1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

QUẢN TRỊ tài CHÍNH

50 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Trị Tài Chính
Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 340,5 KB

Cấu trúc

  • So sánh vốn ngắn hạn và vốn dài hạn của doanh nghiệp

  • So sánh nợ và vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp

  • Câu 3: So sánh tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại.

  • Câu 4: so sánh tín dụng thương mại và phát hành trái phiếu để huy động vốn.

  • Câu 5. So sánh tín dụng ngân hàng và phát hành trái phiếu để huy động vốn

  • Câu 7: Trình bày các loại trái phiếu mà DN có thể phát hành để huy động vốn

  • Câu 8:Các phương thức cho thuê tài chính

  • Câu 9: Trình bày các phương thức giữ lại lợi nhuận của doanh nghiệp.

  • Câu 10: Trình bày các chính sách cổ tức có thể có của công ty cổ phần và ảnh hưởng của chúng tới tỷ giá cổ phiếu.

  • Câu 11. Trên giác độ doanh nghiệp và trên giác độ nhà đầu tư so sánh cổ phiếu thường và trái phiếu DN, cổ phiếu thường với cổ phiếu ưu đãi cổ tức, trái phiếu DN với cổ phiếu ưu đãi cổ tức.

  • Câu 12: Điều kiện một doanh nghiệp phải đáp ứng khi phát hành cổ phiếu để tăng vốn.

  • Câu 13: Trình bày phương thức phát hành cổ phiếu

  • Câu 14. Các loại cổ phiếu có thể phát hành để huy động tăng vốn

  • Câu 15: Phân tích ưu nhược điểm các kênh huy động vốn của doanh nghiệp

    • 1, Vốn tự tài trợ (lợi nhuận không chia)

    • 2, Phát hành cổ phiếu thường

    • 3, Phát hành cổ phiếu ưu tiên

    • 4, Vay ngân hàng

    • 5, Phát hành trái phiếu

  • I, So sánh các hình thức doanh nghiệp, các loại hình doanh nghiệp

  • 2, Nhược điểm hàng tồn kho

  • 3, Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận Quan hệ cung cầu hàng hoá và dịch vụ trên thị trường :

  • 3, BÁN CHỊU

  • 1. So sánh vốn ngắn hạn và vốn dài hạn của doanh nghiệp

  • 2. So sánh nợ và vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp

  • 4. Thuế

  • 5. Báo cáo tài chính

  • 6. Hạn chế của phương pháp phân tích tỷ số

  • 7. Vốn

    • a) So sánh tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại.

    • b) So sánh tín dụng thương mại và phát hành trái phiếu để huy động vốn.

    • C) So sánh tín dụng ngân hàng và phát hành trái phiếu để huy động vốn

    • d) Phát hành trái phiếu là một cách giúp doanh nghiệp tiết kiệm được thuế TNDN

  • 8. Hàng tồn kho

  • 9. So sánh công ty

    • a) CTCP và CT TNHH 2 thành viên trở lên

    • b) DNTN – CT TNHH 1 thành viên

    • c) DNTN – Công ty hợp danh

  • Doanh nghiệp tư nhân

  • Công ty hợp danh

  • Chủ sở hữu

  • Chủ sở hữu chỉ có thể là một cá nhân (cá nhân công dân Việt Nam hoặc cá nhân công dân nước ngoài)

  • gồm tối thiểu là hai cá nhân tham gia (với tư cách thành viên hợp danh) và tổ chức cũng có thể tham gia với tư cách là thành viên góp vốn.

  • Vốn

  • thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp tư nhân (chỉ có một chủ sở hữu). Hơn thế nữa, tài sản được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của chủ doanh nghiệp tư nhân không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp

  • vốn thuộc sở hữu của các thành viên công ty (nhiều chủ sở hữu). Cùng với đó, công ty hợp danh phải chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty.

  • Chế độ chịu trách nhiệm

  • Chủ doanh nghiệp tư nhân luôn phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các nghĩa vụ của công ty

  • Trách nhiệm tài sản của chủ đầu tư trong công ti hợp danh chia làm hai loại: trách nhiệm vô hạn đối với thành viên hợp danh (chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty) và trách nhiệm hữu hạn đối với thành viên góp vốn (chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty).

  • Tư cách pháp lý

  • doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân.

  • Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

  • Tổ chức, quản lý

  • chỉ có một người đại diện theo pháp luật (là chủ doanh nghiệp tư nhân)

  • có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật (là các thành viên hợp danh).

  • 10.

  • - IRR và NPV

Nội dung

So sánh các hình thức doanh nghiệp, các loại hình

So sánh vốn ngắn hạn và vốn dài hạn của doanh nghiệp

- Giống nhau: Đều là nguồn vốn của doanh nghiệp, được huy động từ nhiều nguồn khác nhau

Chỉ tiêu Vốn ngắn hạn Vốn dài hạn

Thành phần Phải trả nhà cung cấp

Phải trả, phải nộp khác Vay ngắn hạn

Vay dài hạn Vốn góp ban đầu của chủ sở hữu Lợi nhuận giữ lại

Phát hành cổ phiếu mới Thời gian đáo hạn Thời gian hoàn trả trong vòng 1 năm

Thời gian đáo hạn dài hơn 1 năm

Lãi suất Lãi suất thường thấp hơn lãi suất nguồn tài trợ dài hạn

Lãi suất thường cao hơn lãi suất nguồn tài trợ ngắn hạn

Chủ yếu dưới hình thức vay nợ Có thể dưới hình thức vay nợ hay vốn cổ phần Nơi mua bán trao đổi các công cụ vốn

Các công cụ của tài trợ ngắn hạn được mua bán trao đổi trên thị trường tiền tệ

Các công cụ của tài trợ dài hạn được mua bán trao đổi trên thị trường vốn

So sánh nợ và vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp 38 4 Thuế

- Giống nhau: Đều là nguồn vốn của doanh nghiệp

Thành phần Phải trả nhà cung cấp

Phải trả, phải nộp khác Vay ngắn hạn

Vốn góp ban đầu của chủ sở hữu Lợi nhuận giữ lại

Phát hành cổ phiếu mới

Người tài trợ Người tài trợ không phải chủ sở hữu

Người tài trợ là chủ sở hữu

Mức lãi suất Mức lãi suất thường ổn định, được thỏa thuận khi vay

Trừ cổ phần ưu đãi, lợi tức chia cho các cổ đông tùy thuộc vào quyết định của HĐQT và thay đổi theo lợi nhuận

Có thời hạn hoàn trả Thường không phải hoàn trả vốn trừ khi DN đóng cửa

Thuế là khoản thu trực tiếp từ thu nhập của cá nhân và tổ chức, được quy định rõ ràng cho người nộp thuế Ngoài ra, thuế cũng có thể được điều tiết gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa và dịch vụ, trong đó người tiêu dùng không phải là người nộp thuế trực tiếp.

Mức độ tác động vào nền kinh tế có ảnh hưởng không lớn đến giá cả thị trường, vì nó chủ yếu tác động đến kết quả kinh doanh và thu nhập sau mỗi kỳ kinh doanh Tuy nhiên, thuế lại có ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả thị trường, do nó được tính vào giá bán của hàng hóa và dịch vụ.

Mức độ quản lý Khó thu, dễ trốn thuế, việc thanh toán bằng tiền mặt, nhà nước không kiểm soát được thu nhập của từng người nộp thuế.

Thuế gián thu, được cấu thành từ giá hàng hóa và dịch vụ, là nguồn thu chủ yếu của nhiều nước nghèo và chậm phát triển Ngược lại, các nước phát triển chủ yếu dựa vào thuế trực thu làm nguồn thu chính cho ngân sách.

Nhược điểm Khó thu Khó đảm bảo công bằng cho những người nộp thuế Ưu điểm Đảm bảo công bằng giữa những người chịu thuế

Cơ quan thu thuế thu dễ dàng hơn. b)

Hàng hóa không chịu VAT bao gồm các loại vật tư và hàng hóa phục vụ cho việc khuyến khích sản xuất nông nghiệp, hỗ trợ tư liệu sản xuất trong nước mà không thể sản xuất được, cũng như các dịch vụ thiết yếu trực tiếp liên quan đến cuộc sống của người dân mà không mang tính chất kinh doanh, và các mặt hàng liên quan đến hoạt động nhân đạo.

Hàng hóa chịu thuế VAT 0% bao gồm hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu, hoạt động xây dựng và lắp đặt công trình của doanh nghiệp chế xuất, hàng bán cho cửa hàng miễn thuế, vận tải quốc tế, và các hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT khi xuất khẩu, ngoại trừ một số trường hợp cụ thể.

- Sự giống nhau giữa thuế suất 0% và ko chịu thuế là chủ thể không phải nộp một khoản tiền thuế.

+ Với hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng:

Cơ sở kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT không phải thực hiện nộp thuế GTGT.

Cơ sở kinh doanh không được khấu trừ và hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào cho hàng hóa, dịch vụ phục vụ sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định Thay vào đó, các khoản này phải được tính vào nguyên giá tài sản cố định, giá trị nguyên vật liệu hoặc chi phí kinh doanh.

+ Với hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT với thuế suất 0%:

Cơ sở kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế cần kê khai và nộp thuế đầy đủ vào Ngân sách nhà nước hàng tháng Đặc biệt, các doanh nghiệp có quyền khấu trừ và hoàn thuế GTGT đầu vào cho hàng hóa, dịch vụ phục vụ sản xuất kinh doanh Bên cạnh đó, việc so sánh giữa VAT và SCT cũng là một khía cạnh quan trọng cần được xem xét.

+ giống: đều là thuế gián thu

Thuế GTGT, hay còn gọi là thuế giá trị gia tăng, là loại thuế được áp dụng dựa trên giá trị tăng thêm của hàng hóa và dịch vụ trong quá trình sản xuất, lưu thông và tiêu dùng.

Là loại thuế áp dụng cho một số hàng hóa và dịch vụ đặc biệt theo danh mục quy định của Nhà nước, thuế này chủ yếu đánh vào những sản phẩm có giá trị tích lũy lớn và những hàng hóa được coi là gây ra tác động tiêu cực cho xã hội Đối tượng chịu thuế bao gồm các mặt hàng thuộc danh sách này.

Hàng hóa và dịch vụ, bao gồm cả dịch vụ mua từ tổ chức và cá nhân nước ngoài, được sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng tại Việt Nam, ngoại trừ những đối tượng không chịu thuế.

Những hàng hóa, dịch vụ có tích lũy lớn và cần phải hạn chế sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu hoặc tiêu dùng. thuế GTGT Đối tượng nộp thuế

Tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh ở Việt Nam hoặc nhập khẩu từ nước ngoài các hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT

Tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, nhập khẩu các hàng hóa, dịch vụ nói trên.

Mục đích của tổ chức và cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam hoặc nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT là điều tiết thu nhập của người tiêu dùng, đồng thời tăng thu ngân sách nhà nước và nâng cao quản lý sản xuất kinh doanh đối với các hàng hóa, dịch vụ này.

Căn cứ tính thuế căn cứ vào giá tính thuế và thuế suất trong đó

Giá tính thuế là giá bán hàng hóa và dịch vụ chưa bao gồm thuế GTGT, phụ thuộc vào từng danh mục hàng hóa cụ thể Giá này được xác định dựa trên giá bán ra và giá cung ứng dịch vụ, không bao gồm thuế TTĐB và thuế GTGT, cùng với các khoản thu thêm (nếu có) mà cơ sở kinh doanh được hưởng.

Thuế suất được xác định dựa trên các loại hàng hóa và hình thức kinh doanh cụ thể Thuế giá trị gia tăng (GTGT) có tính trung lập cao, không bị ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế Nó không được coi là một khoản chi phí mà chỉ là một phần cộng thêm vào giá bán của nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ Do đó, thuế GTGT không tác động mạnh đến việc khuyến khích hay hạn chế sản xuất, kinh doanh trong các ngành nghề cụ thể.

Báo cáo tài chính

So sánh 2 loại báo cáo: K/n, hình thức, tính chất của số liệu, ý nghĩa.

Hạn chế của phương pháp phân tích tỷ số

Công ty đa ngành thường có quy mô lớn và hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, điều này khiến việc xây dựng hệ thống tỷ số bình quân ngành cho toàn bộ công ty trở nên khó khăn.

→ Không thể hoạch định khả thi đối với những doanh nghiệp hoạt động đa lĩnh vực.

Lạm phát có tác động lớn đến việc phân tích số liệu kinh doanh, vì nếu lạm phát biến động mạnh, việc so sánh các con số qua các thời kỳ sẽ trở nên khó khăn Chẳng hạn, khi lạm phát đạt 100%, doanh số có thể tăng gấp đôi, nhưng thực tế tình hình kinh doanh có thể không thay đổi.

Các yếu tố thời vụ có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của công ty, dẫn đến sự thay đổi bất thường trong các chỉ số tài chính Đặc biệt, chỉ số vòng quay hàng tồn kho thường tăng mạnh trong mùa vụ chính của doanh nghiệp.

Khi đánh giá chỉ số thanh khoản ngắn hạn, cần thận trọng để tránh kết luận vội vàng Mặc dù tỷ số thanh khoản 2:1 có vẻ tích cực, nhưng nếu công ty vừa bán một lượng lớn cổ phiếu để tăng cường tiền mặt, điều này có thể làm tăng đột biến tài sản ngắn hạn Do đó, chỉ số thanh khoản cao có thể không bền vững và có nguy cơ giảm trong tương lai.

Mỗi công ty áp dụng các chuẩn mực kế toán khác nhau tùy theo bối cảnh kinh doanh, dẫn đến sự sai lệch trong phân tích so sánh chỉ số giữa các doanh nghiệp Ví dụ, sẽ có sự khác biệt trong phân tích chỉ số tài chính khi một công ty sử dụng phương pháp khấu hao nhanh dần đều, trong khi công ty khác áp dụng phương pháp khấu hao đường thẳng.

Số liệu kế toán có thể thiếu chính xác do các tỷ số tài chính được xây dựng từ báo cáo tài chính, mà độ chính xác phụ thuộc vào chất lượng và nguyên tắc thực hành kế toán Các nguyên tắc này có thể khác nhau giữa các doanh nghiệp, ngành nghề và quốc gia, dẫn đến sự sai lệch trong ý nghĩa của các tỷ số tài chính cần phân tích.

Một số nhà quản trị doanh nghiệp nắm vững các chuẩn mực và chỉ số tài chính của doanh nghiệp mình, dẫn đến việc họ can thiệp vào hoạt động kế toán nhằm cải thiện các chỉ số tài chính Hành động này có thể ảnh hưởng đáng kể đến quá trình phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp.

Phân tích chỉ số chỉ dựa vào số liệu trong quá khứ, điều này có thể dẫn đến việc thông tin không phản ánh chính xác xu hướng tương lai Do đó, việc sử dụng những số liệu này có thể không đảm bảo tính khả thi trong việc dự đoán kết quả tương lai.

Thông tin trên báo cáo tài chính phản ánh nhiều nghiệp vụ trong quá khứ và có thể được tổng hợp theo các nguyên tắc khác nhau Do đó, việc so sánh các chỉ số qua các năm có thể không còn hợp lý.

Tính thời điểm là yếu tố quan trọng khi phân tích các chỉ số tài chính, vì nhiều chỉ số dựa vào dữ liệu từ bảng cân đối kế toán, trong khi thông tin trên bảng này chỉ phản ánh số liệu tại thời điểm cuối kỳ báo cáo Nếu xảy ra sự kiện làm giảm số dư tài khoản vào ngày tổng hợp của kỳ báo cáo, điều này có thể ảnh hưởng đáng kể đến kết quả phân tích chỉ số.

Vốn

a) So sánh tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại

Tín dụng thương mại là mối quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp, trong đó các DN trực tiếp sản xuất và kinh doanh trao đổi hàng hóa thông qua hình thức mua bán chịu.

Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ tài chính giữa ngân hàng và các cá nhân, tổ chức trong xã hội Với vai trò là một định chế tài chính trung gian, ngân hàng không chỉ cung cấp vốn cho các bên có nhu cầu vay mà còn nhận tiền gửi từ khách hàng.

Quan hệ tín dụng là quá trình sử dụng vốn giữa hai bên, trong đó một bên (người cấp) cung cấp tín dụng cho bên kia (người hưởng) dựa trên nguyên tắc hoàn trả có lợi tức.

+ Mục đích: phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hóa, qua đó thu lợi nhuận.

+ Công cụ: đều có công cụ lưu thông, các công cụ này được trao đổi, mua bán trên thị trường tài chính.

Tín dụng thương mại Tín dụng ngân hàng

Tín dụng thương mại là hình thức giao dịch giữa các nhà sản xuất và kinh doanh, thể hiện qua việc mua bán chịu hàng hóa Khi người mua đặt tiền trước cho người cung cấp mà chưa nhận hàng, điều này cũng được coi là tín dụng thương mại, vì người mua cho phép người bán tạm thời sử dụng vốn của mình.

Tín dụng Ngân hàng là quan hệ vay mượn ngân hàng của các doanh nghiệp dưới dạng hợp đồng tín dụng.

Đáp ứng nhu cầu sản xuất và thúc đẩy lưu thông hàng hóa nhằm tối ưu hóa lợi nhuận, đồng thời tạo điều kiện để mở rộng mối quan hệ đối tác bền vững.

Hướng tới lợi nhuận từ tiền lãi cho vay vốn. giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế.

Các doanh nghiệp có quan hệ trao đổi hàng hóa dịch vụ (thông thường không có khâu trung gian đứng giữa người sử dụng vốn và người có vốn)

Ngân hàng đóng vai trò trung gian quan trọng giữa những người có vốn và những người cần vốn, cùng với các tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội.

Hàng hóa bị mua bán chịu Chủ yếu là tiền, có thể cả hàng hóa.

Trực tiếp giữa các DN với nhau Gián tiếp qua ngân hàng

Thời hạn Ngắn hạn Ngắn hạn, trung và dài hạn

Quy mô bị hạn chế trong tín dụng thương mại ảnh hưởng đến sự phát triển và vận động theo chu kỳ sản xuất kinh doanh Việc rút ngắn chu kỳ và giảm chi phí sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của sản xuất và kinh doanh.

Quy mô lớn, thường độc lập với chu kỳ sản xuất kinh doanh

Chi phí sử dụng vốn

Việc sử dụng vốn thường không tốn chi phí, vì hoạt động cấp tín dụng không tính lãi trong một khoảng thời gian nhất định Trong một số trường hợp, bên nợ còn có thể được hưởng lãi chiết khấu khi trả nợ sớm.

Chi phí sử dụng vốn là lãi vay (lãi suất vay vốn của ngân hàng phụ thuộc vào tính hình tín dụng trên thị trường trong từng thời kỳ)

Hợp đồng trả chậm và thương phiếu bao gồm hối phiếu, do người bán phát hành để đòi tiền vô điều kiện, và lệnh phiếu, do người mua phát hành với cam kết trả tiền vô điều kiện Các hình thức này đa dạng và phong phú hơn, bao gồm hợp đồng tín dụng từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng, thỏa thuận tín dụng tuần hoàn, và cho vay đầu tư dài hạn, mang lại nhiều ưu điểm cho các bên tham gia.

. b) So sánh tín dụng thương mại và phát hành trái phiếu để huy động vốn

Phát hành trái phiếu là phương thức huy động vốn qua chứng khoán, trong đó người phát hành (người vay) cam kết trả một khoản tiền cố định cho người nắm giữ trái phiếu (người cho vay) trong những khoảng thời gian nhất định Khi đến hạn, người phát hành phải hoàn trả số tiền vay ban đầu.

Tín dụng thương mại là mối quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp, trong đó các DN thực hiện mua bán chịu hàng hóa với nhau.

Giống nhau: Đều là công cụ huy động vốn nợ, tạo điều kiện cho DN bổ sung vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh.

Tín dụng thương mại Phát hành trái phiếu

Tín dụng thương mại là hình thức sử dụng vốn lẫn nhau giữa các nhà sản xuất và kinh doanh, thể hiện qua việc mua bán chịu hàng hóa Việc đặt tiền trước cho nhà cung cấp mà chưa nhận hàng cũng được xem là tín dụng thương mại, vì người mua cho phép người bán tạm thời sử dụng vốn của mình.

Là việc vay vốn thông qua hình thức phát hành trái phiếu để vay nợ trên thị trường tài chính.

Để đáp ứng nhu cầu sản xuất và thúc đẩy lưu thông hàng hóa, các doanh nghiệp cần tập trung vào mục tiêu lợi nhuận và xây dựng mối quan hệ đối tác bền vững trong nền kinh tế.

Huy động vốn Điều kiện Vay nợ

Mua bán chịu thông qua việc trao đổi hàng hóa dịch vụ

DN chủ động phát hành trái phiếu để huy động vốn

Các doanh nghiệp, thông qua việc trao đổi hàng hóa dịch vụ (thông thường không có khâu trung gian đứng giữa người sử dụng vốn và người có vốn)

- DN phát hành (người đi vay, đặt ra các điều khoản về lãi suất và những thứ liên quan để hấp dẫn người mua)

-Người nắm giữa TP (người cho vay hay nhà đầu tư)

Thời hạn Ngắn hạn Trung hoặc dài hạn Ưu điểm Slide

So sánh tín dụng ngân hàng và phát hành trái phiếu để huy động vốn

Hàng tồn kho

Trong các doanh nghiệp thương mại, tỷ trọng hàng tồn kho thường cao do tính chất kinh doanh hàng hóa, trong khi đó, các doanh nghiệp dịch vụ như khách sạn và giải trí có tỷ trọng hàng tồn kho thấp Đối với doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh theo mùa, tỷ trọng hàng tồn kho có thể tăng cao vào những thời điểm cụ thể trong năm do yêu cầu dự trữ, nhưng lại giảm xuống mức thấp vào các thời điểm khác Khi sản phẩm đang trong giai đoạn tăng trưởng, lượng hàng tồn kho thường được duy trì ở mức cao để đáp ứng nhu cầu thị trường, trong khi ở giai đoạn suy thoái, doanh nghiệp thường giảm lượng hàng tồn kho xuống mức tối thiểu để giảm thiểu rủi ro.

So sánh công ty

a) CTCP và CT TNHH 2 thành viên trở lên

+ Đều là loại hình doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.

+ Có tư cách pháp nhân.

+ Do nhiều chủ đầu tư góp vốn (công ty nhiều chủ sở hữu).

Trách nhiệm tài sản của các thành viên trong công ty được xác định là trách nhiệm hữu hạn, nghĩa là họ chỉ chịu trách nhiệm về các hoạt động kinh doanh của công ty trong giới hạn số vốn đã góp hoặc cam kết góp.

Công ty cổ phần Công ty TNHH 2 thành viên trở lên Chủ sở hữu

Số thành viên tối thiểu trong nhóm là ba, trong khi số thành viên tối đa có thể lên đến năm mươi.

Cấu trúc vốn điều lệ được phân chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần, được thể hiện qua cổ phiếu vốn điều lệ Trong trường hợp không chia thành cổ phần, tỷ lệ vốn góp có thể khác nhau.

Cổ đông sáng lập cần thanh toán đầy đủ số cổ phần dự định mua, với yêu cầu góp tối thiểu 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán Việc góp vốn có thể thực hiện một hoặc nhiều lần theo thỏa thuận, không cần phải hoàn tất ngay từ đầu, nhưng phải đảm bảo hoàn thành trong thời gian tối đa 36 tháng.

Huy động vốn được phát hành mọi dạng chứng khoán để huy động vốn như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ,

… được phát hành trái phiếu nhưng không được phát hành cổ phiếu ra công chúng. Ưu/ nhược điểm b) DNTN – CT TNHH 1 thành viên

Doanh nghiệp tư nhân Công ty TNHH 1 thành viên chỉ có thể được thành lập bởi một cá nhân, có thể là công dân Việt Nam hoặc cá nhân nước ngoài, và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp.

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên bao gồm một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu;

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Chủ sở hữu chịu trách nhiệm cá nhân và phải tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với mọi hoạt động của doanh nghiệp.

Chủ sở hữu công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của công ty trong giới hạn vốn điều lệ đã đăng ký.

Trong quá trình hoạt động, chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền tăng hoặc giảm vốn đầu tư của

- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được giảm vốn điều lệ. mình vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có thể tăng vốn điều lệ thông qua việc chủ sở hữu đầu tư thêm hoặc huy động vốn góp từ các cá nhân, tổ chức khác.

Phát hành chứng khoán không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.

Không được phát hành cổ phiếu nhưng được phát hành trái phiếu c) DNTN – Công ty hợp danh

- Doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh đều là những loại hình doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp 2014

Chủ doanh nghiệp tư nhân và các thành viên hợp danh trong công ty hợp danh đều phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các nghĩa vụ của doanh nghiệp, nghĩa là họ có trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản cá nhân của mình.

- DNTN và Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.

Doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh có sự khác biệt rõ rệt về quyền sở hữu Trong doanh nghiệp tư nhân, chủ sở hữu chỉ có thể là một cá nhân, có thể là công dân Việt Nam hoặc công dân nước ngoài Trong khi đó, công ty hợp danh yêu cầu tối thiểu hai cá nhân tham gia với vai trò thành viên hợp danh, bên cạnh đó, tổ chức cũng có thể tham gia với tư cách là thành viên góp vốn.

Vốn của doanh nghiệp tư nhân thuộc sở hữu của một cá nhân duy nhất, và tài sản sử dụng trong hoạt động kinh doanh không cần thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu Ngược lại, trong công ty hợp danh, các thành viên phải chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty.

Chế độ chịu trách nhiệm

Chủ doanh nghiệp tư nhân luôn phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các nghĩa vụ của công ty

Trách nhiệm tài sản của chủ đầu tư trong công ty hợp danh được phân thành hai loại: trách nhiệm vô hạn đối với thành viên hợp danh, nơi họ phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản cá nhân về các nghĩa vụ của công ty; và trách nhiệm hữu hạn đối với thành viên góp vốn, trong đó họ chỉ chịu trách nhiệm cho các khoản nợ của công ty trong phạm vi vốn đã góp.

Ngày đăng: 17/07/2021, 00:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w