Tớnh cấp thiết của ủề tài
Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu hóa, việc nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp là rất quan trọng Sản xuất nông sản cần đáp ứng nhu cầu và thị hiếu thị trường, đồng thời tận dụng lợi thế tài nguyên và chuyên môn hóa trong sản xuất Cần chú trọng quy hoạch và ban hành chính sách phát triển nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp và thủy sản, cùng với việc thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm và cung cấp thông tin thị trường Kể từ khi đổi mới năm 1986, nông nghiệp Việt Nam đã phát triển thành nền nông nghiệp hàng hóa, trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới với nhiều mặt hàng như gạo, cao su, cà phê, hồ tiêu, hạt điều Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã đảm bảo an ninh lương thực và đáp ứng nhanh chóng nhu cầu tiêu dùng, đồng thời chú trọng bảo vệ môi trường và ổn định xã hội Nông nghiệp đã phát triển theo hướng liên kết, hình thành các vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa gắn với công nghiệp chế biến, đáp ứng đa dạng nhu cầu thị trường về chất lượng nông sản.
Ngành nông nghiệp tỉnh Quảng Nam có tốc độ tăng trưởng chậm hơn so với cả nước, với mức bình quân giai đoạn 2011-2015 đạt 3,77%, cao hơn mức 3,1% của cả nước Sự chuyển đổi cơ cấu ngành và sự dịch chuyển lao động đã khiến tỷ trọng đóng góp của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế Quảng Nam giảm rõ rệt, chỉ còn 5,05% trong giai đoạn 2011-2015.
Theo các cơ quan chuyên môn tỉnh Quảng Nam, chính sách phát triển nông nghiệp đã phát huy hiệu quả, nhưng sản xuất nông nghiệp vẫn tăng trưởng chậm và thiếu bền vững Ngành nông nghiệp đang đối mặt với nhiều thách thức do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Mặc dù thu nhập và đời sống của nông dân có cải thiện, nhưng vẫn còn thấp, trong khi mức lương và tiền công bình quân trong ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng nhưng không ổn định.
Năm 2014, mức tiêu thụ nông sản là 340 nghìn đồng/người/tháng, nhưng đến năm 2015 đã giảm xuống còn 292 nghìn đồng/người/tháng Trong khi nhu cầu về các loại nông sản phục vụ sản xuất và đời sống của người dân vẫn không ngừng tăng Quảng Nam đặt mục tiêu đến năm 2020 sẽ trở thành tỉnh công nghiệp, trong đó nông nghiệp chỉ chiếm 10% và 30% lao động làm trong lĩnh vực nông nghiệp Do đó, việc tìm kiếm các giải pháp có cơ sở khoa học, phù hợp với tình hình thực tiễn tại địa phương nhằm đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp của tỉnh thông qua nghiên cứu đề tài “Phát triển nông nghiệp tỉnh Quảng Nam” là rất cần thiết và cấp bách.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chính của nghiên cứu là tìm kiếm các giải pháp nhằm phát triển nông nghiệp tỉnh Quảng Nam, phù hợp với các định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong thời gian tới.
- Hệ thống húa những vấn ủề lý luận và nội dung của phỏt triển nụng nghiệp trong giai ủoạn hiện nay
Bài viết này phân tích thực trạng phát triển nông nghiệp tỉnh Quảng Nam, đồng thời xác định các nguyên nhân gây ra những hạn chế và yếu kém trong quá trình phát triển nông nghiệp tại đây.
- ðề xuất giải pháp nhằm phát triển nông nghiệp tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới.
Câu hỏi nghiên cứu
- Phát triển nông nghiệp là gì? Phát triển nông nghiệp bao gồm những nội dung gì?
- Phát triển nông nghiệp chịu ảnh hưởng của những nhân tố nào?
Trong thời gian qua, tỉnh Quảng Nam đã có những bước phát triển đáng kể trong lĩnh vực nông nghiệp, tuy nhiên vẫn còn nhiều khó khăn và vướng mắc cần được giải quyết Để thúc đẩy sự phát triển bền vững của nông nghiệp trên địa bàn, tỉnh cần tập trung vào việc cải thiện hạ tầng nông thôn, nâng cao chất lượng giống cây trồng và vật nuôi, cũng như hỗ trợ người dân trong việc tiếp cận công nghệ mới Đồng thời, việc xây dựng các chính sách khuyến khích hợp tác xã và liên kết sản xuất cũng là yếu tố quan trọng để nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp và cải thiện đời sống cho người dân.
- ðể phát triển nông nghiệp tỉnh Quảng Nam thời gian tới cần phải theo ủịnh hướng nào và cú những giải phỏp nào?
ðối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 ðố i tượ ng nghiê n c ứ u ðối tượng nghiờn cứu của luận văn là cỏc vấn ủề lý luận và thực tiễn về phát triển nông nghiệp tỉnh Quảng Nam
- Nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu nông nghiệp theo nghĩa hẹp gồm trồng trọt và chăn nuôi
- Không gian: ðề tài chỉ nghiên cứu các nội dung trên tại tỉnh Quảng Nam
- Thời gian: Cỏc giải phỏp ủề xuất trong luận văn chỉ cú ý nghĩa trong những năm trước mắt.
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn áp dụng các phương pháp nghiên cứu kinh tế, bao gồm phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp mô hình hóa và phương pháp chuyên gia, để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả trong việc phân tích vấn đề.
Đối với phần lý luận chung, phương pháp chính được sử dụng là tiếp cận hệ thống, định tính, chuyên gia và phân tích các khái niệm, từ đó rút ra những nhận định quan trọng.
Để phân tích thực trạng, bài viết sử dụng phương pháp thống kê như thu thập số liệu, so sánh và biểu đồ nhằm tiếp cận đối tượng một cách hiệu quả Qua việc phân tích và tổng hợp các số liệu có sẵn, nghiên cứu đưa ra đánh giá, tổng kết thực tiễn và rút ra kết luận chung Dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu là dữ liệu thứ cấp được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau.
+ Niờn giỏm thống kờ của tỉnh giai ủoạn 2011-2015
Các kế hoạch, chương trình và báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cùng với Chi cục Khuyến nông và các cơ quan ban ngành liên quan, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp Những hoạt động này không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp mà còn góp phần cải thiện đời sống nông dân và bảo vệ môi trường.
+ Các văn bản có liên quan của Chính phủ, Bộ ngành
+ Cỏc bỏo cỏo nghiờn cứu của cơ quan, viện, trường ủại học
+ Cỏc bài viết ủăng trờn bỏo hoặc cỏc tạp chớ khoa học chuyờn ngành và tạp chí có liên quan
+ Tài liệu giỏo trỡnh hoặc cỏc xuất bản khoa học liờn quan ủến vấn ủề nghiên cứu
+ Cỏc luận văn, luận ỏn cú liờn quan, ủó ủược bảo vệ trước ủõy
Dựa vào mục đích nghiên cứu, xác định thông tin cần trình bày trong luận văn Sử dụng phần mềm Microsoft Excel 2007 để tính toán và tổng hợp thành các bảng biểu cần thiết So sánh mối liên hệ giữa các đại lượng nhằm đưa ra những đánh giá sâu hơn và rút ra kết luận.
í nghĩa lý luận và thực tiễn của ủề tài
Phát triển nông nghiệp trong bối cảnh hiện nay đòi hỏi một cơ sở lý luận vững chắc, nhằm củng cố và định hướng cho các chính sách và chiến lược phát triển Việc hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến nông nghiệp sẽ giúp tăng cường hiệu quả sản xuất và nâng cao thu nhập cho nông dân Đồng thời, cần chú trọng đến sự bền vững và bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển nông nghiệp, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường và xã hội.
Thực trạng phát triển nông nghiệp tại tỉnh Quảng Nam và các đề xuất giải pháp cải thiện có giá trị tham khảo quan trọng cho các cơ quan ban ngành liên quan cũng như các nghiên cứu tiếp theo.
Cấu trúc của luận văn
Ngoài mục lục, mở ủầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn chia làm ba chương như sau:
Chương 1: Một số vấn ủề lý luận về phỏt triển nụng nghiệp
Chương 2: Thực trạng phát triển nông nghiệp tỉnh Quảng Nam thời gian qua
Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển nông nghiệp tỉnh Quảng Nam thời gian tới.
MỘT SỐ VẤN ðỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
KHÁI QUÁT VỀ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP8 1 Các khái niệm
1.1.1 Các khái niệm a Nô ng nghi ệ p
Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp
Nông nghiệp không chỉ là một ngành kinh tế thuần túy mà còn là một hệ thống sinh học - kỹ thuật, vì việc phát triển nông nghiệp dựa vào tiềm năng sinh học từ cây trồng và vật nuôi Nếu hiểu nông nghiệp theo nghĩa hẹp, nó chỉ bao gồm ngành trồng trọt và chăn nuôi Tuy nhiên, nếu xem xét theo nghĩa rộng, nông nghiệp còn bao gồm cả ngành lâm nghiệp và ngành thủy sản.
Bên cạnh nông nghiệp, ngành công nghiệp chế biến thực phẩm đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, vì đây là ngành sản xuất khởi đầu cho quá trình sản xuất vật chất của xã hội loài người.
Trồng trọt là ngành sản xuất chủ yếu sử dụng cây trồng để tạo ra lương thực, thực phẩm và nguyên liệu cho công nghiệp Ngành này cũng đáp ứng nhu cầu về giải trí và tạo cảnh quan cho môi trường sống.
Chăn nuôi là ngành sản xuất tập trung vào việc nuôi các loại động vật nhằm cung cấp sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người, bao gồm thực phẩm, da, len, lông, phân bón và sức kéo.
Ngư nghiệp bao gồm hai hoạt động chính: đánh bắt và nuôi trồng thủy sản Đánh bắt là hoạt động lâu đời của con người nhằm cung cấp thực phẩm thông qua các hình thức đánh bắt cá và các thủy sinh vật khác Trong khi đó, nuôi trồng thủy sản là hình thức canh tác thủy sản có kiểm soát, giúp đảm bảo nguồn cung và chất lượng thực phẩm từ biển.
Lâm nghiệp bao gồm các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ rừng, khai thác, vận chuyển và chế biến sản phẩm từ rừng, cũng như trồng cây và tái tạo rừng Ngoài ra, lâm nghiệp còn duy trì tác dụng phòng hộ đa dạng của rừng, góp phần vào phát triển nông nghiệp bền vững.
Nông nghiệp bền vững là vấn đề thời sự thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học từ các lĩnh vực khác nhau như nông học, sinh thái học và xã hội học Hiện nay, có nhiều định nghĩa về nông nghiệp bền vững, trong đó định nghĩa của Tổ chức Sinh thái và Môi trường Thế giới (WORD) được coi là nổi bật nhất Định nghĩa này khẳng định rằng "nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp đáp ứng các yêu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm giảm khả năng đáp ứng của các thế hệ tương lai".
Nội dung của nông nghiệp sinh thái bền vững bao gồm việc bảo tồn quỹ đất cho sản xuất nông nghiệp, bảo đảm nguồn nước tưới tiêu, bảo vệ rừng, giảm nhẹ thiên tai, và bảo vệ môi trường Đồng thời, cần sản xuất nông sản sạch, đảm bảo lương thực, thực phẩm, không ngừng nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, cũng như bảo đảm nguồn nguyên liệu cho công nghiệp Việc kết hợp chặt chẽ giữa phát triển công nghiệp và nông nghiệp là rất quan trọng để thúc đẩy sự phát triển bền vững trong lĩnh vực này.
Hiện nay, có nhiều quan niệm về phát triển kinh tế, nhưng chủ yếu tập trung vào việc gia tăng phúc lợi vật chất, cải thiện y tế và giáo dục cơ bản Phát triển kinh tế thường gắn liền với sự chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ nông nghiệp sang công nghiệp chế tạo và dịch vụ, cải thiện môi trường, tạo ra sự bình đẳng kinh tế và gia tăng tự do chính trị.
Phát triển kinh tế được hiểu qua bốn nội dung chính: Thứ nhất, gia tăng tổng sản lượng kinh tế nhanh chóng, tạo điều kiện nâng cao mức sống cho người dân Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, đảm bảo tính độc lập và liên kết chặt chẽ giữa các ngành kinh tế Thứ ba, gia tăng năng lực nội sinh của nền kinh tế thông qua đầu tư hợp lý để duy trì tăng trưởng ổn định và khả năng vượt qua khủng hoảng Cuối cùng, nâng cao chất lượng cuộc sống, không chỉ dựa vào tăng thu nhập mà còn yêu cầu phân phối thu nhập công bằng và xóa bỏ nghèo đói.
Phát triển bền vững, được Ngân hàng Thế giới đề cập lần đầu vào năm 1987, là việc đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai Quan niệm này nhấn mạnh việc sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sống Đến năm 2002, tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững ở Johannesburg, khái niệm này được mở rộng để bao gồm sự kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường Phát triển bền vững được xác định với ba trụ cột cơ bản: bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về môi trường.
Ngày nay, phát triển bền vững là mục tiêu hàng đầu, bao gồm tăng trưởng kinh tế ổn định, tiến bộ và công bằng xã hội, cũng như khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên Việc nâng cao chất lượng môi trường sống và hợp tác quốc tế trong các vấn đề phát triển bền vững như nghèo đói, khí thải và biến đổi khí hậu cũng cần được chú trọng.
Phát triển nông nghiệp là quá trình không ngừng cải thiện sản xuất thông qua việc tối ưu hóa phân bổ nguồn lực, tổ chức sản xuất và nâng cao năng suất Mục tiêu là gia tăng sản lượng nông nghiệp và duy trì mức tiềm năng hiện có.
Phát triển nông nghiệp sinh thái bền vững là nền tảng cho sự ổn định trong sản xuất nông nghiệp Để xây dựng và phát triển nền nông nghiệp này, cần chú trọng đến ba yếu tố quyết định: quỹ đất, quỹ nước và quỹ rừng Bên cạnh đó, cần xem xét đến khí hậu, khí quyển và tính đa dạng sinh học để đảm bảo sự phát triển bền vững.
1.1.2 ðặc ủiểm sản xuất nụng nghiệp
Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, chịu tác động của nhiều yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội, truyền thống văn hóa, tập quán, đặc trưng của từng vùng Điều này đòi hỏi người sản xuất phải nắm bắt và thích nghi với các điều kiện đặc thù để đảm bảo hiệu quả và chất lượng sản phẩm Sự đa dạng về điều kiện sản xuất cũng tạo ra sự phong phú về sản phẩm nông nghiệp, đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường.
NỘI DUNG CỦA PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
1.2.1 Phát triển các cơ sở sản xuất nông nghiệp ðể ủỏp ứng nhu cầu phỏt triển kinh tế - xó hội, ủũi hỏi ngành nụng nghiệp phải nâng cao năng lực cung ứng, chất lượng sản phẩm cho toàn xã hội nhằm nõng dần hiệu quả kinh tế thụng qua hoạt ủộng gia tăng cỏc cơ sở sản xuất tham gia vào hoạt ủộng sản xuất nụng nghiệp a Kinh t ế h ộ
Hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nông dân và nông thôn đóng vai trò quan trọng trong việc tự chủ sản xuất kinh doanh nông nghiệp Đây là pháp nhân kinh tế, hoạt động bền vững theo quy định của pháp luật và là chủ thể của nền kinh tế thị trường Đặc trưng cơ bản của mô hình này là các đơn vị kinh tế hoạt động tự chủ, tự nguyện vì lợi ích của bản thân, gia đình và toàn xã hội.
Trang trại là khu vực rộng lớn, thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng của cá nhân, tổ chức để sản xuất nông nghiệp như lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản Tuy nhiên, không phải cơ sở nào cũng được coi là kinh tế trang trại Để được công nhận là kinh tế trang trại, cần phải đáp ứng nhiều điều kiện như quy mô và giá trị kinh tế thu được Theo quy định của pháp luật (Điều 5 Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT), cá nhân và hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản phải thỏa mãn các tiêu chuẩn kinh tế trang trại.
Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thủy sản và sản xuất tổng hợp, yêu cầu tối thiểu là diện tích phải đạt trên 3,1 ha, đặc biệt là ở vùng Đông Nam.
Bộ và ðồng bằng Sụng Cửu Long hoặc 2,1 ha ủối với cỏc tỉnh cũn lại; giỏ trị sản lượng hàng húa ủạt 700 triệu ủồng/năm
- ðối với cơ sở chăn nuụi phải ủạt giỏ trị sản lượng hàng húa từ 1.000 triệu ủồng/năm trở lờn;
Cơ sở sản xuất lâm nghiệp cần có diện tích tối thiểu 31 ha và giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt từ 500 triệu đồng/năm trở lên.
Kinh tế trang trại ở Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ và đóng vai trò quan trọng trong chu trình sản xuất lương thực, đáp ứng tốt nhu cầu thị trường Đặc biệt, nó phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng vùng và có khả năng điều chỉnh linh hoạt theo từng giai đoạn Sản xuất nông nghiệp tại các trang trại không chỉ phục vụ thị trường nội địa mà còn hướng tới xuất khẩu, với quy mô lớn và sự hợp tác xã hội chặt chẽ, góp phần vào sự ổn định kinh tế trong thời gian dài.
Hợp tác xã là tổ chức kinh doanh tự nguyện, được thành lập nhằm mục tiêu lợi ích chung, thuộc sở hữu và điều hành bởi nhóm cá nhân có lợi ích chung Hợp tác xã nông nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh hiện đại, liên kết các chủ thể kinh tế tự chủ như hộ nông dân và trang trại với doanh nghiệp để thuận lợi hóa việc trao đổi hàng hóa nông sản Đặc điểm nổi bật của hợp tác xã nông nghiệp là sự kết nối giữa các thành viên, giúp duy trì tính tự chủ của từng bên trong khi vẫn tăng cường sức mạnh tổng thể và phát triển những ưu thế cạnh tranh.
Hợp tác xã là tổ chức kinh tế dân chủ, nơi các hộ kinh tế và chủ trang trại tự nguyện liên kết vì mục tiêu lợi ích chung Tham gia hợp tác xã giúp gia tăng quy mô và năng lực sản xuất, ứng dụng công nghệ cao, tiết kiệm chi phí và chia sẻ rủi ro, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế Lợi ích từ hoạt động sản xuất sẽ được phân bổ tùy thuộc vào mức độ đóng góp của từng thành viên.
Doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc liên kết các khâu từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ nông sản Chúng là lực lượng chủ yếu trong việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất, nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh cho sản phẩm nông nghiệp Ngoài ra, doanh nghiệp còn góp phần quan trọng trong việc xây dựng thương hiệu và quảng bá hình ảnh quốc gia thông qua hoạt động xuất khẩu hàng nông sản.
Các tiêu chí về gia tăng các cơ sở sản xuất nông nghiệp:
- Tốc ủộ tăng và mức tăng của cỏc cơ sở sản xuất
1.2.2 Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp
Cơ cấu sản xuất nông nghiệp bao gồm các ngành, lĩnh vực và bộ phận trong sản xuất nông nghiệp, thể hiện vai trò và vị trí của từng thành phần theo tỷ lệ ổn định trong một khoảng thời gian xác định.
Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp là quá trình thay đổi toàn diện trong cơ cấu ngành, thành phần kinh tế và vùng kinh tế, nhằm tạo ra sự phát triển bền vững Điều này bao gồm việc chuyển sang sản xuất có khả năng tái sản xuất mở rộng, khai thác tiềm năng và thế mạnh của địa phương, đồng thời đáp ứng nhu cầu thị trường và xã hội Cơ cấu mới cần đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường.
Trong thực tiễn nước ta, nền nông nghiệp có cơ cấu kinh tế hợp lý và hiện ủại khi chuyển dịch theo cỏc xu hướng sau:
- Tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, thuỷ sản, dịch vụ nông nghiệp; giảm tỷ trọng ngành trồng trọt
Trong ngành trồng trọt, xu hướng hiện nay đang chuyển dịch theo hướng giảm diện tích cây lương thực và tăng cường diện tích trồng cây ăn quả, rau màu, cũng như cây công nghiệp.
Ngành chăn nuôi đang chuyển dịch mạnh mẽ sang việc áp dụng giống mới có năng suất và chất lượng cao Điều này không chỉ giúp nâng cao giá trị kinh tế của vật nuôi mà còn đảm bảo thị trường tiêu thụ ổn định, thay thế cho những giống vật nuôi có giá trị kinh tế thấp.
Cơ cấu lao động sẽ chuyển biến từ ngành nông nghiệp sang các ngành phi nông nghiệp, đồng thời cần nâng cao chất lượng và trẻ hóa lực lượng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp.
Hệ thống chỉ tiêu thể hiện chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp
- Tỷ trọng ngành nông, lâm, ngư nghiệp trong quy mô kinh tế
- Cơ cấu giá trị sản xuất nội ngành nông, lâm, ngư nghiệp
- Cơ cấu diện tích các loại cây trồng, diện tích các loại mặt nước nuôi trồng thủy sản
- Tỷ trọng lao ủộng nụng nghiệp trong tổng số lao ủộng
1.2.3 ðảm bảo các yếu tố nguồn lực a ðấ t ủ ai ủượ c s ử dụ ng trong nụ ng nghi ệ p
Đất đai là yếu tố tự nhiên quan trọng nhất trong sản xuất nông nghiệp, đóng vai trò là tư liệu sản xuất chủ yếu không bị hao mòn Việc sử dụng đất đai một cách tiết kiệm và hiệu quả giúp ổn định quỹ đất, bảo vệ môi trường và gia tăng sản lượng trên mỗi đơn vị diện tích canh tác, từ đó góp phần phát triển nông nghiệp bền vững Xu hướng tích tụ đất đai trong nông nghiệp ngày càng gia tăng để đáp ứng nhu cầu sản xuất hàng hóa Tích tụ ruộng đất là quá trình sáp nhập hoặc hợp nhất ruộng đất của các chủ sở hữu khác nhau nhằm tạo ra một chủ sở hữu mới với quy mô lớn hơn, là điểm khởi đầu cho sự phát triển nông nghiệp hàng hóa.
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ðẾN PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP22 1 Nhõn tố ủiều kiện tự nhiờn
1.3.1 Nhõn tố ủiều kiện tự nhiờn
Các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển nông nghiệp bao gồm vị trí địa lý, khí hậu, nguồn nước, đất đai và sinh vật Mỗi yếu tố này có những đặc điểm riêng và đóng vai trò quan trọng trong việc khai thác nguồn lực nông nghiệp Để phát triển nông nghiệp bền vững, cần hiểu rõ các đặc trưng của từng yếu tố và áp dụng phương thức khai thác, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả Việc này đòi hỏi phải dựa trên nghiên cứu, điều tra, thống kê và lập quy hoạch phát triển cây trồng, vật nuôi, cũng như vùng sản xuất chuyên canh phù hợp với từng lợi thế về tài nguyên thiên nhiên.
1.3.2 Nhõn tố ủiều kiện xó hội a Dõ n s ố , lao ủộ ng, dõ n t ộ c, t ậ p quỏ n xó h ộ i
Dân cư và lao động không chỉ là lực lượng sản xuất trực tiếp mà còn là thị trường tiêu thụ nông sản Khi trình độ lao động tăng, năng suất và sản lượng hàng hóa nông sản cũng sẽ gia tăng Cải thiện đời sống và nâng cao chất lượng sống sẽ tạo ra một thị trường tiêu thụ rộng lớn với yêu cầu ngày càng cao về tính đa dạng và chất lượng sản phẩm Số lượng và chất lượng lao động ảnh hưởng trực tiếp đến việc thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo chiều rộng và chiều sâu Quy mô dân số có tác động đến khả năng tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; khi kinh tế phát triển, chất lượng cuộc sống dân cư được nâng cao, nhu cầu tiêu thụ nông sản ngày càng đa dạng và phong phú.
Cấu trúc dân tộc và tập quán xã hội có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển nông nghiệp Mỗi dân tộc đều có những tập quán và thói quen canh tác riêng, điều này tạo ra sự đa dạng trong phương thức sản xuất Tuy nhiên, ở những vùng có nhiều dân tộc cùng sinh sống, việc liên kết sản xuất nông nghiệp sẽ gặp khó khăn hơn Hơn nữa, truyền thống văn hóa cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các thói quen canh tác và ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của nông nghiệp địa phương.
Sự phát triển của truyền thống văn hóa góp phần nâng cao khả năng phát triển kinh tế - xã hội, khuyến khích con người không ngừng sáng tạo và cải tiến kỹ thuật, từ đó nâng cao tay nghề để đáp ứng nhu cầu của xã hội.
1.3.3 Nhõn tố thuộc về ủiều kiện kinh tế a Tì nh h ì nh phá t tri ể n kinh t ế
Tình hình phát triển kinh tế, với tốc độ nhanh hay chậm, ổn định hay không ổn định, ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ phát triển kinh tế nông nghiệp Việc khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn vốn là yếu tố quyết định cho sự tăng trưởng bền vững của nông nghiệp, đồng thời góp phần vào việc phân bố và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp Nguồn vốn cũng tạo điều kiện cho nông dân đầu tư vào cơ sở vật chất kỹ thuật, thúc đẩy ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, và nâng cao kỹ năng cho người lao động.
Công nghiệp và thương mại - dịch vụ đóng vai trò quyết định trong tiến trình hiện đại hóa ngành nông nghiệp, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm nông sản và rút ngắn khoảng cách giữa sản xuất và lưu thông Điều này không chỉ giúp tiêu thụ sản phẩm hiệu quả mà còn tạo ra việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động, nâng cao thu nhập cho người lao động Hơn nữa, nó còn góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa, lịch sử và sự đa dạng của thiên nhiên.
Cơ cấu kinh tế phản ánh quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, thể hiện sự chuyển dịch theo hướng tiến bộ Cần đảm bảo tính độc lập và sáng tạo của từng ngành, nhưng cũng phải liên kết chặt chẽ và hài hòa trong một cơ cấu hợp lý theo ngành và vùng lãnh thổ Điều này giúp chiếm lĩnh thị phần trong và ngoài nước Đồng thời, sự linh hoạt trong chuyển dịch cơ cấu ngành là cần thiết để khai thác tiềm năng và lợi thế, cùng với các điều kiện bên trong và bên ngoài của nền kinh tế.
Thị trường là mục tiêu chính của sản xuất hàng hóa, ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động sản xuất thông qua quy luật cung – cầu Việc đáp ứng đúng mức nhu cầu thị trường sẽ thúc đẩy sự phát triển sản xuất, trong khi sản xuất không tương ứng hoặc vượt quá nhu cầu sẽ dẫn đến hạn chế, thậm chí tiêu diệt nền sản xuất hàng hóa Do đó, công tác dự báo và định hướng nhu cầu thị trường đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển sản xuất, mang lại lợi ích lớn cho người sản xuất.
Trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông hộ chịu tác động lớn từ thị trường và các yếu tố đầu vào như vốn, thiết bị, vật tư và công nghệ Tuy nhiên, do năng lực kinh tế và trình độ quản lý hạn chế, nông hộ khó có thể tham gia vào chuỗi sản xuất và tiêu thụ nông sản, dẫn đến việc phụ thuộc vào cung cầu nông sản Cầu về nông sản không chỉ phục vụ cho tiêu dùng mà còn cho chế biến và xuất khẩu, trong khi cung cấp nông sản cần đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cũng như dự trữ Do đó, việc phát triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp là rất cần thiết để nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả sản xuất.
Cơ sở hạ tầng nông nghiệp, bao gồm hệ thống giao thông thủy bộ, tưới tiêu, cấp thoát nước, và thông tin liên lạc, đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản Phát triển hạ tầng, đặc biệt là giao thông và thủy lợi, sẽ cải thiện năng suất, giảm chi phí sản xuất, và rút ngắn khoảng cách giữa sản xuất và tiêu dùng Hệ thống cấp thoát nước và điện cũng góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống ở nông thôn Do đó, phát triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp trở thành chính sách quan trọng cho các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, nhằm thúc đẩy tăng trưởng nông nghiệp và thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn và thành thị.
Chính sách nông nghiệp bao gồm các biện pháp kinh tế và chính sách của Nhà nước từ trung ương đến địa phương nhằm giải quyết rủi ro và tối ưu hóa nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp Những chính sách này có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển hay trì trệ của nền sản xuất nông nghiệp, với hệ thống chính sách phù hợp có thể thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng tích cực Hiệu quả của các chính sách phát triển nông nghiệp phụ thuộc vào năng lực quản lý của chính quyền các cấp và khả năng của cán bộ quản lý nông nghiệp trong việc quy hoạch, thực hiện và vận dụng các chính sách vào thực tế, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay.
Chương 1 ủó tập trung xõy dựng cơ sở lý luận vững chắc về cỏc nội dung và cỏc tiờu chớ ủỏnh giỏ mức ủộ phỏt triển nụng nghiệp, và xỏc ủịnh cỏc nhõn tố ảnh hưởng ủến phỏt triển nụng nghiệp Cỏc nội dung phỏt triển nụng nghiệp bao gồm: phát triển các cơ sở sản xuất, chuyển dịch cơ cấu sản xuất nụng nghiệp, ủảm bảo cỏc yếu tố nguồn lực, phỏt triển cỏc hỡnh thức liờn kết kinh tế tiến bộ, nõng cao trỡnh ủộ thõm canh trong nụng nghiệp, nõng cao kết quả và hiệu quản sản xuất nụng nghiệp Bờn cạnh ủú, Chương 1 tập trung phõn tớch cỏc nhõn tố ảnh hưởng ủến phỏt triển nụng nghiệp bao gồm: cỏc nhõn tố thuộc về ủiều kiện tự nhiờn, xó hội và kinh tế.
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY
ðẶC ðIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ, VÀ XÃ HỘI CỦA TỈNH ẢNH HƯỞNG ðẾN PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
2.1.1 ðặc ủiểm tự nhiờn a Vị trớ ủị a lý
Quảng Nam, tỉnh thuộc vùng Duyên hải miền Trung, có tọa độ địa lý từ 14°57'10'' đến 16°03'50'' vĩ độ Bắc và từ 107°12'40'' đến 108°44'20'' kinh độ Đông, với tổng diện tích tự nhiên 1,043 triệu ha Nằm trong vùng trọng điểm kinh tế miền Trung, phía Bắc giáp thành phố Đà Nẵng và phía Nam giáp khu kinh tế Dung Quất, Quảng Nam có vị trí thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong an ninh, quốc phòng Với bãi biển dài, hệ thống sông ngòi phong phú và nhiều cảnh quan đẹp, Quảng Nam là điểm đến du lịch hấp dẫn với nhiều di sản lịch sử được công nhận toàn cầu Tỉnh có tiềm năng lớn về du lịch văn hóa, với thiên nhiên đa dạng và môi trường được bảo vệ và quản lý tốt.
Quảng Nam đang tận dụng cơ hội để phát triển cơ sở hạ tầng, trở thành trung tâm giao thông quan trọng với các dự án như cảng biển Kỳ Hà, sân bay quốc tế Chu Lai và khu kinh tế mở Chu Lai Với nguồn tài nguyên phong phú từ rừng, biển và mặt nước, cùng vị trí nằm trong hành lang Đông - Tây, tỉnh có tiềm năng phát triển kinh tế lớn, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, với diện tích đất nông nghiệp chiếm 72% tổng diện tích toàn tỉnh và tỷ lệ che phủ rừng đạt 44,5% đến 45% Địa hình tự nhiên của Quảng Nam có sự chuyển tiếp từ Tây sang Đông, có thể phân chia thành nhiều loại địa hình khác nhau dựa trên hình thái và nguồn gốc hình thành.
Vùng trung du có độ cao trung bình từ 50 đến 200 m, với địa hình đồi núi xen kẽ các dải đồng bằng hẹp, là khu vực giàu tài nguyên khoáng sản, nằm ở miền Tây các huyện Thăng Bình, Duy Xuyên, Đại Lộc, Phú Ninh Đây là nơi lý tưởng cho việc trồng lúa, cây màu, chăn nuôi và trồng rừng, đồng thời tập trung nhiều hồ và sông suối tự nhiên, tạo điều kiện phát triển nuôi trồng thủy sản kết hợp với du lịch sinh thái, đặc biệt là tại hồ Phú Ninh và miền Tây huyện Quế Sơn - Thăng Bình.
Vùng miền núi gồm các huyện phía Tây của tỉnh, là nguồn gốc của các con sông và là nơi cư trú của đồng bào các dân tộc thiểu số Người dân nơi đây chủ yếu sống bằng sản xuất nông lâm nghiệp với phương thức canh tác còn lạc hậu Thế mạnh của vùng này nằm ở rừng, cây công nghiệp dài ngày và chăn nuôi gia súc.
Vựng ủồng bằng và ven biển cú 2 dạng ủịa hỡnh khỏc nhau:
Vùng ủồng bằng nhỏ, hẹp chủ yếu phân bố dọc theo hệ thống sông Vu Gia, Thu Bồn, Tam Kỳ, với phù sa bồi đắp hàng năm, tạo điều kiện thuận lợi cho việc canh tác lúa nước và cây công nghiệp ngắn ngày Khu vực này còn có những vùng trũng lý tưởng cho sự phát triển của các sinh vật thủy sinh, đóng vai trò là nguồn thức ăn tự nhiên cho các đối tượng thủy sản.
Vùng ven biển chủ yếu được hình thành từ ủất cỏt, với các hoạt động sản xuất nông nghiệp tập trung vào hoa màu, cây rừng chống cỏt, nuôi trồng và đánh bắt hải sản Một số khu vực có tiềm năng phát triển quy hoạch khu nuôi tôm công nghiệp trên cát Ngoài ra, vùng ven biển còn có hai cửa sông lớn là Cửa Đại - Hội An và cửa An Hoà - Núi Thành, đóng vai trò quan trọng trong việc neo đậu cho các tàu thuyền khai thác thủy sản.
Luồng lạch cú ủộ sõu lớn, rất thuận lợi ủể phỏt triển cỏc cảng cỏ, cỏc khu nghề cá tập trung
Phắa đông Bắc của tỉnh có cụm ựảo Cù Lao Chàm, cách thành phố Hội
An 15 km về phắa đông gồm 8 hòn ựảo lớn nhỏ với tổng diện tắch là 15 km 2 , xung quanh ủảo hỡnh thành những vựng rạn san hụ lớn, là nơi sinh trưởng và phát triển của nhiều loại cá có giá trị kinh tế Cù Lao Chàm là 1 trong 15 khu vực thuộc hệ thống khu bảo tồn biển quốc gia với tổng diện tích 5.175 ha mặt nước tại ủõy cỏc nhà khoa học ủó tỡm thấy 277 loài san hụ trong ủú cú 6 loài quý hiếm lần ủầu tiờn tỡm thấy ở vựng biển ủảo nước ta Bờn cạnh ủú cũn cú 270 loài cá, 6 loài tôm hùm, 97 loài nhuyễn thể Bờ biển của Quảng Nam khá trống trải, ít eo vịnh kớn nờn khụng cú ủiều kiện thuận lợi cho phỏt triển nuụi biển c Khí h ậ u – th ờ i ti ế t
Khí hậu Quảng Nam mang đặc trưng nhiệt đới gió mùa, chia thành hai mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8 với hiện tượng gió Lào, và mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12, thường có bão lũ và mưa lớn, chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm Lượng mưa trung bình hàng năm đạt 2.839 mm, độ ẩm không khí trung bình là 86%, dao động từ 68% đến 92%, và nhiệt độ trung bình là 26°C, dao động từ 10°C đến 40°C Tuy nhiên, sự phân bố khí hậu không đồng đều giữa các vùng miền.
Lượng mưa hàng năm ở vùng Trung du và miền núi dao động từ 3.200 đến 4.000mm, cao hơn so với vùng đồng bằng ven biển chỉ từ 2.000 đến 2.400mm Độ ẩm trung bình hàng năm tại khu vực núi là 85% - 90%, vượt trội hơn so với vùng đồng bằng là 80% - 85% Nhiệt độ trung bình hàng năm đạt 25,7°C, với sự chênh lệch không đáng kể giữa các tháng trong năm.
Dải ven biển Quảng Nam có bức xạ mặt trời dồi dào với tổng số giờ nắng đạt 2.153 giờ mỗi năm, thuộc loại khá trong cả nước Lượng bức xạ tổng cộng trung bình hàng năm dao động từ 130 đến 170 kcal/cm2 Bức xạ cao nhất thường diễn ra vào mùa xuân và mùa hè, với mức cao nhất rơi vào tháng 4 hoặc tháng 5, đạt khoảng 500 - 550 cal/cm2/ngày Ngược lại, bức xạ thấp nhất xảy ra vào tháng 12 với mức khoảng 250 cal/cm2/ngày.
Vùng biển Nam Trung Bộ, đặc biệt là Quảng Nam, chịu tác động mạnh mẽ từ chế độ gió mùa đông Bắc và gió mùa Tây Nam với cường độ khoảng 300 cal/cm2.
Gió mùa đông Bắc diễn ra từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, với hướng gió chủ yếu là Bắc - Đông Bắc, có tốc độ trung bình khoảng 3 m/s và tốc độ cực đại đạt từ 15 đến 20 m/s Trong khi đó, gió mùa Tây Nam xuất hiện từ cuối tháng 6 đến tháng 8, với hướng gió chủ yếu là Tây - Tây Nam, tốc độ gió trung bình khoảng 3,5 m/s và tốc độ cực đại có thể lên đến 25 m/s.
Khu vực biển Quảng Nam-Đà Nẵng không chỉ chịu ảnh hưởng từ gió mùa đông Bắc và gió mùa Tây Nam, mà còn bị tác động bởi gió Lào Tuy nhiên, do phạm vi hoạt động của gió Lào không lớn, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất trong ngành thủy sản.
2.1.2 ðặc ủiểm xó hội a Dõn s ố , dõn t ộ c, lao ủộ ng
Năm 2015, tỉnh Quảng Nam có dân số trung bình đạt 1.480.790 người, tăng 3% so với năm 2011, với tỷ lệ nam giới chiếm 49,05% và nữ giới chiếm 50,95%, cho thấy cơ cấu dân số tương đối ổn định qua các năm Tỷ suất sinh là 17,07% và tỷ suất tăng dân số tự nhiên đạt 10,58% Mật độ dân số khoảng 140 người/km2, với sự phân bố dân cư không đồng đều.
Tỉnh có 20 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm 93,2% Các dân tộc thiểu số bao gồm dân tộc Cơ Tu chiếm 2,71%, dân tộc Xơ Đăng chiếm 2,2%, dân tộc Mnông có 13.685 người, chiếm 0,99%, dân tộc Giẻ Triêng có 4.546 người, chiếm 0,33%, dân tộc Co chiếm 0,33%, dân tộc Hoa chiếm 0,08%, dân tộc Tày chiếm 0,03%, dân tộc Mường chiếm 0,02%, dân tộc Nùng chiếm 0,01%, và các dân tộc khác chiếm 0,1%.
B ả ng 2.1: Tỡnh hỡnh dõn s ố , lao ủộ ng t ỉ nh Qu ả ng Nam 2011-2015 ðVT: ngàn người
Phân chia theo thành thị và nông thôn
Phân chia theo ngành kinh tế
+ Lao ủộng phi nụng nghiệp - 382 397 422 450
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TỈNH QUẢNG NAM THỜI GIAN QUA
2.2.1 Biến ủộng cỏc cơ sở sản xuất nụng nghiệp thời gian qua ðến năm 2015, toàn tỉnh có 86 doanh nghiệp nông nghiệp, 117 trang trại và 139 hợp tỏc xó Thực trạng phỏt triển của cỏc ủơn vị kinh tế nụng nghiệp trong thời gian qua tại Quảng Nam cú thể ủược ủỏnh giỏ như sau:
Các doanh nghiệp nông nghiệp tại Quảng Nam chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và dịch vụ hỗ trợ liên quan, chiếm đến 90% tổng số Năm 2014, vốn sản xuất kinh doanh bình quân của các doanh nghiệp nhà nước đạt 2.910 tỷ đồng, với 7.132 lao động và doanh thu thuần là 532 tỷ đồng Tỷ suất doanh thu trên vốn đạt 0,18, cho thấy mỗi 1 đồng vốn chỉ tạo ra được 0,18 đồng doanh thu.
Các HTX nông nghiệp cung cấp nhiều dịch vụ như thuỷ lợi, sản xuất giống, chăm sóc cây trồng, thu hoạch, cấp nước sinh hoạt, tín dụng nội bộ, và bảo vệ thực vật Bên cạnh đó, họ còn tham gia vào sơ chế nông sản, thu gom rác thải, thực hiện các công trình nhỏ, và hướng dẫn sản xuất Năm 2015, doanh thu trung bình của các HTX đạt gần 3 tỷ đồng mỗi năm, với lợi nhuận khoảng 55 triệu đồng Tuy nhiên, nhiều HTX chỉ tập trung vào dịch vụ đầu vào mà chưa chú trọng đến đầu ra như bảo quản và tiêu thụ nông sản, dẫn đến việc hình thành chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ còn hạn chế, gây rủi ro trong sản xuất Một số HTX cũng chưa giải quyết dứt điểm nợ nần, ảnh hưởng đến hoạt động của mình.
Năm 2015, Quảng Nam có 117 trang trại với tổng diện tích 562,2 ha, sử dụng 494 lao động, trong đó có 217 lao động gia đình và 277 lao động thuê ngoài Diện tích trung bình mỗi trang trại là 4,8 ha, thấp hơn mức trung bình cả nước năm 2011 là 7,9 ha/trang trại Mỗi trang trại có vốn đầu tư trung bình đạt 1.741,82 triệu đồng, trong đó trang trại chăn nuôi và lâm nghiệp có vốn đầu tư lớn nhất Tuy nhiên, tình trạng phát triển trang trại tại Quảng Nam vẫn chủ yếu là trang trại gia đình, với quy mô nhỏ về diện tích, nhân lực và vốn đầu tư Doanh thu bình quân mỗi lao động tại trang trại đạt 422,38 triệu đồng/năm, cao hơn nhiều so với thu nhập bình quân đầu người.
Năm 2015, sản lượng bình quân của Quảng Nam đạt 24,53 triệu ủồng/người/năm Tuy nhiên, trong tổng thể nền nông nghiệp của tỉnh, diện tích canh tác của các trang trại chỉ chiếm 9,3%, trong khi lao động trong ngành này chỉ chiếm 0,81%.
Hiện nay, mức đầu tư của các trang trại tại Quảng Nam còn nhỏ bé, nhưng với xu hướng phát triển và hội nhập, tỉnh cần thúc đẩy sớm để phát triển các trang trại hạt nhân có quy mô lớn, nhằm giúp nông nghiệp Quảng Nam tăng trưởng nhanh hơn.
2.2.2 Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp thời gian qua a Chuy ể n d ị ch c ơ c ấ u kinh t ế nông nghi ệ p trong c ơ c ấ u kinh t ế chung
Quảng Nam đã thực hiện hiệu quả chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển từ nông nghiệp sang các ngành công nghiệp và dịch vụ, đồng thời nâng cao giá trị gia tăng Từ năm 2011 đến 2015, tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm rõ rệt, trong khi ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ - thương mại gia tăng mạnh mẽ.
B ả ng 2.5: Tình hình chuy ể n d ị ch c ơ c ấ u các ngành kinh t ế ðVT: %
Cơ cấu sản xuất nông nghiệp của Quảng Nam trong những năm qua chưa có sự chuyển dịch mạnh mẽ, dẫn đến năng suất lao động xã hội (NSLðXH) của ngành nông nghiệp không tăng trưởng so với ngành công nghiệp và dịch vụ Cụ thể, vào năm 2015, lao động nông nghiệp chiếm 50% nhưng chỉ đóng góp 16,37% vào tổng sản phẩm địa phương, trong khi lao động phi nông nghiệp cũng chiếm 50% nhưng tạo ra tới 83,63% tổng sản phẩm Điều này cho thấy NSLðXH trong các ngành phi nông nghiệp cao gấp 5,11 lần so với nông nghiệp So với toàn quốc, tỷ lệ này là 3,84 lần, so với Philippines là 3,56 lần, so với Malaysia là 1,47 lần và so với Israel, một quốc gia có nền nông nghiệp phát triển, là 0,8 lần.
Năm 2003, NSLĐXH của Quảng Nam trong các ngành phi nông nghiệp cao gấp 4,81 lần so với nông nghiệp và gấp 5,38 lần so với toàn quốc.
Bi ể u ủồ 2.1: N ă ng su ấ t lao ủộ ng xó h ộ i c ủ a cỏc ngành phi nụng nghi ệ p so v ớ i nông nghi ệ p t ạ i Qu ả ng Nam, c ả n ướ c và Israel (tính cho n ă m 2003 và n ă m 2015)
Biểu ủồ 2.1 cho thấy NSLðXH giai ủoạn 2003-2015 của ngành nông nghiệp Quảng Nam giảm so với NSLðXH trong các ngành phi nông nghiệp, trong khi nông nghiệp cả nước có sự gia tăng Nguyên nhân chính là do lao động nông nghiệp ở Quảng Nam chuyển dịch sang các ngành khác chậm hơn so với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Năm 2011, tỷ trọng trồng trọt và chăn nuôi chiếm 68,43% trong ngành nông nghiệp, trong khi lâm nghiệp và thủy sản lần lượt chiếm 5,01% và 26,56% Đến năm 2015, tỷ trọng của trồng trọt và chăn nuôi giảm xuống còn 62,58%, lâm nghiệp tăng lên 7,77% và thủy sản đạt 29,65% Giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp, bao gồm trồng trọt và chăn nuôi, vẫn giữ vai trò chủ yếu tại Quảng Nam, khẳng định vị thế của tỉnh này là một tỉnh nông nghiệp thuần túy.
B ả ng 2.6: Tình hình chuy ể n d ị ch c ơ c ấ u n ộ i b ộ ngành nông nghi ệ p ðVT: %
Trong những năm gần đây, ngành nông nghiệp đã có sự chuyển dịch mạnh mẽ nhờ vào sự phát triển của ngành trồng rừng Các chính sách hỗ trợ ngư dân và ngành thủy sản từ Trung ương và tỉnh đã tạo ra động lực lớn, khuyến khích ngư dân đầu tư và phát triển Điều này đã dẫn đến sự phát triển vượt bậc của ngành thủy sản Quảng Nam trong năm 2012 và tạo nền tảng ổn định cho giai đoạn 2012-2015.
Ngành chăn nuôi của Quảng Nam đang đối mặt với nhiều khó khăn, theo Bảng 2.7, tỷ trọng trong cơ cấu nội bộ ngành liên tục biến động Từ năm 2011 đến 2013, tỷ trọng của ngành chăn nuôi đã giảm mạnh từ 28,44% xuống còn 25,28%.
Thời gian qua, ngành nông nghiệp gặp khó khăn do giá con giống và thức ăn chăn nuôi tăng cao, trong khi giá bán sản phẩm chăn nuôi lại thấp, dẫn đến hiệu quả kinh tế của các trang trại giảm sút, thậm chí nhiều hộ gia đình bị thua lỗ Bên cạnh đó, dịch bệnh liên miên và rủi ro cao khiến người chăn nuôi lo ngại trong việc đầu tư mở rộng sản xuất Kể từ năm 2007 đến nay, tổng đàn gia súc của Quảng Nam có xu hướng giảm dần, với bình quân mỗi năm tổng đàn giảm hơn 9,3%, trong đó đàn heo giảm gần 2,3% và đàn trâu giảm xấp xỉ 3,3%.
Giai đoạn 2013 – 2015, tỷ trọng ngành chăn nuôi tại Quảng Nam đã tăng 3,98%, nhờ vào việc thực hiện Quyết định số 35/2012/QĐ-UBND ngày 21/12/2012 của UBND tỉnh Quyết định này đã thiết lập cơ chế hỗ trợ khuyến khích phát triển chăn nuôi theo hướng hàng hóa và an toàn dịch bệnh trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn 2012-2015.
B ả ng 2.7: Tình hình chuy ể n d ị ch c ơ c ấ u s ả n xu ấ t nông nghi ệ p ðVT: %
ðÁNH GIÁ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
2.3.1 Thành công và hạn chế a Thành công
Giá trị sản xuất nông nghiệp của Quảng Nam đã tăng trưởng ổn định qua các năm, với sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất và lao động trong ngành nông nghiệp diễn ra khá hiệu quả Tuy nhiên, tỷ trọng đóng góp của kinh tế và lao động nông nghiệp trong tổng thể cơ cấu kinh tế và lao động của tỉnh đã giảm trong giai đoạn 2011-2015.
Sản xuất hàng hóa tập trung và quy mô lớn đang dần hình thành, với mục tiêu nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm Điều này không chỉ góp phần phát triển nông nghiệp và nông thôn mà còn đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế toàn tỉnh.
Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp, bao gồm thủy lợi, giao thông, điện và cơ giới hóa nông nghiệp, đang được chú trọng đầu tư và từng bước hoàn thiện Điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất mà còn tăng năng suất và chất lượng nông sản, giảm chi phí sản xuất, đồng thời thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông – lâm – thủy sản một cách bền vững.
Khoa học và công nghệ đã được ứng dụng hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt trong ngành nuôi trồng thủy sản, dẫn đến sự gia tăng sản lượng nuôi trồng trong khi diện tích nuôi trồng lại giảm trong giai đoạn 2011 – 2015 Đồng thời, dịch vụ thú y cũng đã được cải thiện đáng kể, tạo nền tảng cho ngành chăn nuôi phục hồi trong những năm gần đây.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong nền kinh tế chung đang theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp và tăng tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp, nhưng vẫn diễn ra chậm và chưa hiệu quả Trong ngành nông nghiệp, quá trình chuyển đổi cơ cấu thiếu ổn định, với tỷ trọng ngành trồng trọt chỉ giảm 2,7% trong giai đoạn 2011-2015 Cơ cấu cây trồng và vật nuôi biến động thất thường do sự không ổn định của thị trường tiêu thụ, công nghiệp chế biến và dịch bệnh Hơn nữa, sự mất cân đối kéo dài giữa các ngành trồng trọt và chăn nuôi đã làm cho ngành nông nghiệp phát triển thiếu bền vững.
Ngành chăn nuôi của tỉnh hiện đang đối mặt với nhiều khó khăn, bao gồm chi phí đầu vào cao cho con giống và thức ăn Trong khi đó, đầu ra của ngành không ổn định, giá bán các sản phẩm từ chăn nuôi luôn biến động và thấp Bên cạnh đó, dịch bệnh xảy ra liên miên với diễn biến phức tạp, tạo ra yếu tố rủi ro cao cho người chăn nuôi.
Số lượng cơ sở sản xuất nông nghiệp đang phát triển nhưng chưa được mở rộng, với quy mô sản xuất nhỏ lẻ về diện tích, nhân lực và vốn đầu tư Trình độ quản lý và năng lực đầu tư đổi mới còn hạn chế, cùng với việc ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ chưa hiệu quả, đã ảnh hưởng lớn đến chất lượng tăng trưởng, năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của hàng hóa.
Chuỗi liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm còn hạn chế, dẫn đến nhiều rủi ro trong sản xuất Ngành chế biến nông sản phát triển chậm và thiếu ổn định do thị trường nông sản bấp bênh Mặc dù mạng lưới dịch vụ và thương mại đã phát triển, nhưng vẫn chưa đủ mạnh và hấp dẫn để thu hút đầu tư, đồng thời chưa hình thành được các chợ đầu mối cho đầu ra của sản phẩm nông nghiệp.
Khả năng hội nhập của ngành nông sản còn hạn chế, với mức tham gia xuất khẩu hàng nông nghiệp thấp Cụ thể, năm 2015, bình quân xuất khẩu hàng nông nghiệp của tỉnh chỉ đạt 232 USD/lao động nông nghiệp và 549 USD/ha, trong khi bình quân xuất khẩu nông nghiệp toàn quốc đạt 1.024 USD/lao động nông nghiệp và 2.442 USD/ha.
Cơ sở hạ tầng nông nghiệp tại Quảng Nam vẫn chưa hoàn thiện, đặc biệt là hệ thống thủy lợi cho nuôi trồng thủy sản chưa được đầu tư đúng mức Hệ quả là nguồn nước nuôi trồng thủy sản không được xử lý, dẫn đến việc ô nhiễm từ các hồ nuôi, gây lây lan dịch bệnh trên diện rộng và ảnh hưởng tiêu cực đến ngành nuôi trồng thủy sản trong khu vực.
Thu nhập từ nông nghiệp chỉ chiếm 14,29% tổng thu nhập bình quân của người dân, dẫn đến tình trạng đầu tư thấp và thiếu động lực để cải tiến kỹ thuật Điều này cản trở việc áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật nhằm tăng năng suất và mở rộng sản xuất.
Thu nhập của các hộ dân ở khu vực nông thôn tại Quảng Nam tăng chậm hơn so với thu nhập bình quân toàn tỉnh, dẫn đến khoảng cách thu nhập giữa nông thôn và thành thị ngày càng gia tăng Tỷ lệ hộ nghèo ở Quảng Nam luôn cao hơn mức trung bình cả nước, đặc biệt là ở vùng núi và các khu vực dân tộc thiểu số, nơi tỷ lệ hộ nghèo dao động từ 39% đến 56%.
Nền kinh tế của tỉnh Quảng Nam phát triển chủ yếu dựa vào nông nghiệp, tuy nhiên, nội lực kinh tế vẫn còn yếu Khi tỉnh mới được chia tách, những thách thức trong việc nâng cao sức mạnh kinh tế đã trở nên rõ ràng.
Năm 1997, tỉnh Quảng Nam chủ yếu là khu vực nông nghiệp, với tỷ trọng nông nghiệp chiếm 50%, nguồn lực cho đầu tư phát triển gần như không có, ngân sách thu về chỉ hơn 127 tỷ đồng, hoàn toàn phụ thuộc vào trợ cấp kinh phí từ Trung ương Khả năng tích lũy vốn cho đầu tư phát triển, đặc biệt là trong xây dựng kết cấu hạ tầng nông nghiệp, chưa đảm bảo, trong khi khả năng kêu gọi, thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài còn hạn chế Tại thời điểm năm 1997, tỉnh chỉ thu hút được 80 tỷ đồng vốn đăng ký đầu tư trong nước và 6 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 35 triệu USD Toàn tỉnh chỉ có 65,9% số xã có điện lưới; 85,3% số xã có đường đến trụ sở Ủy ban nhân dân xã đạt 98% Đến năm 2006, tổng sản phẩm trên địa bàn bình quân đầu người của Quảng Nam chỉ đạt 7,5 triệu đồng, thấp hơn nhiều so với cả nước là 12,7 triệu đồng.
Hiệu quả sử dụng các nguồn lực như đất đai, lao động và vốn trong sản xuất nông nghiệp tại Quảng Nam hiện vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu cho quá trình công nghiệp hóa Giá trị sản phẩm bình quân trong ngành trồng trọt chỉ đạt 75,3 triệu đồng/ha vào năm 2015, thấp hơn mức trung bình toàn quốc là 83 triệu đồng/ha Hiệu quả sử dụng lao động cũng rất thấp, với năng suất lao động nông nghiệp đạt 20,6 triệu đồng/lao động, chỉ bằng 0,67 lần so với cả nước Mặc dù mức đầu tư cho mỗi lao động nông nghiệp tại Quảng Nam là 2,3 triệu đồng, cao hơn mức 1,4 triệu đồng/lao động của cả nước, chỉ số phát triển ngành nông nghiệp của tỉnh chỉ đạt 105,13%, chỉ cao hơn 3% so với toàn quốc Điều này cho thấy lao động trong ngành nông nghiệp của Quảng Nam còn dư thừa và chưa chuyển dịch hiệu quả sang các ngành phi nông nghiệp Người dân Quảng Nam vẫn sống trong cảnh nghèo khó, với tổng sản phẩm bình quân chỉ đạt 38 triệu đồng/người, chưa bằng 0,5 lần so với cả nước, dẫn đến khả năng tích lũy để đầu tư vào sản xuất còn hạn chế.