1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo trình Hát dân ca - Trường Cao đẳng Lào Cai

71 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Hát Dân Ca
Tác giả Lê Quang Chiến
Trường học Trường Cao đẳng Lào Cai
Chuyên ngành Thanh Nhạc; Biểu Diễn Nhạc Cụ Truyền Thống; Organ
Thể loại Giáo Trình
Năm xuất bản 2019
Thành phố Lào Cai
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 3,78 MB

Cấu trúc

  • Bài 1. Dừng chân (dân ca Mông) (8)
    • 1. Lý thuyết (8)
      • 1.1. Khái quát về dân tộc (8)
      • 1.2. Một vài đặc điểm về bài dân ca (12)
    • 2. Thực hành (13)
    • 3. Hướng dẫn tự học (14)
  • Bài 2. Mưa rơi (dân ca Xá) (15)
    • 1.1. Khái quát về dân tộc La Chí (15)
  • Bài 3. Soi bóng bên hồ (Dân ca Giáy) (21)
  • Bài 4. Inh lả (Dân ca Thái) (0)
    • 1.1. Khái quát về dân tộc Thái (21)
  • Bài 5. Bà rằng bà rí (Dân ca Phú Thọ) (0)
  • Bài 6. Bèo dạt mây trôi (Dân ca Quan họ) (0)
    • 1.1. Khái quát về dân ca Quan họ (31)
  • Bài 7. Đi cấy (Dân ca Thanh Hóa) (41)
    • 1.1. Khái quát về văn hoá tỉnh Thanh Hoá (41)
  • Bài 8. Tát nước đêm trăng (Dân ca Chăm) (49)
  • Bài 9. Ru em (Dân ca Xơ Đăng) (54)
  • Bài 10. Lý thương nhau (Dân ca Nam trung bộ) (58)
    • 1.1. Khái quát về văn hoá Nam Trung bộ (58)
  • Bài 11. Lý dĩa bánh bò (Dân ca Nam bộ) (62)
    • 1.1. Khái quát về văn hoá vùng Nam bộ (62)
  • Bài 12. Lý chiều chiều (Dân ca Nam bộ) (67)
    • 1.1. Một vài đặc điển văn hoá Nam bộ (67)

Nội dung

(NB) Giáo trình Hát dân ca chỉ lựa chọn một số bài dân ca tiêu biểu của một số dân tộc, vùng miền trải dài từ bắc tới nam. Cấu trúc mỗi bài đều có 2 phần là giới thiệu một số nét văn hoá dân tộc hoặc địa phương liên quan đến bài dân ca và phần 2 là hướng dẫn thực hành.

Dừng chân (dân ca Mông)

Lý thuyết

1.1 Khái quát về dân tộc

Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo

Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng

Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh,

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao

Hoạt động sản xuất chủ yếu của nông dân là làm nương định canh hoặc nương du canh để trồng ngô, lúa và lúa mạch Họ có truyền thống trồng xen canh, kết hợp các cây trồng chính như ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng và đậu.

Vẽ bằng sáp ong và nhuộm chàm là nghệ thuật truyền thống của người Mông và Dao, trong đó phụ nữ sử dụng bút chấm sáp ong nóng chảy để tạo hoa văn trên vải lanh trắng Sau khi hoàn thành, tấm vải được nhuộm chàm nhiều lần cho đến khi đạt được màu đen mong muốn Cuối cùng, vải được nhúng vào nước nóng để làm tan sáp ong, để lại những hoa văn trắng nổi bật trên nền chàm xanh.

Chiếc cày của người Hmông nổi bật với độ bền và hiệu quả cao Họ chuyên trồng lanh, thuốc phiện (trước đây) và các loại cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, đồng thời còn dệt vải lanh, thể hiện các hoạt động sản xuất đặc trưng của cộng đồng này.

Người Mông chủ yếu chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà và ngựa, trong đó ngựa thồ đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển hàng hóa tại các vùng núi đá Ngựa không chỉ là phương tiện di chuyển hiệu quả mà còn gắn bó mật thiết với từng gia đình Mông.

Người Mông phát triển nhiều nghề thủ công đa dạng như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ và đồ trang sức bằng bạc, đáp ứng nhu cầu của người dân Các thợ thủ công Mông chủ yếu là bán chuyên nghiệp, nổi tiếng với sản phẩm như lưỡi cày, nòng súng và đồ đựng bằng gỗ ghép Chợ ở vùng Mông không chỉ phục vụ trao đổi hàng hóa mà còn là nơi giao lưu tình cảm Về ẩm thực, người Mông thường ăn hai bữa một ngày, và ba bữa trong mùa vụ, với các món ăn truyền thống như mèn mén, cơm, rau xào mỡ và canh Phụ nữ Mông khéo léo làm bánh từ bột ngô và gạo vào dịp lễ tết.

Người Mông thường thưởng thức rượu ngô, rượu gạo và hút thuốc bằng điếu cày, thể hiện sự quý trọng khi mời khách bằng chiếc điếu do chính tay mình nạp thuốc Truyền thống hút thuốc phiện từng phổ biến trong cộng đồng họ.

Chợ phiên là hoạt động giao lưu, trao đổi hàng hóa và gặp gỡ của người Mông ở vùng cao biên giới, nơi bạn bè và gia đình tụ tập Tại đây, người dân mang đến chợ nhiều loại hàng hóa như ngô, rau và củi, thường được vận chuyển bằng ngựa Hình ảnh đàn ngựa thồ tập trung tại các chợ Bắc Hà (Lào Cai) và Đồng Văn (Hà Giang) tạo nên nét văn hóa đặc sắc của vùng cao.

Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm

Phụ nữ Mông Trắng nổi bật với nghề trồng lanh và dệt vải lanh, tạo ra những chiếc váy màu trắng và áo xẻ ngực thêu hoa văn tinh xảo ở cánh tay và yếm sau Họ thường cạo tóc, để chỏm và đội khăn rộng vành, tạo nên nét đặc trưng văn hóa riêng.

Phụ nữ Mông Hoa đặc trưng với trang phục váy màu chàm thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, kết hợp áo xẻ nách và các chi tiết thêu trên vai và ngực Họ để tóc dài, thường vấn tóc cùng với tóc giả để tạo nên vẻ đẹp truyền thống.

Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực

Phụ nữ Mông Xanh thường mặc váy ống và có phong cách tóc độc đáo, với tóc cuốn lên đỉnh đầu và cài bằng lược móng ngựa, tạo nên hình dáng giống như hai cái sừng Trang phục của họ được trang trí chủ yếu bằng các mảnh vải màu sắc rực rỡ và hoa văn thêu tinh xảo, bao gồm hình con ốc, hình vuông, hình quả trám và hình chữ thập.

10 Ở: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa Gian giữa đặt bàn thờ

Nhà giàu thường có tường trình, với cột gỗ đặt trên đá tảng hình đèn lồng hoặc quả bí, mái lợp ngói, và sàn gác lát ván Trong khi đó, nhà bình dân phổ biến với bưng ván hoặc vách nứa và mái tranh.

Lương thực được cất trữ trên sàn gác Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà

Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ

Thắng cố, hay còn gọi là chảo canh, là món ăn truyền thống được yêu thích của người Hmông, bao gồm các loại thịt, xương, lòng, gan, tim và phổi bò hoặc dê, được cắt nhỏ và nấu chung trong một chảo lớn Món ăn này thường được chế biến trong các dịp lễ hội hoặc tại các chợ phiên Tại vùng núi đá cao, mỗi gia đình có khuôn viên riêng, được ngăn cách bởi những bức tường đá cao gần 2 mét, thuận tiện cho việc vận chuyển, người Mông thường sử dụng ngựa thồ hoặc gùi có hai quai đeo vai.

Quan hệ xã hội trong bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vai trò chủ đạo và ảnh hưởng lớn đến các mối quan hệ Người đứng đầu bản có trách nhiệm điều chỉnh các quan hệ này, trước đây thông qua hình thức phạt vạ và dư luận xã hội Dân bản tự nguyện cam kết tuân thủ quy ước chung về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và hỗ trợ lẫn nhau Sự gắn bó trong bản càng được củng cố qua việc thờ cúng chung thổ thần.

Người Mông rất coi trọng dòng họ, bao gồm những người có chung tổ tiên, thể hiện qua các nghi lễ như cúng tổ tiên, ma cửa, và ma mụ Những đặc trưng riêng của mỗi dòng họ được thể hiện qua số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, và địa điểm cúng Trong các nghi lễ ma chay, họ có những quy định cụ thể về cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, và cách bố trí mộ.

Người cùng họ, dù không quen biết và cách xa nhiều thế hệ, vẫn có thể nhận ra nhau qua các đặc trưng văn hóa Phong tục cấm kết hôn giữa những người cùng họ thể hiện sự gắn bó sâu sắc trong tình cảm giữa họ Trưởng họ, với uy tín và sự tôn trọng từ dòng họ, đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì mối liên kết này.

Thực hành

- Bản nhạc, tư liệu nghe bài dân ca

- Xác định âm vực phù hợp cho giọng hát

- Đọc gam rải đi lên, đi xuống

- Chú ý đọc chậm và nhớ âm các bậc của gam

- Xướng âm từng phần, đoạn của bài

- Chú ý: phải xướng âm cả các nốt hoa mỹ, đọc chậm Khi xướng âm bị sai hoặc lạc giọng cần đọc lại gam rải của bài

Bước 4: Ghép lời, hát theo giai điệu

Trên cơ sở giai điệu xướng âm, ghép lời theo đúng vị trí trên bản nhạc

- Chú ý: hát từng phần với tốc độ chậm vừa Cần hát đúng đủ các âm luyến, láy và sắc thái của bài

Bước 5: Hát hoàn thiện cả bài

- Hát đầy đủ bài đúng tốc độ, sắc thái

- Chú ý phần sắc thái như các rung, láy, luyến vì sắc thái là đặc trưng, cái hồn của bài

Nội dung thực hành: bài dân ca Dừng chân- Dân ca Mông

Hướng dẫn tự học

- Tìm và nghe bài dân ca Dừng chân để cảm nhận sâu hơn về bài

- Tìm hiểu và nghe thêm bài dân ca Tiếng Sáo Xa lá – Dân ca Mông

Mưa rơi (dân ca Xá)

Khái quát về dân tộc La Chí

Tên tự gọi: Cù tê

Tên gọi khác: Thổ Ðen, Mán, Xá

Dân số: 13.158 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009)

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Ðai (ngữ hệ Thái – Ka Ðai), cùng nhóm với tiếng La Ha, Cơ Lao, Pu Péo

Lịch sử: Người La Chí có lịch sử cư trú lâu đời ở Hà Giang, Lào Cai

Người La Chí khéo léo đan những đôi hòm bằng tre vuông vức với hoa văn đẹp mắt, đặc biệt dành cho cô dâu để đựng tư trang khi về nhà chồng Những chiếc hòm tre này không chỉ là vật dụng mà còn trở thành biểu tượng của hạnh phúc lứa đôi Chúng chỉ bị bỏ rơi trong trường hợp vợ chồng ly dị, còn lại, hòm tre sẽ được gìn giữ và chôn theo khi người sử dụng qua đời.

Người La Chí nổi tiếng với kỹ thuật khai khẩn và canh tác ruộng bậc thang, chủ yếu trồng lúa nước Họ sử dụng các công cụ như gậy chọc lỗ, cuốc và cày để làm việc trên ba loại nương khác nhau Trong quá trình thu hoạch, lúa nếp được gặt bằng hái nhắt, trong khi lúa tẻ thì dùng liềm, và thóc được đập ngay trên ruộng Về ẩm thực, người La Chí có phương pháp nấu cơm bằng hơi nước độc đáo, giúp cơm không bị nát mà vẫn khô dẻo Họ cũng có nhiều cách bảo quản thực phẩm, trong đó sấy khô và làm thịt chua là phổ biến, đặc biệt là món da trâu sấy khô được ưa chuộng.

Nhiều người ưa thích việc nhuộm răng thành màu đen, coi đó là biểu tượng của vẻ đẹp và sự trưởng thành Đặc biệt, thanh niên thường chọn cách bịt răng vàng như một hình thức thể hiện phong cách và cá tính riêng.

Đàn ông thường mặc áo dài năm thân, với khuy cài bên nách phải Họ có tóc dài quá vai và thường đội khăn cuốn hoặc khăn xếp Ngoài ra, họ thích đeo túi vải chàm viền đỏ để đựng diêm, thuốc và các vật dụng nhỏ khác.

Phụ nữ thường mặc quần, với một số ít chọn váy, nhưng trang phục truyền thống nổi bật nhất là áo dài tứ thân xẻ giữa, kết hợp với yếm thêu và thắt lưng bằng vải Vào dịp Tết và lễ hội, họ thường diện ba chiếc áo dài lồng vào nhau Ngoài ra, khăn đội đầu dài gần 3 mét cũng là một phần không thể thiếu trong trang phục của họ, với màu chàm đen được ưa chuộng Phụ nữ còn thường đeo vòng tai và vòng tay để hoàn thiện phong cách.

Ruộng bậc thang của người La Chí

Nam thường đeo vòng tay, trong khi thầy cúng có trang phục riêng khi thực hiện các lễ nghi Bộ quần áo của thầy cúng là chiếc áo thụng dài quá mắt cá chân, có phần xẻ giữa và thắt lưng bằng vải, kèm theo mũ vải rộng có quai Trong một số nghi lễ, người hành lễ có thể đeo miếng da trâu khô hoặc đội nón Họ thường sinh sống tại các làng ở vùng núi thuộc các huyện Hoàng Su Phì và Xín Mần.

(Hà Giang) Nhà của mỗi gia đình là một quần thể kiến trúc gồm nhà sàn - nhà trệt - kho thóc trong một phạm vi không gian hẹp

Kiểu kiến trúc độc đáo kết hợp giữa sàn và nhà trệt thể hiện sự sáng tạo văn hóa đặc sắc Mỗi ngôi nhà được chia thành hai phần bằng nhau, với mái lồng vào nhau; phần nhà sàn dùng để ở, trong khi phần nhà trệt là không gian bếp.

Khi chuyển vào nhà mới, việc mời thầy cúng để xua đuổi ma là rất quan trọng Thầy sẽ sử dụng ba cây cỏ lá để khua bốn góc nhà, bắt đầu từ góc của bố mẹ Nếu con trai đã có bàn thờ ở nhà cũ, cần tháo bàn thờ đó về lắp ở nhà mới tại vị trí của người chủ gia đình Trong suốt 13 ngày đầu tiên sau khi chuyển vào, bếp lửa phải luôn sáng để mang lại may mắn cho gia đình.

Dùng đũa là thói quen của người La Chí, ngay cả khi ăn nhanh ở trên đường

Phương tiện vận chuyển ở vùng cao và thung lũng kết hợp hài hòa, trong đó phụ nữ thường sử dụng địu đan bằng giang hoặc địu vải để vận chuyển hàng hóa và trẻ em.

Cái địu có quai đeo trên trán giúp chuyên trở dễ dàng Đàn ông thường sử dụng địu với hai quai đeo vai kiểu Hmông hoặc dùng đòn gánh đôi dậu Người La Chí thường địu trẻ em trên lưng khi di chuyển xa hoặc khi làm việc.

Chiếc máng lần là một công cụ phổ biến để dẫn nước từ bến nước về gần nhà Người dân thường sử dụng những ống bương dài khoảng 1,5m để chứa nước và mang lên nhà sàn, tiện lợi cho việc sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày.

Dùng ngựa để thồ hàng cũng là một phương tiện phổ biến

Trong xã hội La Chí, gia đình ba thế hệ hoặc các cặp vợ chồng cùng thế hệ sống chung là điều phổ biến Mỗi gia đình có một người đảm nhiệm việc cúng bái, không nhất thiết là trưởng họ, mà là người có kiến thức về nghi lễ cúng Việc chọn người này thường dựa vào bói toán, cụ thể là xem xương đùi gà Khi di chuyển xa, người La Chí thường mang theo túi vải nhuộm chàm, đeo chéo qua vai.

Người La Chí sử dụng cách gọi tên theo nguyên tắc phụ tử, với công thức là: họ - pô (bố) - tên con - tên riêng của người được gọi Đối với phụ nữ có con, cách gọi được thực hiện theo công thức: Mìa (mẹ) - tên con cả - tên chồng.

Tục nhận bố mẹ nuôi cho trẻ sơ sinh là một phong tục phổ biến, diễn ra sau ba buổi sáng kể từ khi trẻ chào đời Gia chủ đặt một sợi chỉ đỏ trên bát nước đầy ở bàn thờ, và người nào vào nhà trước sẽ trở thành bố mẹ nuôi và đặt tên cho trẻ Nếu trẻ khóc nhiều, điều này được coi là dấu hiệu tên chưa hợp, do đó gia đình phải bói tìm dòng họ thích hợp để chọn bố mẹ nuôi và đặt tên cho con.

Thờ cúng tổ tiên là một phong tục quan trọng trong các dịp lễ tết, trong đó nam giới cúng ba đời tổ tiên, còn nữ giới cúng hai đời Theo truyền thống, con cái luôn nhớ ngày mất của cha mẹ và không được gieo giống hay cho vay, mượn vào ngày đó, vì đây không phải là thời điểm cho sự sinh sôi và phát triển.

Trong một nhà có nhiều bàn thờ cho mỗi người đàn ông

Inh lả (Dân ca Thái)

Khái quát về dân tộc Thái

Tên gọi khác: Nhắng, Giẳng

Dân số: 58.617 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009) Ngôn ngữ: Tiếng Giáy thuộc ngữ hệ Thái - Ka Ðai

Lịch sử: Người Giáy từ Trung quốc di cư sang Việt Nam cách đây khoảng 200 năm

Nghề làm ngói là một trong những nghề thủ công truyền thống của người Giáy tại Hà Giang Ngói Âm dương, hay còn gọi là ngói máng, được chế tác bằng cách sử dụng bàn xoay để tạo hình ống, sau đó phơi khô và cắt lát trước khi đưa vào lò nung.

Người Giáy có kinh nghiệm phong phú trong canh tác lúa nước trên các triền ruộng bậc thang và cũng trồng thêm ngô, lúa, cây có củ và rau xanh trên nương rẫy Họ chăn nuôi gia súc theo lối thả rông, mặc dù một số nghề thủ công vẫn chưa phát triển Về ẩm thực, người Giáy thường ăn cơm tẻ, với cách chế biến đặc biệt là luộc gạo cho chín dở trước khi đồ lên như đồ xôi.

Nước luộc gạo dùng làm đồ uống Cách chế biến món ăn, nhất là ăn trong ngày lễ, ngày tết chịu ảnh hưởng sâu sắc của người Hán

Phụ nữ truyền thống thường mặc váy xoè giống như của người Hmông, nhưng ngày nay họ chọn quần màu chàm đen có dải vải đỏ trên phần cạp, kết hợp với áo cánh 5 thân xẻ tà, dài quá mông, cài khuy bên nách phải và viền cổ tay áo bằng những dải vải khác màu Tóc được vấn quanh đầu, với những sợi chỉ hồng thả theo đuôi Trong khi đó, nam giới mặc quần lá toạ và áo cánh xẻ tà, mở khuy ngực, tạo nên vẻ ngoài truyền thống nhưng vẫn hiện đại.

22 Ở: Người Giáy cư trú ở các huyện Bát Xát, Bảo Thắng, Mường Khương (Lào

Nhà sàn là hình thức nhà ở truyền thống phổ biến trong cộng đồng người Giáy tại Hà Giang, Yên Minh, Đồng Văn, Phong Thổ và Mường Tè (Lai Châu) Mặc dù người Giáy ở Lai Châu và Lào Cai hiện nay chủ yếu sống trong nhà đất, nhưng họ vẫn giữ đặc điểm truyền thống với phần sàn phơi ở phía trước Nhà sàn thường được thiết kế với ba gian, trong đó gian giữa là nơi đặt bàn thờ.

Phương tiện vận chuyển: Họ gánh bằng dậu, dùng ngựa thồ, trâu kéo

Nữ phục Giáy thể hiện phong cách đặc trưng của từng địa phương Tại Hà Giang, phụ nữ thường mặc váy và áo dài, tương tự như trang phục của người Nùng Trong khi đó, phụ nữ ở Lào Cai lại ưa chuộng quần và áo ngắn, tạo nên sự khác biệt rõ rệt trong văn hóa trang phục.

Trước Cách mạng tháng Tám, xã hội người Giáy có sự phân hoá giai cấp rõ rệt, với tầng lớp trên là những chức dịch trong bộ máy chính quyền ở xã, thôn bản Họ được hưởng ruộng công, rừng thảo quả và có lính phục dịch, cũng như người lo việc tang, cưới và đôi khi có cả đội xoè Trong khi đó, nông dân không chỉ phải đóng thuế mà còn phải làm lao dịch và cống nạp cho các chức dịch.

Cưới xin bao gồm nhiều nghi lễ như dạm hỏi, thả mối, ăn hỏi, cưới và lại mặt Trong lễ ăn hỏi, nhà trai tặng nhà gái một vòng cổ và một vòng tay để "đánh dấu" sự kết nối Lễ cưới không chỉ bao gồm chi phí ăn uống mà còn yêu cầu nhà trai mang cho nhà gái một số thực phẩm và tiền để làm quà tặng cho họ hàng gần, thường là mỗi người một con gà, một con vịt và một đồng bạc trắng Ngoài ra, người Giáy cũng có tục kéo vợ tương tự như người Hmông.

Sinh đẻ: Khi có thai phụ nữ phải kiêng nhiều thứ: không đun củi từ ngọn lên gốc

Nhiều người có nỗi sợ hãi khi sinh con, lo ngại không đến đám tang hay nơi thờ cúng vì sợ mất vía Gần đến ngày sinh, họ thường tiến hành cúng mụ Sau khi trẻ đầy tháng, gia đình cúng báo tổ tiên, đặt tên và lập lá số cho trẻ, giúp xác định tuổi tác khi trưởng thành, cũng như chọn giờ nhập quan và hạ huyệt khi qua đời.

Ma chay trong văn hóa người Giáy được coi là rất quan trọng, vì họ tin rằng nếu tổ chức tang lễ chu đáo, người chết sẽ được lên thiên đàng sống sung sướng bên tổ tiên, còn nếu không sẽ bị đưa xuống âm ti hoặc biến thành con vật Do đó, ở những gia đình khá giả, đám tang có thể kéo dài từ 5 đến 7 ngày, kèm theo các nghi lễ như thả đèn trôi sông và rước hồn đi dạo Con cái thường để tang bố mẹ trong một năm, và lễ đoạn tang thường được tổ chức vào dịp cuối năm.

Giống như các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái khác, người Giáy thường sinh sống ở các thung lũng thuận lợi cho việc trồng lúa nước, tạo nên một cảnh quan quê hương trù phú và đẹp đẽ.

Bàn thờ được đặt ở gian giữa, thường có ba bát hương từ trái sang phải thờ táo quân, trời đất và tổ tiên Nếu chủ nhà là con nuôi hoặc con rể thừa tự, có thể đặt thêm một bát hương bên trái để thờ bố mẹ đẻ Đối với những gia đình không thờ bà mụ, một bát hương cũng được đặt bên phải Ngoài bàn thờ lớn, một số gia đình còn có bàn thờ nhỏ để thờ bố mẹ vợ Dưới bàn thờ lớn, trên mặt đất có một bát hương cúng thổ địa, và hai bát hương thờ thần giữ cửa được đặt hai bên cửa chính.

Lễ tết: Người Giáy ăn Tết như các dân tộc ở vùng Ðông Bắc: Tết Nguyên đán,

Lịch: Người Giáy theo âm lịch

Học: Người Giáy chưa có văn tự, chỉ có một số rất ít người biết chữ Hán

Văn nghệ của người Giáy phong phú với truyện cổ, thơ ca, tục ngữ, đồng dao và phong dao Trong văn hóa của họ, có ba kiểu hát đặc trưng được gọi là "vươn" hay "phướn", bao gồm hát bên mâm rượu, hát đêm và hát tiễn dặn.

1.2 Một vài đặc điểm về bài dân ca

- Tính chất: Giai điệu có tính vui tươi nhẹ nhàng, đôi lúc mang chút mong chờ

+ Hàng âm của bài có năm âm cụ thể:

Hàng âm trên có cấu tạo tương tự như điệu thức Cung, đặc biệt là Pha cung trong ngũ cung Màu sắc của điệu thức này gần gũi với điệu thức trưởng.

- Nhịp: bài cú nhịp biến đổi giữa nhịp 2/4 và nhịp ắ

Khi hát cần chú ý các âm hoa mỹ, tiết nhịp đối với những lần ch

- Bản nhạc, tư liệu nghe bài dân ca …

- Xác định âm vực phù hợp cho giọng hát

- Đọc gam rải đi lên, đi xuống

- Chú ý đọc chậm và nhớ âm các bậc của gam

- Xướng âm từng phần, đoạn của bài

- Chú ý: phải xướng âm cả các nốt hoa mỹ, đọc chậm Khi xướng âm bị sai hoặc lạc giọng cần đọc lại gam rải của bài

Bước 4: Ghép lời, hát theo giai điệu

- Trên cơ sở giai điệu xướng âm, ghép lời theo đúng vị trí trên bản nhạc

- Chú ý: hát từng phần với tốc độ chậm vừa Cần hát đúng đủ các âm luyến, láy và sắc thái của bài

Bước 5: Hát hoàn thiện cả bài

- Hát đầy đủ bài đúng tốc độ, sắc thái

- Chú ý phần sắc thái như các rung, láy, luyến vì sắc thái là đặc trưng, cái hồn của bài

Nội dung bài: Soi bóng bên hồ (Dân ca Giáy)

Tìm và nghe bài dân ca …

Tìm hiểu và nghe thêm các bài dân ca

Bài 4 Inh lả (Dân ca Thái)

Sau khi học xong bài này, người học có khả năng:

- Kiến thức: trình bày được một số đặc điểm về văn hoá dân tộc Thái; trình bày được đặc điểm bài dân ca Inh lả

- Kỹ năng: Hát được giai điệu của bài hát

- Năng lực tự chủ và trách nhiệm: tự học, tự tiểm hiểu các bài dân ca

1.1 Khái quát về dân tộc Thái

Tên tự gọi: Tay hoặc Thay

Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay

Nhóm địa phương bao gồm Ngành Ðen (Tay Ðăm) và Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao) Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, dân số của nhóm này là 1.550.423 người Ngôn ngữ của họ thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, nằm trong ngữ hệ Thái - Ka Ðai.

Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm

Người Thái đã sớm phát triển nghề trồng lúa nước, áp dụng hệ thống thủy lợi hiệu quả với các phương pháp như khơi mương, đắp đập và dẫn nước qua vật cản Họ hiện nay cấy hai vụ lúa tẻ thay vì một vụ lúa nếp như trước Ngoài ra, người Thái còn canh tác nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm, cũng như bông, cây thuốc nhuộm và dâu tằm phục vụ cho việc dệt vải.

Bèo dạt mây trôi (Dân ca Quan họ)

Đi cấy (Dân ca Thanh Hóa)

Lý thương nhau (Dân ca Nam trung bộ)

Lý dĩa bánh bò (Dân ca Nam bộ)

Lý chiều chiều (Dân ca Nam bộ)

Ngày đăng: 15/07/2021, 09:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w