh tế Theo Mishkin và Eakins (2006), mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ thường tập trung vào ổn định giá cả, gia tăng mức nhân dụng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Bên cạnh đó, chính sách tiền tệ còn nhằm ổn định lãi suất, tỷ giá và thị trường tài chính.
Mục tiêu ổn định giá cả là ưu tiên hàng đầu của nhiều ngân hàng trung ương trên thế giới, nhằm kiểm soát lạm phát, vì lạm phát cao có thể gây hại cho nền kinh tế vĩ mô Lạm phát thấp và ổn định giúp hộ gia đình và doanh nghiệp dễ dàng đưa ra quyết định đầu tư trong môi trường kinh tế ổn định Sự biến động giá cả tạo ra tâm lý bất an và thiếu tin tưởng vào các chính sách vĩ mô của nhà nước Nếu không có biện pháp kiểm soát lạm phát hiệu quả, giá trị thực của tài sản người dân sẽ bị giảm đáng kể khi giá cả liên tục tăng cao.
Lạm phát duy trì ở mức thấp và ổn định mang lại lợi ích lớn cho hộ gia đình và doanh nghiệp trong việc đưa ra quyết định đầu tư Khi lạm phát được kiểm soát, người tiêu dùng có thể an tâm thực hiện các quyết định tiêu dùng và chi tiêu mà không lo ngại về tác động tiêu cực của lạm phát.
Lạm phát không phải lúc nào cũng tiêu cực; nó có thể là "liều thuốc bổ" cho nền kinh tế nếu ngân hàng trung ương điều chỉnh lượng tiền phù hợp Qua việc cung cấp tín dụng, ngân hàng trung ương hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng đầu tư, tạo ra nhiều công việc và giảm tỷ lệ thất nghiệp, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Lạm phát cao và thiểu phát đều gây ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế, dẫn đến sản xuất đình trệ và tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, từ đó kéo theo nhiều tệ nạn xã hội như rượu chè, trộm cắp và đói kém Do đó, nhiệm vụ quan trọng của ngân hàng trung ương là duy trì sự ổn định giá cả và kiểm soát lạm phát ở mức thấp, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế.
Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng, tăng cung tiền và giảm lãi suất Điều này khuyến khích doanh nghiệp đầu tư và mở rộng sản xuất, dẫn đến tăng tổng sản phẩm xã hội Bên cạnh đó, việc gia tăng cung tiền cũng kích thích tiêu dùng, giúp doanh nghiệp bán được nhiều hàng hóa hơn và cần tuyển thêm nhân công, máy móc, nguyên vật liệu Nhờ đó, chính sách nới lỏng tiền tệ góp phần quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế.
Kinh tế tăng trưởng quá nóng có thể gây ra lạm phát cao, trong khi suy thoái kinh tế thường dẫn đến thiểu phát Cả hai tình trạng này đều gây bất lợi cho nền kinh tế Vì vậy, ngân hàng trung ương đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết lượng tiền cung ứng, đảm bảo mức độ vừa phải để nền kinh tế có thể hấp thụ và phát triển ổn định.
Mục tiêu tăng mức nhân dụng:
Tạo ra nhiều việc làm cho người lao động là mục tiêu quan trọng của nhiều chính sách vĩ mô, bao gồm cả chính sách tiền tệ, vì thất nghiệp cao có thể dẫn đến những tác động tiêu cực đến kinh tế xã hội, như nghèo đói và tệ nạn xã hội Mỗi quốc gia cần đảm bảo rằng người trong độ tuổi lao động có việc làm, mặc dù luôn tồn tại một tỷ lệ thất nghiệp nhất định do hai loại thất nghiệp: thất nghiệp tạm thời và thất nghiệp cơ cấu Thất nghiệp tạm thời xảy ra khi người lao động tìm việc hoặc nâng cao trình độ chuyên môn, trong khi thất nghiệp cơ cấu liên quan đến việc không đáp ứng yêu cầu về kỹ năng của công việc Do đó, tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, bao gồm cả thất nghiệp tạm thời và cơ cấu, luôn lớn hơn không, phản ánh sự không khớp giữa cung và cầu lao động trên thị trường.
Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, lạm phát và thất nghiệp là rất phức tạp Lạm phát cao có thể thúc đẩy sự phát triển kinh tế, nhưng nếu không kiểm soát, nó có thể dẫn đến khủng hoảng và thất nghiệp tăng cao Ngược lại, lạm phát thấp có thể làm đình trệ sản xuất và thương mại, gây ra tăng trưởng kém và thất nghiệp cao Do đó, các nhà hoạch định chính sách cần duy trì lạm phát ở mức độ vừa phải để đảm bảo nền kinh tế phát triển bền vững và tạo ra việc làm.
Mục tiêu ổn định tỷ giá hối đoái:
Trong bối cảnh nền kinh tế mở và toàn cầu hóa hiện nay, sự biến động tỷ giá hối đoái ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh tế, đặc biệt là xuất nhập khẩu Khi tỷ giá giảm, nội tệ tăng giá, làm giảm sức cạnh tranh hàng hóa trong nước; ngược lại, tỷ giá tăng dẫn đến giá hàng nhập khẩu cao, gây áp lực lạm phát Hơn nữa, sự biến động tỷ giá tác động mạnh đến kế hoạch sản xuất kinh doanh, do nhiều nguyên vật liệu ở Việt Nam phải nhập khẩu Do đó, để ổn định nền kinh tế, chính sách tiền tệ cần gắn liền với mục tiêu ổn định tỷ giá.
Mục tiêu ổn định lãi suất:
Duy trì sự ổn định lãi suất là một mục tiêu quan trọng trong chính sách tiền tệ, ảnh hưởng đến quyết định chi tiêu, đầu tư và tiết kiệm của doanh nghiệp và hộ gia đình Biến động lãi suất bất thường gây khó khăn cho việc lập kế hoạch sản xuất kinh doanh Vì vậy, các ngân hàng trung ương thường hướng tới mục tiêu ổn định lãi suất để góp phần vào sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô.
Mục tiêu ổn định thị trường tài chính là rất quan trọng đối với nền kinh tế, vì đây là nơi tạo ra nguồn vốn cho phát triển và điều hòa vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu Ngân hàng trung ương, với hiểu biết sâu sắc về thị trường tài chính, có thể thúc đẩy sự ổn định thông qua việc điều chỉnh lãi suất và khối lượng tín dụng, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế.
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ LẠM PHÁT MỤC TIÊU
2.2.1 Sự ra đời của khuôn khổ chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu
Chính sách tiền tệ toàn cầu đã phát triển hơn 50 năm với nhiều khuôn khổ khác nhau, phản ánh hoàn cảnh lịch sử kinh tế xã hội và điều kiện vĩ mô của từng quốc gia Để quản lý hiệu quả, ngân hàng trung ương cần chọn một "neo" danh nghĩa cho chính sách, như tỷ giá hối đoái, cung tiền hoặc lạm phát Neo danh nghĩa này giúp ổn định kỳ vọng về lạm phát, ngăn giá cả tăng hoặc giảm quá nhanh, từ đó bảo vệ giá trị đồng nội tệ Lịch sử cho thấy, khuôn khổ chính sách tiền tệ có thể chia thành ba giai đoạn chính: thời kỳ tỷ giá cố định, thời kỳ cung tiền và thời kỳ lạm phát mục tiêu.
Thời kỳ tỷ giá cố định:
Dưới chế độ bản vị vàng, các quốc gia thường liên kết giá trị đồng bản tệ với vàng hoặc một đồng tiền mạnh Trong những năm 1950 và 1960, mục tiêu chính của chính sách tiền tệ là ổn định giá trị ngoại tệ, tức là ổn định tỷ giá, trong khi việc kiểm soát giá cả trong nước lại được xem là thứ yếu.
Trong bối cảnh tỷ giá cố định, các ngân hàng trung ương phải giữ tỷ giá ổn định, dẫn đến mất cân bằng cán cân thanh toán và tác động tiêu cực đến nền kinh tế vĩ mô Khi một quốc gia có cán cân thương mại thặng dư hoặc nguồn vốn đầu tư lớn, cầu nội tệ tăng, làm tăng tỷ giá Ngân hàng trung ương cần can thiệp bằng cách bán nội tệ và mua ngoại tệ, dẫn đến tăng dự trữ ngoại hối nhưng cũng có nguy cơ lạm phát do nguồn cung tiền tăng Sự tăng giá hàng hóa trong nước có thể làm giảm xuất khẩu, gây thâm hụt cán cân thương mại Nếu không có đầu tư lớn, tỷ giá có thể giảm do cung nội tệ tăng, buộc ngân hàng trung ương phải bán ngoại tệ để cân bằng cán cân thanh toán, từ đó làm giảm nguồn cung tiền và tăng lãi suất, ảnh hưởng tiêu cực đến đầu tư và phát triển kinh tế.
Trong nền kinh tế mở với chế độ tỷ giá cố định, việc dòng vốn vào và ra không được kiểm soát có thể dẫn đến khủng hoảng cán cân thanh toán nếu ngân hàng trung ương không có đủ dự trữ và can thiệp kịp thời Sự rút vốn nhanh chóng hoặc dòng vốn vào ồ ạt có thể gây rối loạn kinh tế tạm thời Chế độ tỷ giá cố định tạo ra thách thức cho các nhà hoạch định chính sách vĩ mô, buộc họ phải điều hành chính sách tiền tệ mà không có sự độc lập, vì tỷ giá hối đoái bị ràng buộc với đồng ngoại tệ mạnh Khi giá trị của đồng ngoại tệ này tăng lên, các quốc gia có tỷ giá neo theo nó cũng phải điều chỉnh chính sách tiền tệ thông qua can thiệp trên thị trường ngoại hối.
Sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods vào những năm 1970 đã dẫn đến lạm phát toàn cầu gia tăng nhanh chóng, buộc các quốc gia công nghiệp phải tìm kiếm một neo danh nghĩa mới Họ đã chuyển từ cơ chế điều hành chính sách tiền tệ neo với tỷ giá sang kiểm soát khối lượng tiền cung ứng Trong thập niên 70 và 80, nhiều quốc gia bắt đầu áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi, sử dụng cung tiền làm neo cho chính sách tiền tệ, giúp ngân hàng trung ương tập trung vào kiểm soát lạm phát mà không cần can thiệp vào thị trường Các quốc gia này đã cố gắng kiểm soát tổng lượng cung tiền (M2 hoặc M3) để duy trì lạm phát ở mức thấp Tuy nhiên, việc điều hành chính sách tiền tệ theo cung tiền cũng gặp phải hạn chế, như mối quan hệ không rõ ràng giữa cung tiền và lạm phát Một số quốc gia dù thực hiện đúng chỉ tiêu cung ứng tiền vẫn có tỷ lệ lạm phát cao, trong khi những quốc gia khác bơm tiền nhiều hơn chỉ tiêu nhưng vẫn rơi vào tình trạng thiểu phát Đối với công chúng, việc ngân hàng trung ương kiểm soát cung tiền mà không kiểm soát được lạm phát là không có ý nghĩa, vì họ cần giá cả ổn định và lạm phát thấp Để thực hiện hiệu quả chính sách tiền tệ theo cung tiền, ngân hàng trung ương cần kiểm soát tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, điều này gây khó khăn do không thể quản lý tất cả các tổ chức trung gian tài chính.
Thời kỳ mục tiêu lạm phát:
Vào những năm 1980, chính sách tiền tệ dựa vào tổng lượng tiền của ngân hàng trung ương đã thất bại khi lạm phát gia tăng, buộc các nước phát triển phải áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt với lãi suất cao, dẫn đến đình trệ kinh tế Sự mất lòng tin vào ngân hàng trung ương gia tăng, mặc dù họ cam kết duy trì lạm phát thấp, khiến kỳ vọng lạm phát tiếp tục tăng Do đó, các quốc gia cần tìm kiếm một neo mới cho chính sách tiền tệ Năm 1989, New Zealand đã tiên phong trong việc sử dụng mục tiêu lạm phát làm neo cho chính sách tiền tệ, sau đó nhiều nước như Úc, Canada, Phần Lan và Tây Ban Nha cũng đã áp dụng khung chính sách này.
2.2.2 Khái niệm chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu
Vào những năm thập niên 70, một số nước công nghiệp trên thế giới áp dụng chính sách tiền tệ cung tiền mục tiêu (monetary targeting) gồm 3 nội dung chính:
(i) Sự tin tưởng vào thông tin chuyển tải bởi cung tiền để thực hiện chính sách tiền tệ;
(ii) Thông báo những mục tiêu cần đạt được cho cung tiền;
(iii) Cơ chế giải trình cho những sự sai lệch so với mục tiêu tiền tệ
Các quốc gia như Anh, Mỹ và Canada đã hoàn toàn thất bại trong việc áp dụng chính sách tiền tệ cung tiền mục tiêu do hai lý do chính: không đạt được mục tiêu tăng cung tiền và sự phối hợp không đồng đều giữa cung tiền và tiền lương, điều này đã cản trở nỗ lực kiềm chế lạm phát (Hammond, 2012) Để khắc phục những nhược điểm này, các quốc gia phát triển đã chuyển sang áp dụng chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu, bao gồm năm thành phần chính theo Mishkin (2001).
(i) Minh bạch các mục tiêu trung hạn;
Cơ quan quản lý tiền tệ cần cam kết duy trì ổn định giá cả như một mục tiêu chính trong dài hạn của chính sách tiền tệ.
Chiến lược thông tin bao gồm nhiều biến số quan trọng, không chỉ giới hạn ở tổng cung tiền hay tỷ giá hối đoái, mà còn được sử dụng để thiết lập các công cụ chính sách hiệu quả.
Minh bạch thông tin về chính sách tiền tệ là rất quan trọng, vì nó giúp công chúng và thị trường hiểu rõ hơn về các kế hoạch và mục tiêu mà các nhà làm chính sách đề ra Việc truyền thông hiệu quả sẽ tạo ra sự tin tưởng và hỗ trợ từ phía người dân và các nhà đầu tư.
(v) Tăng cường sự giải trình của ngân hàng trung ương trong việc cố g ng đạt được các mục tiêu đề ra của chính sách tiền tệ
Một số ý kiến cho rằng lạm phát mục tiêu chủ yếu dựa vào dự báo lạm phát như một chỉ dẫn trung gian cho chính sách tiền tệ, đồng thời thực hiện chính sách trong một khuôn khổ minh bạch để nâng cao tính trách nhiệm.
Khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ theo lạm phát mục tiêu được xác định bởi bốn yếu tố chính: đầu tiên, mục tiêu lạm phát đóng vai trò là cái neo cho chính sách tiền tệ; thứ hai, sự độc lập của Ngân hàng Trung ương trong việc thực hiện lạm phát mục tiêu; thứ ba, khả năng dự báo và ứng phó với lạm phát; và cuối cùng, mức độ minh bạch và trách nhiệm trong chính sách tiền tệ (Schmidt-Hebbel và Tapia, 2002).
Khuôn khổ chính sách tiền tệ (CSTT) lạm phát mục tiêu cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa thể chế và điều hành Đầu tiên, mục tiêu lạm phát cần được công bố công khai để tạo sự minh bạch Thứ hai, cần cam kết ổn định tỷ giá để đảm bảo sự tin tưởng của thị trường Thứ ba, việc điều hành CSTT nên dựa vào dự báo lạm phát như một mục tiêu hoạt động chính Thứ tư, cần có sự giải thích rõ ràng về chính sách tiền tệ để người dân và doanh nghiệp hiểu rõ hơn Cuối cùng, trách nhiệm của Ngân hàng Trung ương cần được xác định một cách rõ ràng để nâng cao tính hiệu quả trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế (Ito và Hayashi 2004).
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) định nghĩa chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu là thông báo công khai về chỉ tiêu lạm phát trung hạn và uy tín của cơ quan tiền tệ trong việc đạt được mục tiêu này Điều này bao gồm việc cung cấp thông tin về kế hoạch và mục tiêu của nhà hoạch định chính sách tới công chúng và thị trường, cũng như trách nhiệm giải trình của ngân hàng trung ương trong việc thực hiện các chỉ tiêu lạm phát Các quyết định về chính sách tiền tệ dựa trên độ lệch dự báo lạm phát cũng đóng vai trò quan trọng như chỉ tiêu trung gian trong chính sách lạm phát mục tiêu.
Xét tổng thể, nếu lạm phát được coi là mục tiêu chính trong điều hành chính sách tiền tệ, thì chính sách này cần bao gồm các yếu tố sau:
KINH NGHIỆM ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ LẠM PHÁT MỤC TIÊU CỦA MỘT SỐ NGÂN HÀNG TRUNG ƢƠNG TRÊN THẾ GIỚI
2.3.1 Lý do các ngân hàng trung ƣơng chọn chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu
Nhiều ngân hàng trung ương đã chuyển sang cơ chế điều hành chính sách lạm phát mục tiêu sau khi chính sách tiền tệ theo cung tiền thất bại Sự thất bại này, cùng với sự sụp đổ của chế độ tỷ giá cố định vào đầu những năm 1990, đã tạo ra lạm phát mục tiêu với tỷ giá thả nổi như một khuôn khổ mới cho chính sách tiền tệ Khuôn khổ này phù hợp với quan điểm của các nhà khoa học, như Milton Friedman và Edmund Phelps, những người đã chỉ ra rằng lạm phát cao không dẫn đến tăng trưởng và việc làm cao Do đó, các nhà chính sách đã chuyển từ việc xem chính sách tiền tệ như một công cụ ngắn hạn sang tập trung vào mục tiêu trung hạn là ổn định giá cả, mục tiêu trung tâm của chính sách lạm phát mục tiêu.
Các nhà khoa học và chính sách nhận thấy rằng việc duy trì lạm phát ở mức thấp mang lại nhiều lợi ích hơn so với việc chấp nhận lạm phát cao để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Vì vậy, ổn định giá cả đã trở thành mục tiêu hàng đầu của các ngân hàng trung ương.
Nhiều nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng kỳ vọng về lạm phát đóng vai trò quan trọng trong chính sách tiền tệ, ảnh hưởng đến quyết định của các tác nhân kinh tế Khi mức lạm phát không được kiểm soát, người dân và doanh nghiệp sẽ có xu hướng dự đoán lạm phát cao hơn trong tương lai Do đó, chính sách lạm phát mục tiêu được xem là một biện pháp hiệu quả để ổn định kỳ vọng lạm phát và kiềm chế lạm phát ở mức thấp Điều này đã thúc đẩy các quốc gia phát triển như Anh, New Zealand, cũng như các nền kinh tế chuyển đổi như Hungary và Ba Lan áp dụng cơ chế điều hành chính sách tiền tệ theo lạm phát mục tiêu Thêm vào đó, các cú sốc từ khủng hoảng tài chính cũng đã khiến một số quốc gia như Thái Lan và Hàn Quốc thay đổi chính sách tiền tệ của mình.
Quốc, Indonesia hay nhóm các nước có nền kinh tế mới nổi chuyển sang cơ chế điều chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu
Các quốc gia áp dụng chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu thường có động lực chung là tìm kiếm một neo mới cho chính sách sau khi chế độ tỷ giá cố định bị hủy bỏ, mặc dù lý do lựa chọn có thể khác nhau.
2.3.2 Kinh nghiệm điều hành chính sách tiền tệ của một số ngân hàng trung ƣơng trên thế giới
2.3.2.1 Tổng quan về các quốc gia áp dụng chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu
Tính đến năm 2015, 36 ngân hàng trung ương trên toàn cầu đã áp dụng cơ chế điều hành chính sách tiền tệ theo lạm phát mục tiêu, trong đó có 9 quốc gia phát triển và nhiều quốc gia đang phát triển cùng thị trường mới nổi Điều này cho thấy, không chỉ các nước phát triển mà cả các nước đang phát triển cũng theo xu hướng này New Zealand là quốc gia đầu tiên áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu vào năm 1989 Ba quốc gia Phần Lan, Tây Ban Nha và Slovakia đã ngừng áp dụng cơ chế này khi gia nhập Liên minh Châu Âu Một số quốc gia chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường như Cộng hòa Séc, Hungary, Ba Lan và Armenia cũng đã áp dụng chính sách này Sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, các nước như Thái Lan, Philippines, Indonesia và Hàn Quốc đã áp dụng khuôn khổ chính sách tiền tệ theo lạm phát mục tiêu nhằm khôi phục niềm tin của thị trường.
Biểu đồ 2.1 Các quốc gia áp dụng chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu
Biểu đồ 2.1 cho thấy rằng khi áp dụng chính sách tiều tệ lạm phát mục tiêu, mức lạm phát của các quốc gia như Peru thường ở mức thấp, thậm chí âm Các quốc gia này cần phải giảm lạm phát xuống mức thấp trước khi thực hiện chính sách mới, vì nếu áp dụng khi lạm phát cao, ngân hàng trung ương sẽ gặp khó khăn trong việc duy trì cam kết về mức lạm phát mục tiêu Hơn nữa, việc dự báo lạm phát trong bối cảnh lạm phát cao và biến động liên tục cũng làm cho việc đạt được mục tiêu này trở nên khó khăn hơn.
Mục tiêu chính của sách tiền tệ ở các quốc gia áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu là ổn định giá cả, điều này được quy định trong luật ngân hàng trung ương Ngoài ra, nhiều luật ngân hàng trung ương còn bao gồm các mục tiêu phụ như thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao an sinh xã hội Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2009, ngân hàng trung ương Anh còn phải đảm nhận nhiệm vụ ổn định tài chính.
Mức độ độc lập của ngân hàng trung ương:
Hầu hết các ngân hàng trung ương hoạt động độc lập, tuy nhiên mức độ độc lập này có thể khác nhau Các ngân hàng trung ương có độc lập về mục tiêu (goal independence) có quyền tự quyết định mục tiêu của chính sách tiền tệ Trong khi đó, những ngân hàng trung ương được trao quyền độc lập về công cụ (instrument independence) có khả năng lựa chọn các công cụ để thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ.
Các ngân hàng trung ương trên thế giới đang ngày càng hoạt động độc lập, với nghiên cứu cho thấy rằng mức độ độc lập cao hơn dẫn đến hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ tốt hơn (Alesina và Summers, 1993) Khi phân loại các ngân hàng trung ương theo mức độ độc lập, có thể nhận thấy rằng những quốc gia có ngân hàng trung ương độc lập thường có tỷ lệ lạm phát thấp hơn (biểu đồ 2.2) Đồng thời, những quốc gia này vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và tỷ lệ thất nghiệp thấp, mặc dù lạm phát ở mức thấp Xu hướng này đã thúc đẩy nhiều ngân hàng trung ương trên thế giới hướng tới hoạt động độc lập hơn so với chính phủ.
Biểu đồ 2.2 Mối quan hệ mức độ độc lập của ngân hàng trung ƣơng và lạm phát
Theo Alesina và Summers (1993), sự độc lập của ngân hàng trung ương là yếu tố quan trọng nhất trong việc áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu Trong số các quốc gia được đề cập, mức độ độc lập của ngân hàng trung ương khác nhau: 15 quốc gia có mục tiêu lạm phát do chính phủ và ngân hàng trung ương quyết định, 9 ngân hàng trung ương tự quyết định mức mục tiêu lạm phát, và 3 quốc gia để chính phủ thực hiện quyết định này Đặc biệt, chính phủ Thụy Điển hoàn toàn không can thiệp vào các quyết định của ngân hàng trung ương.
Mức lạm phát mục tiêu:
Lạm phát mục tiêu phù hợp là một chủ đề gây tranh cãi trong kinh tế học Các nhà kinh tế học Keynes cho rằng lạm phát bằng không là lý tưởng, trong khi trường phái tiền tệ của Friedman lại ủng hộ lạm phát âm Tuy nhiên, thực tế cho thấy các nhà hoạch định chính sách thường chọn lạm phát mục tiêu ở mức dương để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Có nhiều lý do để không giữ lạm phát ở mức 0% mà thay vào đó duy trì lạm phát ở mức dương thấp Trước hết, từ góc độ kinh tế học, nền kinh tế gặp khó khăn trong việc giảm giá danh nghĩa do sự cứng nhắc về giá cả và lương Khi có tỷ lệ lạm phát thấp, giá cả và lương có thể điều chỉnh một cách linh hoạt hơn mà không cần giảm giá trị tuyệt đối Thứ hai, việc đo lường lạm phát có thể không chính xác vì chất lượng hàng hóa và dịch vụ không được phản ánh đầy đủ trong giá cả, do đó, lạm phát dương là cần thiết để bù đắp giá trị gia tăng Cuối cùng, một số ý kiến cho rằng việc giảm lạm phát có thể gây tốn kém, vì vậy duy trì lạm phát ở mức độ nhất định sẽ giúp cân bằng giữa chi phí và lợi ích.
Tỷ lệ lạm phát mục tiêu 2-3% đã được nhiều ngân hàng trung ương trên thế giới chấp nhận và coi là hợp lý Tuy nhiên, ở một số quốc gia, mức lạm phát mục tiêu có thể cao hơn Có 19 quốc gia có tỷ lệ lạm phát mục tiêu thấp hơn hoặc bằng 3%, với thời gian thực hiện mục tiêu này thường là trung hạn Thời gian để đạt được mức lạm phát mục tiêu phụ thuộc vào cơ chế truyền dẫn của chính sách tiền tệ; nếu cơ chế truyền dẫn dài, ngân hàng trung ương sẽ gặp khó khăn trong việc điều chỉnh lạm phát trong ngắn hạn.
Bảng 2.1 Mức lạm phát mục tiêu của các quốc gia áp dụng IT
Quốc gia Mục tiêu lạm phát
2.3.2.2 Chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu của một số ngân hàng trung ƣơng trên thế giới
Ngân hàng trung ƣơng New Zealand:
Vào năm 1989, New Zealand đã thông qua một đạo luật về ngân hàng trung ương, đánh dấu bước ngoặt trong cải cách kinh tế với chính sách tiền tệ theo lạm phát mục tiêu Từ ngày 1 tháng 2 năm 1990, ngân hàng trung ương New Zealand trở thành ngân hàng độc lập nhất trong các quốc gia phát triển, và là quốc gia đầu tiên áp dụng chính sách này Đạo luật yêu cầu ngân hàng trung ương tập trung vào mục tiêu duy nhất là bình ổn giá cả, với một bản giao ước công khai giữa Bộ trưởng Bộ Tài chính và Thống đốc ngân hàng, nêu rõ các mục tiêu chính sách tiền tệ và mức lạm phát dự kiến Thống đốc ngân hàng chịu trách nhiệm về chính sách tiền tệ và có thể bị sa thải nếu không đạt được các mục tiêu và cam kết đã đề ra.
Vào ngày 2 tháng 3 năm 1990, Bộ trưởng Bộ Tài chính và Thống đốc Ngân hàng đã công bố mục tiêu lạm phát hằng năm của ngân hàng trung ương trong khoảng 3-5% Các báo cáo sau đó đã đặt mục tiêu giảm lạm phát xuống 0-2% cho đến năm 1996 Mặc dù lạm phát đã giảm từ 5% xuống 2%, nhưng khủng hoảng tài chính kéo dài đã dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp cao, buộc các nhà hoạch định chính sách phải điều chỉnh mục tiêu lạm phát lên 0-3%, với mức dao động từ 1 đến 3% mỗi năm.
TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
Chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu, lần đầu tiên được áp dụng tại New Zealand vào năm 1990, đã phát triển và lan rộng ra nhiều quốc gia trong suốt 25 năm qua Nhiều nghiên cứu quốc tế đã được thực hiện nhằm làm rõ khái niệm và định nghĩa của chính sách này, cũng như các đặc điểm và yếu tố cơ bản của nó Những điều kiện tiên quyết để áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu thành công cũng được phân tích, bên cạnh việc so sánh với các khuôn khổ chính sách tiền tệ khác trong lịch sử kinh tế Nghiên cứu cũng xem xét khả năng ứng phó của khuôn khổ lạm phát mục tiêu trước các cú sốc và rút ra kinh nghiệm từ các quốc gia phát triển cũng như các quốc gia mới nổi trong việc thực hiện chính sách này Thêm vào đó, một số kỹ thuật áp dụng chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu cũng được đề cập.
Theo Mishkin (2001), chính sách lạm phát mục tiêu là một chiến lược chính sách tiền tệ gồm 5 thành phần chính:
(i) Công bố thông tin về mục tiêu lạm phát trong trung hạn (thông tin cụ thể dưới dạng con số),
Cam kết duy trì sự ổn định giá cả là mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ, trong khi các mục tiêu khác chỉ đóng vai trò thứ yếu.
Chiến lược thông tin bao gồm nhiều yếu tố, không chỉ giới hạn ở tổng cung tiền hay tỷ giá hối đoái, mà còn được sử dụng để thiết lập các công cụ chính sách hiệu quả.
Tăng cường tính minh bạch trong chiến lược chính sách tiền tệ bằng cách truyền thông hiệu quả với công chúng và thị trường, thông báo rõ ràng về kế hoạch, mục tiêu và quyết định của ngân hàng trung ương.
(v) Tăng trách nhiệm giải trình của ngân hàng trung ương để đạt được các mục tiêu lạm phát đã được đề ra
Mục tiêu chính của chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu là ổn định giá cả, giúp các thành phần kinh tế không phải lo lắng về sự biến động giá cả khi đưa ra quyết định Tỷ lệ lạm phát hàng năm thấp, thường ở mức một con số, được xem là điều kiện lý tưởng Thực tế, các quốc gia áp dụng chính sách này thường đặt mức lạm phát mục tiêu trong khoảng 1-3%.
Chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu yêu cầu các ngân hàng trung ương thiết lập một mục tiêu lạm phát cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định và thực hiện các biện pháp chính sách tiền tệ để đạt được mục tiêu này, nhằm ổn định giá cả Khác với các chiến lược như chính sách tỷ giá mục tiêu hay chính sách cung tiền mục tiêu, chính sách lạm phát mục tiêu tập trung trực tiếp vào việc đạt được ổn định lạm phát mà không cần thông qua các biến trung gian.
Tác động của việc áp dụng chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu tới nền kinh tế:
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng việc áp dụng chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu giúp cải thiện tình hình kinh tế vĩ mô của quốc gia, như đã được chứng minh bởi Bernanke và cộng sự (1999), Corbo và cộng sự (2001), cũng như Neumann và Von.
Nghiên cứu cho thấy, sau khi áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu, các quốc gia có tỷ lệ lạm phát thấp và ổn định hơn, đặc biệt là giữa các quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) và các nền kinh tế mới nổi Theo Ball và Sheridan (2005) cũng như các nghiên cứu khác, sự khác biệt về lạm phát giữa các quốc gia áp dụng và không áp dụng chính sách này không đáng kể trong nhóm OECD Ngược lại, các nền kinh tế mới nổi có sự khác biệt rõ rệt, với các quốc gia áp dụng lạm phát mục tiêu có mức lạm phát thấp hơn Trong bối cảnh cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009, các quốc gia áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu cho thấy khả năng đối phó tốt hơn so với các quốc gia không áp dụng Mặc dù không có sự khác biệt rõ rệt về tỷ lệ tăng trưởng trong nhóm OECD, nhưng trong suốt khủng hoảng, các quốc gia này vẫn duy trì tỷ lệ phát ổn định hơn.
Nghiên cứu năm 2014 cho thấy các quốc gia phát triển và đang phát triển áp dụng chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu có khả năng vượt qua khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 tốt hơn so với những quốc gia không áp dụng Các ngân hàng trung ương nên xem xét lạm phát mục tiêu như một giải pháp để đối phó với khủng hoảng, vì không có nghiên cứu nào chỉ ra rằng việc áp dụng chính sách này gây bất lợi cho tăng trưởng, sản lượng hay việc làm Lạm phát mục tiêu giúp ổn định lạm phát trong dài hạn và không có quốc gia nào đã áp dụng chính sách này quay lại Đây được xem là một cơ chế chính sách tiền tệ linh hoạt, hỗ trợ nhiều quốc gia vượt qua các cú sốc và khủng hoảng lớn.
Điều kiện áp dụng chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu:
Theo Quỹ Tiền tệ Thế giới (2005), để áp dụng chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu, cần có sự độc lập của ngân hàng trung ương, cơ sở hạ tầng kỹ thuật phát triển, nền kinh tế không can thiệp vào giá cả, tỷ lệ đô la hóa thấp và hệ thống tài chính lành mạnh Batini và Laxton (2007) đã khảo sát 21 ngân hàng trung ương áp dụng chính sách này và 10 ngân hàng chưa áp dụng, cho thấy không quốc gia nào đáp ứng đầy đủ các điều kiện tiền đề Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các nền kinh tế mới nổi không nhất thiết phải đạt đủ các điều kiện này trước khi áp dụng lạm phát mục tiêu Thay vào đó, thành công phụ thuộc vào cam kết của cơ quan chủ quản và khả năng lập kế hoạch thay đổi thể chế Do đó, các quốc gia muốn áp dụng lạm phát mục tiêu nên tập trung vào mục tiêu thể chế và kỹ thuật.
Nghiên cứu của De Mello (2008) về việc áp dụng chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu tại Brazil, Chile, Cộng hòa Séc, Indonesia, Nam Phi và Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy rằng nhiều điều kiện tiền đề không được đáp ứng Tuy nhiên, tác giả nhấn mạnh rằng việc không đạt được các điều kiện này không cản trở việc thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu, vì các quốc gia này luôn nỗ lực cải thiện những điều kiện cần thiết.
Nghiên cứu của Freedman và Otker Robe (2009) chỉ ra rằng các quốc gia áp dụng lạm phát mục tiêu không cần một danh sách dài các điều kiện tiên quyết, nhưng vẫn cần một số yếu tố quan trọng để thực hiện chính sách này hiệu quả Những yếu tố này bao gồm: (1) ổn định giá cả là mục tiêu chính của chính sách tiền tệ, (2) không có áp chế tài chính, (3) sự độc lập của công cụ chính sách tiền tệ, (4) sự đồng thuận cao về lạm phát mục tiêu trong nước, (5) sự rõ ràng về cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ và khả năng tác động đến lãi suất ngắn hạn, và (6) thị trường cùng hệ thống tài chính phải lành mạnh Những yếu tố này được coi là chìa khóa cho sự thành công trong việc áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu.
Các nền kinh tế mới nổi thường thiếu điều kiện về thể chế và kỹ thuật để áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu, như được chỉ ra trong nghiên cứu của Eichengreen, Masson, Savastano và Sharma (1999) Nhiều nghiên cứu khác cũng đồng tình với quan điểm này, bao gồm Agenor (2000) và Carare cùng các đồng tác giả (2002) Do đó, các nhà nghiên cứu khuyến nghị rằng các quốc gia nên duy trì chính sách tiền tệ hiện tại cho đến khi đủ điều kiện áp dụng lạm phát mục tiêu Tuy nhiên, ngân hàng trung ương của các nước này cần nỗ lực đạt được các điều kiện cần thiết để triển khai chính sách này, đồng thời nghiên cứu thêm về kinh nghiệm áp dụng lạm phát mục tiêu tại các nền kinh tế mới nổi.
(2003), Jonas và Mishkin (2003), Debelle (2001), và Amato và Gerlach (2002)
Nghiên cứu của Tô Ánh Dương và cộng sự (2012) về chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu ở Việt Nam nổi bật với việc nhấn mạnh các mục tiêu chung của chính sách này Nghiên cứu không chỉ tổng hợp kinh nghiệm từ các quốc gia phát triển và đang phát triển mà còn rút ra bài học quý giá cho Việt Nam Qua đó, nghiên cứu đánh giá tổng quát việc điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam trong giai đoạn 2000.
Năm 2010, một nhóm nghiên cứu đã nhận định về khả năng áp dụng chính sách tiền tệ lạm phát tại Việt Nam Mặc dù Việt Nam chưa đủ điều kiện để theo đuổi chính sách lạm phát mục tiêu, nhưng kinh nghiệm từ các quốc gia khác cho thấy rằng các nền kinh tế mới nổi vẫn có thể thành công trong việc áp dụng chính sách này mà không cần phải đáp ứng tất cả các điều kiện Dựa trên đó, nhóm nghiên cứu đã đề xuất các điều kiện cần thiết và lộ trình cụ thể để Việt Nam có thể triển khai chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu một cách hiệu quả.