Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu của khóa luận là nghiên cứu lý luận về TLBHPNT và biện pháp ngăn ngừa TLBHPNT bằng pháp luật, đánh giá thực trạng ngăn ngừa TLBHPNT ở Việt Nam Từ đó, khóa luận đề xuất các biện pháp pháp lý nhằm hoàn thiện pháp luật về KDBH tại Việt Nam Để đạt được mục tiêu này, khóa luận xác định các nhiệm vụ cụ thể.
- hân tích để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật về trục lợi BHPNT ở Việt Nam
- Tìm hiểu thực trạng ngăn ngừa trục lợi BHPNT bằng pháp luật ở Việt Nam hiện nay
Khóa luận đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế thực thi pháp luật để ngăn chặn tình trạng trục lợi bảo hiểm y tế tại Việt Nam, dựa trên những tồn tại và hạn chế hiện có trong pháp luật liên quan đến vấn đề này.
Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài
Khóa luận tập trung vào các căn cứ và luận điểm liên quan đến TLBHPNT, đồng thời phân tích việc ngăn ngừa TLBHPNT thông qua pháp luật trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam Bên cạnh đó, bài viết cũng so sánh các quy định pháp luật về vấn đề này với một số quốc gia khác.
Từ năm 1993 đến năm 2018, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã trải qua quá trình hình thành và phát triển hơn 20 năm Khóa luận này sẽ tập trung nghiên cứu sự phát triển của thị trường bảo hiểm trong khoảng thời gian này.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận tập trung vào lý thuyết về bảo hiểm, các quy định pháp luật nhằm ngăn ngừa tình trạng trục lợi bảo hiểm phi nhân thọ (TLBHPNT) và thực trạng TLBH tại Việt Nam Nghiên cứu sẽ phân tích các quy định trong Luật Kinh doanh bảo hiểm hiện hành cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành, đồng thời xem xét các biện pháp pháp lý nhằm ngăn ngừa TLBHPNT, từ góc độ khoa học pháp lý và phù hợp với chuyên ngành nghiên cứu.
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hiện nay, nghiên cứu về Pháp luật kinh doanh BHPNT tại Việt Nam, đặc biệt là các quy định nhằm hạn chế trục lợi BHPNT, vẫn còn mới mẻ cả về lý luận lẫn thực tiễn Dựa trên việc tiếp cận tài liệu, sách báo và bài viết của các học giả trong và ngoài nước, tác giả tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài khóa luận theo các nhóm vấn đề tiếp cận và các công trình tiêu biểu.
Nhóm nghiên cứu về hành vi TLBH đã chỉ ra rằng, theo tác giả Văn Ách, TLBH được xem là hành vi lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản của tổ chức, trong khi TS Trịnh Hữu Hạnh và Hoàng Tuấn định nghĩa TLBH là hành vi cố ý lừa dối của tổ chức hoặc cá nhân để thu lợi bất chính từ hợp đồng bảo hiểm.
Trục lợi bảo hiểm (TLBH) là hành vi có chủ ý nhằm thu lợi bất chính từ việc tham gia bảo hiểm, gây ra nhiều hệ lụy cho ngành bảo hiểm Theo Ths Phạm Đình Rọng trong bài viết của mình, việc bồi thường, trả tiền bảo hiểm và giải quyết khiếu nại bảo hiểm cần được quản lý chặt chẽ để phòng ngừa TLBH Cục Phòng chống TLBH đã nghiên cứu và chỉ ra rằng, đây là một tội phạm có thể gây thiệt hại lớn cho cả doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Theo TLBH Washington DC, TLBH xảy ra khi cá nhân hoặc tổ chức lừa dối doanh nghiệp để thu lợi bất hợp pháp Học sinh Đoàn Minh đang tham gia nghiên cứu về chống gian lận bảo hiểm, một trong những yếu tố quan trọng giúp nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm Hai quan niệm chính về TLBH cho thấy rằng hành vi lừa đảo từ một hoặc một số cá nhân nhằm mục đích thu lợi bất chính đang là vấn đề cần được giải quyết.
Trong lĩnh vực bảo hiểm, một số tài liệu và bài viết nghiên cứu nổi bật về thực trạng tình hình gian lận bảo hiểm nhân thọ (TLBHPNT) bao gồm: “Gian lận bảo hiểm - có hay không cơ sở chế tài” của Công ty bảo hiểm Viễn Đông; “Chống gian lận trong bảo hiểm xe cơ giới” của Công ty bảo hiểm Bảo Việt; và “Phòng chống gian lận, TLBH - cần có giải pháp đồng bộ của các DNBH và cơ quan quản lý nhà nước” của Công ty bảo hiểm Ngân hàng công thương Việt Nam Ngoài ra, bài viết “Trục lợi trong bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm con người - nguyên nhân và các biện pháp phòng tránh” của Tổng công ty bảo hiểm cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc về nguyên nhân và giải pháp khắc phục tình trạng này.
Tại Hội thảo đánh giá thực trạng và giải pháp phòng chống TLBH do Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm thuộc Bộ Tài chính tổ chức năm 2012, Tổng công ty bảo hiểm Xuân Thành đã trình bày về xu hướng tinh vi hóa TLBH, nhấn mạnh vai trò của các đối tượng trong hệ thống cơ quan có trách nhiệm.
Theo Hiệp hội Bảo hiểm Anh (ABI), gian lận tài chính đã gây thiệt hại khoảng 14 tỷ bảng mỗi năm, tương đương 231 bảng mỗi người Riêng trong năm 2010, thiệt hại do gian lận bảo hiểm là khoảng 2,5 tỷ bảng.
Nhiều tài liệu và bài viết nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp nhằm ngăn ngừa tình trạng trục lợi bảo hiểm (TLBH) Theo nghiên cứu của tác giả, một số nguồn tham khảo quan trọng như Nguyễn Văn Hỉnh (2012) nhấn mạnh rằng việc phòng chống gian lận và trục lợi trong lĩnh vực bảo hiểm cần có sự hợp tác chặt chẽ từ các doanh nghiệp bảo hiểm cũng như các cơ quan chức năng.
1 Hiroshi Kinoshita (2013), Anti-Fraud measures Promoted by the Japannese General Insurance
Industry, Seminar on Achieving healthy growth in the nonlife insurance market 2013
Đoàn Minh Hưởng (2000) trong luận văn Thạc sĩ kinh tế đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chống gian lận bảo hiểm như một chiến lược then chốt để nâng cao hiệu quả kinh doanh cho các doanh nghiệp bảo hiểm tại Việt Nam.
3 Insurance Ombudsman Service - 2012, 2013, 2014 annual review; General insurance code of practice annual report 2015 - 2016
Trong bài viết này, chúng ta sẽ xem xét thực trạng và giải pháp phòng chống trục lợi trong lĩnh vực bảo hiểm xe cơ giới và bảo hiểm con người, dựa trên các nghiên cứu của Vũ Iển (2012) và Nguyễn Thị Hùy ương (2012) Bài viết cũng đề cập đến những nỗ lực chống gian lận trong bảo hiểm xe cơ giới, như được thảo luận tại hội thảo đánh giá thực trạng và giải pháp phòng chống trục lợi bảo hiểm do Nguyễn Quang Phú (2012) tổ chức Những thông tin này sẽ giúp nâng cao nhận thức và cải thiện các biện pháp quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo hiểm.
The Insurance Association of Japan (GIAJ) has released statements from 2012 to 2015, which include articles proposing solutions and sharing experiences related to the implementation of measures aimed at preventing insurance fraud.
Nghiên cứu các công trình trong nước và quốc tế cho thấy mặc dù số lượng còn hạn chế, nhưng các nghiên cứu đã đạt được nhiều kết quả đáng kể.
- Các công trình nghiên cứu đã nêu rõ về thực trạng TLBHPNT, có số liệu khảo sát cụ thể về những tổn thất của TLBH
- Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra những nguyên nhân, bao gồm cả nguyên nhân khách quan, nguyên nhân chủ quan dẫn đến TLBHPNT
- Các công trình nghiên cứu đã nêu ra những giải pháp cụ thể trên cơ sở tương ứng với nguyên nhân dẫn đến tình trạng TLBH
Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả, nhưng do hạn chế về thời gian và phạm vi nghiên cứu, các bài viết và công trình nghiên cứu mà tác giả tiếp cận vẫn còn nhiều vấn đề chưa được giải quyết thấu đáo Những vấn đề này bao gồm các khía cạnh chưa được phân tích đầy đủ hoặc những hướng giải quyết chưa cụ thể Để ngăn chặn tình trạng TLBHPNT, khóa luận cần tiếp tục nghiên cứu và luận giải từ nhiều góc độ khác nhau, bao gồm cả lý luận và thực tiễn, nhằm đề xuất các giải pháp phù hợp cho TLBHPNT tại Việt Nam.
Nhận diện hành vi TLBHPNT đã được các nghiên cứu và bài viết hiện có thực hiện, tuy nhiên, việc phân tích sâu hơn các yếu tố cấu thành hành vi TLBH là cần thiết để hiểu rõ hơn về hiện tượng này.
4 The General Insurance Association of Japan (GIAJ), Statements 2012, 2013, 2014, 2015, 2016
Thực trạng TLBHPNT hiện nay chủ yếu dừng lại ở việc phân loại và liệt kê các dạng TLBH, với nhiều bài viết và chuyên đề nghiên cứu chỉ cung cấp số liệu minh họa cụ thể Đặc biệt, các công trình nghiên cứu trong nước thường minh họa thực trạng này qua các bài viết riêng lẻ.
Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ các nội dung trong đề tài, tác giả áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như so sánh, liệt kê, quy nạp, phân tích luật viết và tổng hợp.
Kết cấu của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của Khóa luận tốt nghiệp cấu trúc thành 2 chương, cụ thể như sau
Chương 1 của bài viết tập trung vào việc khái quát bảo hiểm phi nhân thọ và vấn đề trục lợi trong lĩnh vực này Nội dung nghiên cứu bao gồm các khái niệm và đặc điểm của bảo hiểm phi nhân thọ, cũng như trục lợi bảo hiểm phi nhân thọ Bài viết sẽ phân loại các hành vi trục lợi và đề cập đến một số vấn đề liên quan, đồng thời phân tích các nguyên tắc pháp luật điều chỉnh nhằm ngăn ngừa tình trạng trục lợi trong bảo hiểm phi nhân thọ.
Chương 2 của khóa luận tập trung vào việc phân tích và đánh giá thực trạng trục lợi bảo hiểm phi nhân thọ (TLBHPNT) tại Việt Nam, cùng với những khó khăn trong việc ngăn ngừa hiện tượng này thông qua pháp luật Bài viết chỉ ra các vướng mắc và điểm chưa phù hợp với sự phát triển thực tiễn, ảnh hưởng đến hiệu quả của các quy định pháp luật hiện hành Đồng thời, khóa luận cũng đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật, nâng cao hiệu quả ngăn ngừa TLBHPNT và đảm bảo thi hành hiệu quả các quy định này trong thực tiễn.
KHÁI QUÁT V B O HI M PHI NHÂN TH VÀ TR C L I B O HI M PHI NHÂN TH
Khái quát về bảo hiểm phi nhân thọ
1.1.1 Khái niệm và đặc trưng về bảo hiểm và bảo hiểm phi nhân thọ
* Khái niệm về bảo hiểm và bảo hiểm phi nhân thọ
Bảo hiểm hiện nay là một ngành kinh doanh phát triển mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng cao Mặc dù có nguồn gốc và lịch sử lâu đời, nhưng do tính đặc thù của dịch vụ, vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về bảo hiểm Các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về bảo hiểm tùy thuộc vào góc độ nghiên cứu của họ.
Bảo hiểm là hoạt động trong đó người bảo hiểm cam kết bồi thường cho người tham gia khi xảy ra rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm, với điều kiện người tham gia nộp phí Người tham gia chuyển giao rủi ro cho người bảo hiểm thông qua việc đóng phí để hình thành quỹ dự trữ Khi gặp rủi ro dẫn đến tổn thất, người bảo hiểm sẽ sử dụng quỹ dự trữ để bồi thường thiệt hại cho người tham gia Phạm vi bảo hiểm bao gồm các rủi ro mà người tham gia đã đăng ký với người bảo hiểm.
Bảo hiểm được định nghĩa là một chiến lược nhằm giảm thiểu sự không chắc chắn cho người được bảo hiểm bằng cách chuyển giao một phần rủi ro cho người nhận bảo hiểm, giúp họ giảm thiệt hại kinh tế khi gặp tổn thất.
Kessler cho rằng “Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít” 6
Bảo hiểm là quá trình phân phối lại tổng sản phẩm trong nước giữa những người tham gia, nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính của họ Các học giả tại Đại học Kinh tế Quốc dân đã nhấn mạnh bản chất này, cho thấy vai trò quan trọng của bảo hiểm trong việc hỗ trợ và bảo vệ tài chính cho cộng đồng.
5 Ngô Trung Dũng (2013), Từ điển bảo hiểm, Nhà xuất bản dân trí, Hà Nội, tr 12
6 rường Đại học Tài chính kế toán (1999), Giáo trình bảo hiểm, NXB Tài chính, Hà Nội, tr 51
Bảo hiểm là hoạt động nhằm bảo vệ người tham gia khỏi những tổn thất do tai nạn hoặc rủi ro bất ngờ gây ra Theo Điều 3 của Luật Kinh doanh bảo hiểm hiện hành, bảo hiểm được định nghĩa là một hoạt động có tính chất hỗ trợ tài chính cho người tham gia khi gặp phải sự cố không lường trước được.
DNBH hoạt động với mục tiêu sinh lợi, chấp nhận rủi ro từ người được bảo hiểm Bên mua bảo hiểm sẽ đóng phí để DNBH có trách nhiệm chi trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
Bảo hiểm có thể được hiểu là sự đóng góp của số đông để bù đắp thiệt hại cho số ít thông qua việc chuyển giao rủi ro từ người tham gia bảo hiểm sang tổ chức nhận bảo hiểm Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) dựa trên việc chấp nhận rủi ro từ người được bảo hiểm, đổi lại họ thu phí từ bên mua bảo hiểm Khi DNBH thu phí, họ cũng phải gánh chịu trách nhiệm tương ứng với mức phí đã thu Điều này chứng minh rằng quan hệ kinh doanh bảo hiểm mang tính chất song vụ, trong đó quyền lợi của bên này cũng là nghĩa vụ của bên kia Các bên tham gia bảo hiểm hướng tới mục tiêu hợp tác để đạt được những lợi ích nhất định.
Bảo hiểm phi nhân thọ là một trong hai loại hình bảo hiểm thương mại, khác với bảo hiểm nhân thọ chỉ liên quan đến tuổi thọ con người Bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm các nghiệp vụ bảo hiểm thương mại không phải là bảo hiểm nhân thọ, với cam kết của công ty bảo hiểm chi trả bồi thường khi xảy ra sự kiện bảo hiểm liên quan đến tổn thất vật chất, tai nạn con người và trách nhiệm của người tham gia bảo hiểm Theo Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm hiện hành, đối tượng bảo hiểm trong loại hình này bao gồm tài sản, trách nhiệm dân sự và các nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ.
"12 Bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết."
Bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm các nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và các loại bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ Theo Điều 60 của Luật Kinh doanh bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm không được phép kinh doanh đồng thời cả hai loại bảo hiểm này, ngoại trừ trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ cung cấp bảo hiểm sức khoẻ và bảo hiểm tai nạn con người như một phần bổ trợ Thêm vào đó, Nghị định 73/2016 cũng quy định rõ rằng doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ không được kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ và ngược lại.
Quy định phân chia các mảng bảo hiểm khác nhau trong quản lý doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích tạo sự thuận tiện trong quản lý và quan trọng hơn là giảm thiểu rủi ro cho khách hàng khi sử dụng dịch vụ.
* Đặc trưng về bảo hiểm và bảo hiểm phi nhân thọ
Bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng và bảo hiểm nói chung có đặc trưng là ngành dịch vụ đặc biệt ó đặc biệt bởi:
Sản phẩm bảo hiểm là một dịch vụ vô hình, thể hiện qua lời hứa và cam kết của công ty bảo hiểm đối với khách hàng Khách hàng đóng phí bảo hiểm để nhận được sự đảm bảo về việc bồi thường hoặc chi trả trong tương lai.
Bảo hiểm có chu trình kinh doanh ngược, khác với quy trình sản xuất hàng hóa thông thường, khi mà giá cả được quyết định sau khi biết chi phí sản xuất Doanh nghiệp bảo hiểm nhận phí bảo hiểm từ khách hàng trước và thực hiện nghĩa vụ khi xảy ra sự cố Điều này khiến việc tính toán hiệu quả sản phẩm bảo hiểm vào thời điểm bán trở nên khó khăn Phí bảo hiểm mà khách hàng đóng chính là giá bán của hợp đồng bảo hiểm, và công ty bảo hiểm định giá dịch vụ trước khi tính toán chi phí Nếu sản phẩm được thị trường chấp nhận, công ty sẽ thu về khoản phí bảo hiểm lớn; ngược lại, nếu chỉ có ít khách hàng, tổng phí sẽ nhỏ Hơn nữa, chu trình kinh doanh ngược cũng ảnh hưởng đến trách nhiệm của người được bảo hiểm trong việc hạn chế tổn thất, vì tổn thất thấp sẽ dẫn đến phí bảo hiểm giảm trong năm sau, trong khi tổn thất cao sẽ khiến phí tăng lên.
Người mua bảo hiểm thường không mong muốn xảy ra rủi ro để nhận quyền lợi bảo hiểm, mặc dù giá trị quyền lợi có thể lớn hơn nhiều so với số phí đã đóng Quá trình mua bảo hiểm bị ảnh hưởng bởi tâm lý, khi người tiêu dùng không muốn thảo luận về rủi ro hay nhìn nhận những hậu quả cụ thể có thể xảy ra, đặc biệt trong các trường hợp bảo hiểm tử vong hoặc thương tật Thay vào đó, họ xem việc mua bảo hiểm như một hình thức bảo vệ tinh thần, giúp họ cảm thấy an tâm hơn và có sự đảm bảo vật chất khi gặp phải tình huống không may.
Ngoài những đặc điểm chung của bảo hiểm đã đề cập ở trên, bảo hiểm phi nhân thọ còn có những đặc điểm riêng cơ bản sau:
Thời hạn tham gia bảo hiểm phi nhân thọ thường ngắn, thường từ một năm, nhưng có thể chỉ kéo dài vài tháng, vài tuần hoặc thậm chí vài giờ Điều này đặc biệt đúng với các loại bảo hiểm như bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu, bảo hiểm du lịch và bảo hiểm hành khách.
Bảo hiểm phi nhân thọ chỉ bồi thường khi xảy ra rủi ro gây thiệt hại cho đối tượng bảo hiểm, mà không có yếu tố tiết kiệm như bảo hiểm nhân thọ Nếu rủi ro không xảy ra, khoản phí bảo hiểm sẽ không được hoàn lại và không được coi là một khoản tiết kiệm.
Khái quát về trục lợi bảo hiểm phi nhân thọ
1.2.1 Khái niệm trục lợi bảo hiểm phi nhân thọ
Qua các bài viết và công trình khoa học mà tác giả đã tiếp cận, có thể thấy rằng phần lớn các tác phẩm mới chỉ dừng lại ở quan điểm cá nhân trong việc nhận diện vấn đề.
Khái niệm "trục lợi bảo hiểm" (TLBH) chưa được nghiên cứu chính thức và không có trong các quy định pháp luật hiện hành tại Việt Nam Trước đây, Thông tư số 31/2004/TT-BTC đã định nghĩa TLBH là hành vi lừa dối nhằm thu lợi bất chính trong lĩnh vực bảo hiểm Tuy nhiên, Nghị định 118/2003/Đ-CP đã hết hiệu lực và được thay thế bởi Nghị định 98/2013/Đ-CP, mà không có hướng dẫn cụ thể về TLBH.
Do sự thiếu nhất quán trong quy định của hệ thống pháp luật hiện hành, khái niệm “trục lợi bảo hiểm”, đặc biệt trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ (BHPNT), đang gặp nhiều quan điểm khác nhau Trên thế giới, có hai quan điểm chính về vấn đề này.
Trục lợi bảo hiểm được định nghĩa là hành vi gian dối nhằm mục đích thu lợi bất hợp pháp từ các cá nhân hoặc tổ chức tham gia vào lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm là thỏa thuận giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm, trong đó các chủ thể tham gia bao gồm bên mua, doanh nghiệp bảo hiểm, đại lý bảo hiểm, nhân viên và người điều hành doanh nghiệp bảo hiểm Theo quan điểm này, hành vi trục lợi bảo hiểm được hiểu tương tự như định nghĩa trong Thông tư 31/2004/BTC.
8 Bộ Tài chính (2004), Thông tư 31/2004/TT-BTC ngày 12/4/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện
Nghị định 118/2003/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong lĩnh vực KDBH
This perspective aligns with the concept of "insurance fraud" as defined by global insurance associations According to the Life Office Management Association (LOMA), "fraud" in commercial insurance transactions refers to the intentional misrepresentation or concealment of information by policyholders to secure insurance payouts that would not normally be granted It also encompasses deceitful practices by insurance company managers, employees, agents, and brokers aimed at financial gain through falsehoods or misinformation.
Quan điểm thứ hai cho rằng “rục lợi bảo hiểm” chỉ là hành vi gian lận từ phía khách hàng, tức là việc trục lợi từ tiền bồi thường hoặc tiền bảo hiểm mà họ nhận được Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam (DNBH VN) ủng hộ quan điểm này, nhằm chống lại hành vi trục lợi của khách hàng để đảm bảo hiệu quả kinh doanh bảo hiểm Thay vì sử dụng cụm từ “Insurance Fraud”, họ dùng “Fraudulent claim” để chỉ các yêu cầu bồi thường có tính gian lận, thể hiện qua việc khách hàng cung cấp thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật Sự khác biệt giữa hai quan điểm nằm ở chủ thể của hành vi trục lợi: quan điểm thứ hai chỉ xem đó là hành vi của khách hàng, trong khi quan điểm thứ nhất cho rằng cả hai bên trong hợp đồng bảo hiểm đều có thể gây ra hành vi trục lợi.
Trục lợi bảo hiểm được hiểu là hành vi gian dối nhằm mục đích thu lợi từ các quyền lợi bảo hiểm, thể hiện qua những phân tích khác nhau về khái niệm này.
9 LOMA (Life Office Management Association, Inc - Mỹ), https://www.iii.org/services/glossary/all?quycksearch=fraud/, truy cập lúc 18 giờ ngày 05/5/2019
The Coalition Against Insurance Fraud highlights the issue of medical identity theft, which involves individuals, including policyholders and representatives of insurance companies, engaging in fraudulent activities during the insurance contract process to obtain illicit financial gains.
Trục lợi bảo hiểm phi nhân thọ được định nghĩa là hành vi gian dối do cá nhân mua bảo hiểm, nhân viên hoặc đại diện của doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm, nhằm mục đích thu lợi bất chính.
Định nghĩa và thống nhất quan điểm về trục lợi bảo hiểm phi nhân thọ là rất quan trọng để phòng chống hành vi này Việc này giúp xây dựng quy trình quản lý nghiệp vụ của doanh nghiệp bảo hiểm, đồng thời hoàn thiện pháp luật kinh doanh bảo hiểm, pháp luật hành chính và pháp luật hình sự một cách đồng bộ.
1.2.2 Một số vấn đề trục lợi bảo hiểm phi nhân thọ
* Đặc điểm của trục lợi bảo hiểm phi nhân thọ
Từ việc tìm hiểu khái niệm, có thể nhận thấy rằng TLBH là một hành vi vi phạm pháp luật Vì vậy, việc trục lợi BHPNT cũng như TLBH có những đặc điểm nhất định.
TLBH là hành vi trái pháp luật, trong đó quan hệ giữa DNBH và bên mua bảo hiểm được coi là hợp đồng, phải tuân theo nguyên tắc “thiện chí, trung thực” Hoạt động bảo hiểm dựa trên niềm tin lẫn nhau, nơi bên mua cam kết nhận bồi thường khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, còn DNBH chấp nhận rủi ro thông qua khai báo của khách hàng Do đó, mọi hành vi gian dối hay không trung thực gây bất lợi cho bên còn lại đều bị xem là phi pháp.
TLBH ở những mức độ khác nhau đều nguy hiểm và gây hại cho xã hội
Hành vi L đã gây ra hoặc có khả năng gây thiệt hại vật chất cho doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH), ảnh hưởng đến lòng tin của những người tham gia bảo hiểm chân chính và gây tổn thất nghiêm trọng cho nền kinh tế Mức độ nguy hiểm của hành vi này cần được xác định rõ ràng.
Hành vi L gây ra thiệt hại thực tế hoặc nguy cơ thiệt hại cho DNBH và xã hội Nếu hành vi này đã gây thiệt hại, thì hậu quả đó là kết quả tất yếu từ hành vi TLBH.
Khái quát pháp luật điều chỉnh về trục lợi bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt
1.3.1 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật về trục lợi bảo hiểm phi nhân thọ hư đã trình bày ở phần trước, có thể thấy trục lợi BHPNT là một hành vi nguy hiểm cho xã hội và chứa đựng nhiều nguy cơ đe doạ đến sự phát triển của hoạt động KDBH nói riêng và nền kinh tế nói chung Do đó, xuất phát từ sự nhận thức này mà trục lợi BHPNT phải được pháp luật điều chỉnh nhằm đảm bảo cho việc thực hiện các biện pháp pháp lý hạn chế trục lợi BHPNT
* Xuất phát từ bản chất của BHPNT và sự gia tăng hoạt động trục lợi đối với loại hình này ở Việt Nam
Bảo hiểm là hình thức chia sẻ rủi ro giữa nhiều người, trong đó một số ít phải gánh chịu rủi ro Dù đã có biện pháp phòng ngừa, con người vẫn có thể gặp phải những rủi ro bất ngờ trong cuộc sống và kinh doanh Trước những rủi ro này, con người có bốn lựa chọn: chấp nhận, né tránh, kiểm soát hoặc chuyển giao rủi ro Trong đó, chuyển giao rủi ro cho công ty bảo hiểm được coi là phương án hiệu quả nhất, giúp giảm bớt gánh nặng tài chính khi sự cố xảy ra Bằng cách này, mọi người cùng nhau chia sẻ rủi ro, thể hiện rõ ý nghĩa của bảo hiểm.
Rủi ro có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân như môi trường thiên nhiên, tiến bộ khoa học kỹ thuật, và các yếu tố xã hội Khi xảy ra, rủi ro thường gây ra những khó khăn cho con người, như mất việc, giảm thu nhập, và thiệt hại tài sản, ảnh hưởng đến đời sống kinh tế - xã hội Để giảm thiểu tác động của rủi ro, bảo hiểm phi nhân thọ (BHPNT) ra đời, giúp chuyển giao rủi ro cho các công ty bảo hiểm Khi rủi ro xảy ra, công ty bảo hiểm sẽ bù đắp tài chính cho người được bảo hiểm, giúp họ an tâm hơn và giảm bớt gánh nặng tài chính BHPNT thực chất là hợp đồng giữa người tham gia và công ty bảo hiểm, trong đó công ty sẽ chi trả một khoản tiền khi xảy ra sự kiện đã định trước Tuy nhiên, sự mong muốn nhận tiền bảo hiểm có thể dẫn đến việc một số người tham gia tạo dựng sự kiện bảo hiểm giả để trục lợi từ công ty bảo hiểm.
Trong một số trường hợp, người tham gia bảo hiểm có thể cung cấp thông tin sai lệch về tình trạng của bản thân hoặc người được bảo hiểm trước khi ký kết hợp đồng, nhằm mục đích trục lợi từ bảo hiểm nhân thọ (BHPNT) Họ tin tưởng rằng sự kiện bảo hiểm sẽ xảy ra, dẫn đến việc nhận được khoản tiền lớn từ bảo hiểm.
Hiện nay, tình trạng trục lợi bảo hiểm phi nhân thọ (BHPNT) tại Việt Nam đang gia tăng nhanh chóng, mặc dù đây chỉ là một loại hình bảo hiểm mới Theo Cục quản lý và giám sát bảo hiểm, doanh thu của thị trường BHPNT năm 2012 đạt 22.757 tỉ đồng với tỷ lệ bồi thường 39% Trong 6 tháng đầu năm 2013, tổng doanh thu đạt 12.225 tỉ đồng, tỷ lệ bồi thường tăng lên 41,8% Với số tiền bồi thường hàng năm lên tới hàng ngàn tỉ đồng, số tiền trục lợi, dù chỉ là một tỷ lệ nhỏ, cũng rất lớn Ông Hùng Đắc Lộc, Tổng thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, cho biết khoảng 10% hồ sơ được đưa vào diện nghi vấn trục lợi, trong đó 50% hồ sơ có bằng chứng rõ ràng, còn lại 50% các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải thanh toán.
Đại diện BHPNT Bảo Việt cho biết, các doanh nghiệp bảo hiểm đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc ngăn chặn hành vi trục lợi bảo hiểm, do các hình thức ngày càng tinh vi Hành vi này không chỉ gây thiệt hại tài chính cho doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến người mua bảo hiểm chân chính, dẫn đến việc tăng phí bảo hiểm.
Hiện nay, các doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) chỉ thực hiện các biện pháp chống trục lợi như một hình thức tự vệ, và một trong những nhược điểm lớn nhất là thiếu sự quan tâm cũng như hành lang pháp lý đầy đủ Hơn nữa, mối liên kết giữa các DNBH trong việc chống trục lợi còn rất hạn chế, và họ cũng chưa có hệ thống, bộ máy, cũng như đội ngũ nhân sự chuyên nghiệp để thực hiện nhiệm vụ này.
16 Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, Bộ Tài chính, Niên giám thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2012
17 Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, Bộ Tài chính, Niên giám thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2013
18 hùng Đắc Lộc (2013), Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam - Cầu nối phát triển Nguồn: http://tinnhanhchungkhoan.vn/, truy cập lúc 10 giờ ngày 15/5/2019
Từ lẽ đó, việc đặt ra một cơ chế pháp lý vững chắc là hết sức cần thiết trong bối cảnh hiện nay
* Xuất phát từ hậu quả nguy hại của hành vi trục lợi BHPNT
Trục lợi bảo hiểm phi nhân thọ (BHPNT) và trục lợi bảo hiểm nói chung không chỉ gây thiệt hại cho doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) mà còn ảnh hưởng xấu đến quyền lợi của khách hàng, đồng thời tạo ra những tác động tiêu cực đến xã hội.
Hậu quả của việc từ chối giải quyết quyền lợi bảo hiểm đối với doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) rất nghiêm trọng, dẫn đến thua lỗ và buộc DNBH phải ngừng triển khai sản phẩm bảo hiểm Điều này không chỉ làm giảm lợi nhuận và hiệu quả kinh doanh mà còn ảnh hưởng xấu đến uy tín của DNBH trên thị trường Các cơ quan truyền thông thường đứng về phía người tham gia bảo hiểm, do đó, khi DNBH từ chối quyền lợi, họ thường bị chỉ trích, mặc dù lý do từ chối có thể xuất phát từ hành vi trục lợi của người tham gia bảo hiểm, mà ít ai quan tâm đến thiệt hại của DNBH.
Hành vi trục lợi từ DNBH không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến quyền lợi của khách hàng mà còn làm gia tăng phí bảo hiểm Bản chất của bảo hiểm là tích lũy phí mà khách hàng đã đóng để giải quyết quyền lợi khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Khi DNBH phải bồi thường cho các trường hợp gian lận, họ buộc phải tăng phí bảo hiểm, dẫn đến thiệt hại gián tiếp cho những khách hàng tham gia bảo hiểm chân chính.
Thứ ba, L gây ra tác động tiêu cực đến đạo đức và hành xử của con người trong xã hội TLBH làm suy giảm tính lành mạnh và công bằng của môi trường kinh doanh, đồng thời dẫn đến sự tha hóa của một bộ phận công chức nhà nước Điều này xảy ra do sự phối hợp và móc nối giữa các thủ đoạn TLBH và những người có thẩm quyền, thậm chí có thể tạo ra thái độ coi thường pháp luật.
TLBH hiện nay đang trở thành một mối nguy hiểm lớn cho xã hội, cản trở sự phát triển của nền kinh tế thị trường Do đó, cần thiết phải có một cơ chế pháp lý vững chắc và hiệu quả để ngăn chặn tình trạng này.
1.3.2 Nguyên tắc của pháp luật điều chỉnh về trục lợi bảo hiểm phi nhân thọ
* Thứ nhất, nguyên tắc công khai minh bạch
Công khai minh bạch đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hợp đồng được ký kết và thực hiện, đồng thời là nguyên tắc thiết yếu trong việc điều chỉnh pháp luật về TLBH.
Nguyên tắc công khai minh bạch được thể hiện qua việc cung cấp thông tin rõ ràng và trung thực từ phía doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng DNBH cần đảm bảo rằng khách hàng, cơ quan giám sát và công chúng đều nhận được thông tin đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của mình Điều này giúp bên mua bảo hiểm hiểu rõ hơn về hợp đồng, đồng thời lường trước những khó khăn và rủi ro có thể phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng.
Bên cạnh đó khi tiến hành giao kết và thực hiện hợp đồng BHPNT với
Người tham gia bảo hiểm cần kê khai trung thực các thông tin liên quan đến đối tượng bảo hiểm, và những thông tin này sẽ được bảo mật.
Thực trạng trục lợi bảo hiểm phi nhân thọ và ngăn ngừa trục lợi bảo hiểm phi nhân thọ bằng pháp luật ở Việt Nam
2.1.1 Thực trạng trục lợi bảo hiểm phi nhân thọ
Sự phát triển nhanh chóng của thị trường bảo hiểm tại Việt Nam đã dẫn đến việc một số doanh nghiệp bảo hiểm lợi dụng những kẽ hở trong pháp luật và thực tiễn kinh doanh chưa chuyên nghiệp, nhằm thu lợi bất chính Điều này không chỉ gây thiệt hại về vật chất và uy tín cho các doanh nghiệp bảo hiểm, mà còn xâm phạm quyền lợi hợp pháp của người tham gia bảo hiểm, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bền vững của ngành bảo hiểm và nền kinh tế đất nước.
Theo số liệu mới nhất từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm - Bộ Tài chính, trong giai đoạn 2007 - 2012, tổng số vụ L đã bị DNBH phát hiện và từ chối bồi thường lên tới 57.939 vụ, trong đó có 5.079 vụ thuộc lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ Tổng số tiền ước tính bị từ chối bồi thường là khoảng 745,3 tỷ đồng, với 215,3 tỷ đồng đến từ lĩnh vực phi nhân thọ.
Trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, số tiền bị từ chối chi trả bồi thường đã đạt 35,9 tỷ đồng mỗi năm Tổng số vụ lừa đảo tăng từ 732 vụ vào năm 2007 lên 1.070 vụ vào năm 2012, tương ứng với mức tăng 46,1% (338 vụ) Tổng số tiền lừa đảo cũng gia tăng từ 13,1 tỷ đồng năm 2007 lên 43,5 tỷ đồng năm 2012, tăng 32,5% Quy mô lừa đảo đã tăng nhanh từ 17,9 triệu đồng mỗi vụ năm 2007 lên 40,6 triệu đồng mỗi vụ năm 2012.
Trong giai đoạn 2007-2023, Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt là đơn vị bảo hiểm (DNBH) có số vụ phát hiện tham nhũng bảo hiểm (TLBH) cao nhất trong số các DNBH báo cáo.
Trong năm 2012, Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt ghi nhận 3.193 vụ tổn thất với tổng số tiền bồi thường là 31 tỷ đồng, dẫn đầu về số lượng vụ việc Công ty TNHH Bảo hiểm Liberty Việt Nam đứng thứ hai với 1.095 vụ và tổng số tiền bồi thường 12,4 tỷ đồng Đứng thứ ba là Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm PJICO, phát hiện 315 vụ nhưng lại có số tiền bồi thường cao nhất là 114,6 tỷ đồng, chiếm 53,9% tổng số tiền bồi thường của toàn thị trường.
19 Hà Nội Mới (2013), “Thị trường bảo hiểm: gia tăng hành vi trục lợi” Nguồn: http://www.baomoi.com/, truy cập lúc 15 giờ ngày 27/5/2019
Trong lĩnh vực bảo hiểm, TLBH thường xảy ra ở hầu hết các nghiệp vụ như bảo hiểm sức khỏe, tai nạn con người, bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm thân tàu và TNDS của chủ tàu, bảo hiểm cháy nổ, bảo hiểm tài sản và thiệt hại, cũng như bảo hiểm hàng hóa Đặc biệt, hai nghiệp vụ bán lẻ chủ yếu là bảo hiểm sức khỏe và tai nạn con người, cùng với bảo hiểm xe cơ giới, chiếm tới 98% tổng số vụ TLBH.
Trong tổng số vụ tai nạn bảo hiểm (TLBH), nghiệp vụ bảo hiểm sức khỏe và tai nạn con người chiếm 59% với 3.010 vụ, trong khi bảo hiểm xe cơ giới chiếm 39% với 1.990 vụ Các nghiệp vụ khác bao gồm bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu với 39 vụ, bảo hiểm cháy nổ với 30 vụ, bảo hiểm tài sản và thiệt hại với 6 vụ, và bảo hiểm hàng hóa với 4 vụ.
Trong lĩnh vực bảo hiểm, nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới dẫn đầu về số tiền trục lợi với 181,2 tỷ đồng Tiếp theo là bảo hiểm thân tàu và TNDS chủ tàu với 16,3 tỷ đồng, bảo hiểm sức khỏe và tai nạn con người đạt 7 tỷ đồng Các nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa vận chuyển ghi nhận 6,4 tỷ đồng, trong khi bảo hiểm cháy nổ và bảo hiểm tài sản lần lượt có số tiền trục lợi là 2,5 tỷ đồng và 1,9 tỷ đồng.
Nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa vận chuyển dẫn đầu về quy mô trục lợi với mức trung bình 1,6 tỷ đồng mỗi vụ, tiếp theo là bảo hiểm thân tàu với 416,8 triệu đồng, bảo hiểm tài sản và thiệt hại đạt 320,7 triệu đồng, bảo hiểm xe cơ giới 91 triệu đồng, bảo hiểm cháy nổ 84 triệu đồng, và cuối cùng là bảo hiểm sức khỏe và tai nạn con người với 2 triệu đồng mỗi vụ trục lợi.
Theo Báo cáo thực trạng vi phạm pháp luật về kinh doanh bảo hiểm của Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm - Bộ Tài chính, trong thời gian qua, số lượng vụ vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm gia tăng đáng kể, với hành vi vi phạm xảy ra ở hầu hết các loại hình nghiệp vụ và trong tất cả các khâu nghiệp vụ Những vi phạm này không chỉ đơn lẻ mà thường có sự cấu kết, thông đồng để trục lợi Hơn nữa, các hành vi vi phạm đã trở nên tinh vi và phức tạp hơn, gây ra thiệt hại lớn cho các doanh nghiệp bảo hiểm Đặc biệt, trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, các hành vi gian lận trong xét nhận bồi thường bảo hiểm nhằm trục lợi tiền bảo hiểm ngày càng gia tăng, với các chủ thể thực hiện hành vi này rất đa dạng, bao gồm cả khách hàng.
Bộ Tài chính (2014) đã trình bày Báo cáo về thực trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, kèm theo công văn số 19140/BTC-CP ngày 30/12/2014 gửi Bộ Tư pháp Báo cáo này nhấn mạnh những kiến nghị nhằm hoàn thiện dự án Bộ luật hình sự liên quan đến quản lý nhà nước của Bộ Tài chính.
Bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm và người thụ hưởng cùng với nhân viên bảo hiểm và đại lý bảo hiểm là những đối tượng chính trong quy trình bảo hiểm Ngoài ra, bên thứ ba liên quan như người giám định, người sửa chữa, cán bộ y tế cũng có vai trò quan trọng Tuy nhiên, các hành vi vi phạm thường xảy ra chủ yếu trong quá trình khai thác và thẩm định hồ sơ yêu cầu bồi thường hoặc chi trả quyền lợi bảo hiểm.
Theo các số liệu hiện có, TLBHPNT đang gia tăng đáng kể, gây ra thiệt hại tài chính lớn cho nền kinh tế Hơn nữa, thiệt hại này không chỉ dừng lại ở con số mà còn ảnh hưởng đến lòng tin của người tiêu dùng và các tổ chức cung cấp dịch vụ, dẫn đến những tổn thất nghiêm trọng cho thị trường TLBHPNT hiện đang trở thành vấn đề cấp bách tại Việt Nam, đòi hỏi các biện pháp ngăn chặn và xử lý kịp thời, đồng bộ từ nhiều phía.
2.1.2 Thực trạng pháp luật về ngăn ngừa trục lợi bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam
Pháp luật về bảo hiểm phi nhân thọ quy định rõ các hành vi trục lợi và các biện pháp ngăn chặn, xử lý những hành vi này Các nội dung cơ bản của pháp luật nhằm ngăn ngừa trục lợi trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ rất quan trọng để bảo vệ quyền lợi của cả người tham gia bảo hiểm và các công ty bảo hiểm.
* Nhóm quy định về các nguyên tắc trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm:
Quy định về Đ thể hiện rõ các nguyên tắc trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm, bao gồm nguyên tắc trung thực, quyền lợi có thể được bảo hiểm, bồi thường và thế quyền Mục tiêu chính là ngăn ngừa tình trạng trục lợi bảo hiểm (TLBH) thông qua việc điều chỉnh mối quan hệ hợp đồng giữa doanh nghiệp và người tham gia bảo hiểm Các quy định cụ thể về người tham gia, nội dung, hình thức và hiệu lực hợp đồng đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn TLBH Nếu các điều khoản được quy định rõ ràng và chặt chẽ, sẽ không còn kẽ hở cho các bên lợi dụng Quy định về Đ cũng đảm bảo tính phù hợp với thông lệ quốc tế và thực tiễn thị trường.
Một số kiến nghị hoàn thiện nhằm ngăn ngừa trục lợi bào hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam
2.2.1 Kiến nghị hoàn thiện về mặt pháp luật
* Hoàn thiện các quy định về các nguyên tắc trong hoạt động KDBH
Để nâng cao hiệu quả ngăn ngừa TLBH, cần hoàn thiện các quy định về Đ theo hướng chặt chẽ và rõ ràng, tránh mâu thuẫn và nhiều cách hiểu khác nhau, nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật Các quy tắc và điều khoản bảo hiểm cũng cần được cải tiến để phù hợp với đa dạng khách hàng, đồng thời phải đánh giá thận trọng các rủi ro bảo hiểm trước khi mở rộng điều khoản, nhằm tránh hiện tượng TLBH.
Để hoàn thiện quy định về quyền lợi có thể được bảo hiểm, cần xác định rõ ràng quyền lợi theo từng nghiệp vụ bảo hiểm Cụ thể, trong bảo hiểm tài sản, quyền lợi bao gồm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền tài sản đối với đối tượng bảo hiểm Đối với bảo hiểm trách nhiệm, quyền lợi được bảo hiểm là trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bên thứ ba.
Để hạn chế rủi ro trong việc yêu cầu bảo hiểm, cần bổ sung quy định rằng bên mua bảo hiểm phải trực tiếp ký tên trên hồ sơ yêu cầu bảo hiểm.
Đối với quy định về hình thức hợp đồng bảo hiểm, cần làm rõ các bộ phận cấu thành như đơn đề nghị bảo hiểm, giấy chứng nhận bảo hiểm và các điều khoản bảo hiểm Đồng thời, cần quy định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong việc cung cấp đầy đủ các văn bản này để bảo vệ quyền lợi của bên mua bảo hiểm.
Cần hoàn thiện quy định về hậu quả của hợp đồng vô hiệu bằng cách bãi bỏ khoản 3 Điều 19 Luật KDBH hiện hành, vì trong trường hợp này, hợp đồng sẽ vô hiệu theo điểm d khoản 1 Điều 22 và sẽ được xử lý theo quy định liên quan.
Ngô Thị Minh Tâm (2012) nhấn mạnh rằng để chống trục lợi bảo hiểm hiệu quả, cần triển khai các giải pháp đồng bộ Bài viết được trình bày tại hội thảo đánh giá thực trạng và giải pháp phòng chống trục lợi bảo hiểm do Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm thuộc Bộ Tài chính tổ chức.
Cần sửa đổi điểm a khoản 2 Điều 19 bằng cách bỏ cụm từ “nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm” Theo đó, khoản 2 Điều 19 sẽ quy định rằng doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng và thu phí bảo hiểm đến thời điểm đình chỉ nếu bên mua bảo hiểm có hành vi cố ý cung cấp thông tin sai sự thật hoặc không cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật.
Quy định về bồi thường bảo hiểm cần hoàn thiện để đảm bảo tính khách quan và nghiêm minh của pháp luật Cụ thể, DNBH và bên mua bảo hiểm nên thống nhất về cách xác định giá trị tài sản bảo hiểm tại thời điểm xảy ra tổn thất Cần bỏ cụm từ “trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm” tại Điều 46 Luật KDBH hiện hành để tăng cường tính nghiêm minh Đồng thời, sửa đổi khoản 1 Điều 53 Luật Kinh doanh bảo hiểm theo hướng trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm chỉ phát sinh khi có yêu cầu bồi thường từ người thứ ba trong thời hạn bảo hiểm Ngoài ra, cần bổ sung chế tài nặng hơn đối với hành vi cố ý vi phạm quy định về biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất để ngăn chặn ý đồ TLBH và yêu cầu các bên tham gia bảo hiểm chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa khi có rủi ro xảy ra.
Để đảm bảo nghĩa vụ bồi thường kịp thời cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, cần thiết phải sửa đổi quy định hiện hành Việc tăng thời hạn trả tiền bồi thường từ 15 ngày lên 30 ngày sẽ giúp D có đủ thời gian để thẩm định các vụ việc nghi ngờ có dấu hiệu TLBH, từ đó nâng cao tính minh bạch và hiệu quả trong quá trình bồi thường.
Cần hoàn thiện quy định về quản trị rủi ro và kiểm tra, kiểm soát nội bộ nhằm nâng cao tính chủ động của doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) trong việc tự giám sát các giao dịch nội bộ, tránh tình trạng cấu kết với người được bảo hiểm để thao túng lợi ích bảo hiểm Quy trình kiểm soát nội bộ cần được phân tách thành từng khâu, từng nội dung, nhưng vẫn phải có sự liên hệ chặt chẽ để đảm bảo kiểm soát đồng bộ Đồng thời, cần đảm bảo khả năng tiếp nhận và xử lý thông tin nhanh chóng từ nhiều nguồn khác nhau, cùng với khả năng kiểm tra chéo để đảm bảo tính chính xác.
Doanh nghiệp có thể chủ động thành lập phòng hoặc bộ phận kiểm soát nội bộ, hoặc bố trí cán bộ thực hiện công tác này, tùy thuộc vào quy mô, mức độ, phạm vi và đặc thù hoạt động của mình.
Quy định về nghĩa vụ công khai, minh bạch thông tin cần được hoàn thiện để rõ ràng về hậu quả pháp lý khi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin Nếu hành vi cố ý cung cấp thông tin sai lệch trước khi ký hợp đồng dẫn đến nhầm lẫn cho bên kia, hợp đồng sẽ trở nên vô hiệu Đối với doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH), cần bổ sung quy định yêu cầu công bố đầy đủ nội dung điều khoản trên trang thông tin điện tử trước và trong quá trình triển khai sản phẩm bảo hiểm, đồng thời quy định rõ chế tài xử phạt đối với đại lý nếu không giải thích đầy đủ cho khách hàng.
* Hoàn thiện quy định về quản lý, giám sát hoạt động KDBH của cơ quan quản lý nhà nước
Để nâng cao hiệu quả quản lý trong lĩnh vực bảo hiểm, cần hoàn thiện quy định cấp phép thành lập doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) theo hướng chặt chẽ và thận trọng hơn Điều này bao gồm việc bổ sung các điều kiện nhằm quản lý các tổ chức phụ trợ của bảo hiểm, như công ty giám định và xưởng sửa chữa xe, nhằm hạn chế tình trạng cấu kết với người được bảo hiểm trong việc gian lận bảo hiểm.
Để nâng cao hiệu quả quản lý và giám sát sản phẩm bảo hiểm, cần hoàn thiện quy định theo hướng không hoàn toàn trao quyền chủ động cho doanh nghiệp Đối với các sản phẩm có tính cạnh tranh cao, cần có sự quản lý từ cơ quan nhà nước Do đó, cần bổ sung quy định yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm phải đăng ký quy tắc, điều khoản và biểu phí với Bộ Tài chính đối với các sản phẩm bảo hiểm xe cơ giới, ngoại trừ bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới, trước khi triển khai.
Để phòng chống gian lận và trục lợi bảo hiểm, cần có những giải pháp hiệu quả từ các doanh nghiệp bảo hiểm và cơ quan quản lý nhà nước Đây là nội dung chính được thảo luận trong Hội thảo đánh giá thực trạng và giải pháp phòng chống trục lợi bảo hiểm do Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, Bộ Tài chính tổ chức.