1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật điều chỉnh hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngoài

61 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp Luật Điều Chỉnh Hợp Đồng Thương Mại Có Yếu Tố Nước Ngoài
Tác giả Huỳnh Thị Khánh Linh
Người hướng dẫn PGS. TS. Bành Quốc Tuấn
Trường học Trường Đại Học Công Nghệ Tp. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2018
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 704,08 KB

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (7)
  • 2. Tình hình nghiên cứu (7)
  • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (8)
  • 4. Phương pháp nghiên cứu (8)
  • 5. Bố cục khóa luận (9)
  • CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI (10)
    • 1.1 Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngoài (10)
      • 1.1.1 Khái niệm hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngoài (10)
      • 1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngoài (17)
    • 1.2 Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngoài (25)
      • 1.2.1 Điều ước quốc tế (26)
      • 1.2.2 Tập quán pháp quốc tế (29)
      • 1.2.3 Pháp luật quốc gia (31)
    • 1.3. Vấn đề xác định luật áp dụng đối với hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngoài theo pháp luật trên thế giới (32)
      • 1.3.1 Theo các điều ước quốc tế (32)
      • 1.3.2 Theo pháp luật các nước (37)
    • 2.1 Xác định luật điều chỉnh hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam (44)
      • 2.1.1 Giải quyết xung đột về tư cách pháp lý của chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng (44)
      • 2.1.2 Giải quyết xung đột về hình thức hợp đồng (0)
      • 2.1.3 Giải quyết xung đột về xác định thời điểm và địa điểm giao kết hợp đồng trong trường hợp hợp đồng được giao kết bằng phương pháp gián tiếp 40 (46)
      • 2.1.4 Giải quyết xung đột về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng 41 (47)
      • 2.1.5 Giải quyết xung đột về xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu và chuyển rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (48)
    • 2.2 Vấn đề chọn luật điều chỉnh hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam (48)
      • 2.2.1 Lý luận chung về chọn luật áp dụng đối với hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngoài (0)
      • 2.2.2 Quyền thỏa thuận chọn luật theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia (52)
      • 2.2.3 Thực tiễn và kiến nghị (0)
  • KẾT LUẬN (43)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (59)

Nội dung

Tình hình nghiên cứu

Mặc dù đã có nhiều tài liệu nghiên cứu về hợp đồng, nhưng chưa có công trình nào tập trung vào hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngoài.

Liên quan đến hợp đồng có yếu tố nước ngoài, hiện có một số công trình nghiên cứu, ví dụ như:

Bành Quốc Tuấn (2012) trong bài viết “Hoàn thiện quy định về quyền thỏa thuận chọn luật áp dụng cho hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (số 1 + 2), trang 73-77, đã phân tích và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định về quyền thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng trong các hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài, góp phần nâng cao tính minh bạch và hiệu quả trong việc giải quyết tranh chấp.

Bành Quốc Tuấn (2012) trong bài viết “Quyền thỏa thuận lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài” đã phân tích quyền của các bên trong việc thỏa thuận lựa chọn Tòa án để giải quyết các tranh chấp dân sự liên quan đến yếu tố nước ngoài Bài viết được đăng trên Tạp chí khoa học Đại học quốc gia Hà Nội, cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy định pháp lý và thực tiễn áp dụng quyền thỏa thuận này trong bối cảnh toàn cầu hóa.

- Đỗ Văn Đại: “Tư pháp quốc tế và vấn đề dẫn chiếu trong lĩnh vực hợp đồng”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 10/2003, tr.69

Khóa luận sẽ tập trung nghiên cứu hợp đồng thương mại quốc tế, nhằm đảm bảo việc ký kết và thực hiện hợp đồng diễn ra thuận lợi và tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết là cách tiếp cận nghiên cứu hiệu quả, giúp chia nhỏ các vấn đề lớn và phức tạp thành những phần dễ hiểu hơn Sau khi phân tích sâu sắc từng phần, quá trình tổng hợp cho phép đưa ra cái nhìn tổng quát và nhận xét toàn diện về vấn đề đang được nghiên cứu.

Phương pháp diễn dịch và quy nạp là hai cách tiếp cận quan trọng trong việc nghiên cứu và phân tích Phương pháp diễn dịch bắt đầu từ những vấn đề chung, sau đó đi sâu vào những chi tiết cụ thể, trong khi phương pháp quy nạp lại từ những hiện tượng riêng lẻ để rút ra những kết luận tổng quát Sự kết hợp giữa hai phương pháp này giúp nâng cao hiệu quả trong việc hiểu và giải thích các hiện tượng phức tạp.

Phương pháp so sánh là cách hiệu quả để phân tích sự khác biệt giữa quy định của pháp luật cũ và mới liên quan đến các khái niệm như hợp đồng và quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài Qua đó, chúng ta có thể nhận diện rõ ràng những thay đổi trong quy định pháp lý theo thời gian và sự tác động của chúng đến thực tiễn Việc nắm bắt những khác biệt này giúp các bên liên quan hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ trong các giao dịch quốc tế.

Nền kinh tế Việt Nam đang trải qua ba động lực chính, và việc so sánh các quy định pháp luật của Việt Nam với các nước khác giúp rút ra những kết luận tổng quát Sự phân tích này không chỉ làm nổi bật những điểm mạnh mà còn chỉ ra những hạn chế trong hệ thống pháp luật hiện hành, từ đó đề xuất những cải cách cần thiết để thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững.

Để hoàn thành tốt khóa luận, ba phương pháp này cần được sử dụng phối hợp và bổ sung cho nhau, thay vì thực hiện một cách riêng lẻ.

Bố cục khóa luận

Khóa luận ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm 2 chương:

- Chương 1: Khái quát về hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngoài;

- Chương 2: Nội dung điều chỉnh của pháp luật hiện hành về hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam

KHÁI QUÁT VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngoài

1.1.1 Khái niệm hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngoài

Hợp đồng là một trong những chế định pháp lý lâu đời nhất trên thế giới, đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh quan hệ xã hội Từ khi sự trao đổi hàng hóa xuất hiện, hợp đồng đã trở thành chuẩn mực, định hướng hành vi cho các bên tham gia nhằm đảm bảo sự vận động hàng hóa – tiền tệ diễn ra nhanh chóng và hiệu quả Trong bối cảnh nền kinh tế phát triển và xã hội văn minh, hợp đồng ngày càng được coi trọng và hoàn thiện, phản ánh vai trò ngày càng lớn trong hệ thống pháp luật toàn cầu.

Trong hệ thống pháp luật toàn cầu, hợp đồng giữ vai trò trung tâm vì sự tự do chuyển dịch hàng hóa và dịch vụ trong thị trường cần phải tôn trọng ý chí của các bên dựa trên quy định pháp luật Theo Bành Quốc Tuấn, một hợp đồng được coi là có hiệu lực pháp lý và được bảo đảm thi hành khi đáp ứng các yêu cầu cụ thể theo quy định của hầu hết các hệ thống pháp luật trên thế giới.

- Hợp đồng phải thể hiện sự tự do ý chí của các bên tham gia ký kết;

- Người giao kết hợp đồng phải có đầy đủ năng lực hành vi;

- Các thỏa thuận trong hợp đồng phải phù hợp với các quy định của pháp luật

Khi hợp đồng được thành lập hợp pháp, nó có hiệu lực như pháp luật đối với các bên tham gia Đây là nguyên tắc cơ bản được công nhận trên toàn cầu Sau khi hợp đồng có đầy đủ các yếu tố cần thiết, nó trở thành ràng buộc pháp lý, buộc các bên phải thực hiện cam kết Mọi vi phạm sẽ dẫn đến trách nhiệm pháp lý cho bên vi phạm.

1 Xem: Bành Quốc Tuấn (2017), Giáo trình Tư pháp quốc tế - Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Chính trị quốc gia sự thật, tr 472+473

Hợp đồng hợp pháp có hiệu lực ràng buộc đối với các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp Khi xử lý các tranh chấp và vi phạm hợp đồng, các cơ quan này cần căn cứ vào các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng để đưa ra quyết định chính xác.

Pháp luật nhiều quốc gia công nhận hợp đồng như một cơ sở để phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật Điều này chỉ xảy ra khi hợp đồng được hình thành từ sự tự do thể hiện ý chí của các bên có năng lực hành vi đầy đủ, đồng thời không vi phạm quy định của pháp luật, đạo đức xã hội và trật tự công cộng.

Tại Việt Nam, hợp đồng là một khái niệm có nguồn gốc lâu đời và là một trong những chế định quan trọng của pháp luật Dân sự

Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều bên, quy định quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia, thường được lập thành văn bản Trong các văn tự cổ, thuật ngữ hợp đồng được gọi bằng âm Hán – Việt như “khế ước”, “văn tự bán nhà”, “văn tự bán ruộng”, thể hiện sự đồng thuận giữa các bên về một vấn đề cụ thể, từ đó các bên có nghĩa vụ thực hiện các cam kết đã thỏa thuận.

Theo Điều 385 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng được định nghĩa là sự thỏa thuận giữa các bên nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự Điều này cho thấy rằng trong lĩnh vực dân sự, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể được thiết lập và điều chỉnh thông qua các hợp đồng.

Các nội dung đã thỏa thuận giữa các bên có tính ràng buộc và được coi là "luật của các bên" Tuy nhiên, hiệu lực của sự ràng buộc này sẽ bị giảm sút nếu không có sự đảm bảo từ Nhà nước Nhà nước thực hiện vai trò này thông qua các công cụ pháp luật, điều chỉnh quan hệ hợp đồng trong đời sống dân sự và bảo đảm rằng các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng được thực thi.

2 Mai Xuân Minh (2016), Tài liệu học tập Pháp luật về hợp đồng – Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, tr.8

3 Mai Xuân Minh (2016), Tài liệu học tập Pháp luật về hợp đồng – Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, tr.8

Theo Phạm Hữu Nghị, 4 hợp đồng luôn có những điểm chung sau đây:

Trong hợp đồng, yếu tố cơ bản nhất là sự thỏa hiệp giữa các bên, được gọi là nguyên tắc hiệp ý Nguyên tắc này phản ánh tự do hợp đồng, cho phép các bên tự do quy định nội dung và xác định quyền, nghĩa vụ của mình Tuy nhiên, tự do hợp đồng không phải là tuyệt đối; nhà nước yêu cầu các bên tôn trọng đạo đức và trật tự xã hội Trong những trường hợp cần thiết, nhà nước có thể can thiệp vào việc ký kết hợp đồng, nhưng sự can thiệp này phải hợp lý và được quy định chặt chẽ bởi pháp luật để bảo vệ quyền tự do hợp đồng.

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, yếu tố thỏa thuận trong giao kết hợp đồng được coi trọng Tuy nhiên, không phải mọi thỏa thuận đều trở thành hợp đồng; chỉ những thỏa thuận thực sự phù hợp với ý chí của các bên mới được công nhận Hợp đồng phải là giao dịch hợp pháp, với sự ưng thuận công bằng, hợp pháp và đạo đức Các hợp đồng được ký kết dưới sự lừa dối, cưỡng bức hoặc mua chuộc không có sự ưng thuận đích thực và do đó không có giá trị pháp lý Những trường hợp này dẫn đến việc hợp đồng trở nên vô hiệu, nghĩa là không phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên.

- Thứ hai, ý chí chỉ phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý khi người giao kết có đầy đủ năng lực hành vi để xác lập hợp đồng

Yếu tố quan trọng không thể thiếu trong hợp đồng là đối tượng, mà các bên phải thống nhất ý chí hướng đến Mọi hợp đồng cần có đối tượng xác định, rõ ràng và không bị cấm trong các giao dịch dân sự – kinh tế Ví dụ, đối tượng của hợp đồng cần được làm rõ để đảm bảo tính hợp pháp và hiệu lực của giao dịch.

4 Phạm Hữu Nghị, “Sửa đổi Bộ luật Dân sự năm 2005 về vấn đề cải cách hợp đồng”, Tạp chí Nhà nước và

Pháp luật, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (https://luathopdong.com/thong-tin/kien-thuc-ve-hop- dong/1619-khai-niem-ve-hop-dong.html)

7 mua bán phải là những thứ không bị cấm Nếu đối tượng của hợp đồng là bất hợp pháp thì hợp đồng bị coi là vô hiệu

Hợp đồng hợp pháp có hiệu lực ràng buộc như pháp luật đối với các bên tham gia Khi hợp đồng được xác lập đầy đủ, các bên phải thực hiện cam kết, và mọi vi phạm sẽ dẫn đến trách nhiệm tài sản cho bên vi phạm Trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng, Tòa án hoặc Trọng tài căn cứ vào các điều khoản đã thỏa thuận để đưa ra phán quyết công bằng và đúng đắn.

Khi các mối quan hệ tài sản và nhân thân phát triển trong xã hội dân sự, nhu cầu trao đổi tài sản và thuê nhân lực cũng gia tăng Khi ý chí của các bên trong việc trao đổi gặp nhau, họ mong muốn thực hiện ý chí đó tại những điểm chung Tuy nhiên, chỉ có sự đồng thuận là chưa đủ; cần có cơ chế đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên khi thực hiện ý chí của mình, từ đó hợp đồng ra đời.

* Khái niệm hợp đồng thương mại

Hợp đồng là một hành vi pháp lý cơ bản, thể hiện ý chí của các bên nhằm phát sinh quyền và nghĩa vụ Ý chí cá nhân đóng vai trò quan trọng, và khi sự thống nhất giữa các ý chí này là thực chất và không trái pháp luật, nó sẽ tạo ra nghĩa vụ ràng buộc các bên theo quy định của luật pháp Hiệu lực của hợp đồng không chỉ tạo lập mà còn có thể biến đổi hoặc chấm dứt nghĩa vụ giữa các bên.

Trong Luật Thương mại Việt Nam, khái niệm Hợp đồng thương mại không được định nghĩa rõ ràng, nhưng có thể hiểu rằng đó là hình thức pháp lý của hành vi thương mại Hợp đồng thương mại là sự thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều bên, trong đó ít nhất một bên phải là thương nhân hoặc chủ thể có tư cách thương nhân, nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại.

Các hoạt động thương mại ở đây được xác định theo Luật Thương mại năm

Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngoài

Hợp đồng là một loại quan hệ pháp luật cho phép các bên có quyền tự do quy định nhiều vấn đề để xác định hành vi của mình Các quy định trong hợp đồng được pháp luật công nhận là có giá trị ràng buộc, miễn là không trái với các quy định mang tính mệnh lệnh của pháp luật, nhấn mạnh tầm quan trọng của sự thỏa thuận tự nguyện giữa các bên.

21 Xem: Bành Quốc Tuấn (2017), Giáo trình Tư pháp quốc tế – Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Chính trị quốc gia sự thật, tr.123

22 Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Tư pháp quốc tế, NXB Tư pháp, tr.149-153

Trong hợp đồng, pháp luật quy định các vấn đề có thể phát sinh, bao gồm cả quy định tùy nghi và quy phạm bắt buộc Những quy phạm này tạo thành nguồn luật điều chỉnh hợp đồng Đối với hợp đồng thương mại nội địa, luật áp dụng là luật của quốc gia, nhưng việc xác định luật cho hợp đồng có yếu tố nước ngoài phức tạp hơn.

Khi đề cập đến nguồn luật, chúng ta thường phân loại dựa trên giá trị pháp lý, bao gồm nguồn luật quốc tế và nguồn luật quốc gia Các nguồn luật có thể được chia thành những loại cơ bản sau:

Theo điểm a khoản 1 Điều 2 Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế năm 1969, điều ước quốc tế là thỏa thuận bằng văn bản giữa các quốc gia, được điều chỉnh bởi pháp luật quốc tế, có thể tồn tại dưới dạng một hoặc nhiều văn kiện liên quan Điều ước quốc tế là nguồn luật quan trọng trong việc điều chỉnh quan hệ hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngoài, bao gồm các văn bản pháp lý như công ước, hiệp ước, hiệp định và thỏa ước Vai trò của điều ước quốc tế ngày càng trở nên quan trọng trong việc quản lý và điều chỉnh các hợp đồng có yếu tố nước ngoài.

Trong lĩnh vực thương mại, điều ước quốc tế được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau Theo số lượng chủ thể tham gia, điều ước có thể chia thành điều ước song phương (giữa hai quốc gia) và điều ước đa phương (có nhiều hơn hai quốc gia) Dựa vào phạm vi địa lý, điều ước được phân thành điều ước khu vực và điều ước toàn cầu Một số điều ước quốc tế đa phương tiêu biểu bao gồm

23 Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2016), Giáo trình Tư pháp quốc tế (Phần riêng), NXB Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, t 77+78

- Công ước La Haye năm 1965 về Tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại;

- Hiệp định TRIPs năm 1994 về Các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ;

- Công ước Viên năm 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế;

- Nghị định số 593/2008 của Liên minh châu Âu ngày 17 tháng 6 năm 2008 về Luật áp dụng đối với các nghĩa vụ hợp đồng (Rome I);…

Pháp luật hợp đồng ở các quốc gia khác nhau có nhiều quy định tương đồng, nhưng do đặc điểm kinh tế, xã hội và văn hóa riêng biệt, nên vẫn tồn tại sự khác biệt trong quy định pháp lý, gây ra xung đột pháp luật và khó khăn trong quá trình đàm phán, ký kết hợp đồng Việc áp dụng các điều ước quốc tế làm cơ sở pháp lý cho quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài mang lại nhiều lợi ích, như nhanh chóng, thuận tiện và giải quyết bất đồng giữa các hệ thống pháp luật khác nhau Hơn nữa, việc tăng cường ký kết các điều ước quốc tế còn thúc đẩy thống nhất hóa các quy định nguyên tắc, tạo điều kiện cho các quốc gia ban hành quy định tương ứng trong hệ thống pháp luật của mình, từ đó mở rộng hợp tác quốc tế và thúc đẩy hội nhập giữa các quốc gia, góp phần phát triển quan hệ thương mại quốc tế.

Theo quan điểm của Bành Quốc Tuấn, 24 về nguyên tắc chung, điều ước quốc tế sẽ được áp dụng trong các trường hợp sau đây:

Chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài cần mang quốc tịch của quốc gia đã ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế liên quan Theo nguyên tắc chung trong hệ thống pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia sẽ được áp dụng trong các quan hệ hợp đồng này.

24 Bành Quốc Tuấn (2017), Giáo trình Tư pháp quốc tế – Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Chính trị quốc gia sự thật, tr.476

Khi có sự khác biệt giữa các quy định của văn bản pháp luật trong nước và các điều ước quốc tế liên quan đến cùng một vấn đề, ưu tiên áp dụng sẽ thuộc về các quy định của điều ước quốc tế.

Khi các bên tham gia hợp đồng thỏa thuận lựa chọn điều ước quốc tế làm cơ sở pháp lý, điều này cho phép áp dụng các quy định của điều ước quốc tế, ngay cả khi quốc gia của một bên chưa tham gia Nguyên tắc tự do thỏa thuận lựa chọn là một trong những nguyên tắc cơ bản điều chỉnh hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên, việc áp dụng điều ước quốc tế phải tuân thủ các nguyên tắc của pháp luật quốc gia; nếu có sự mâu thuẫn giữa điều ước và pháp luật Việt Nam, thì pháp luật Việt Nam sẽ được ưu tiên áp dụng.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia có giá trị pháp lý cao nhất, vượt trội hơn so với văn bản pháp luật trong nước khi có sự khác biệt trong quy định Điều này có nghĩa là trong các quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài, ưu tiên áp dụng các điều ước quốc tế là bắt buộc Nguyên tắc này được ghi nhận trong nhiều đạo luật của hệ thống pháp luật Việt Nam, chẳng hạn như trong khoản 4 Điều 4 của Bộ luật Dân sự.

Theo quy định năm 2015, nếu có sự khác biệt giữa Bộ luật và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên về cùng một vấn đề, thì quy định của điều ước quốc tế sẽ được áp dụng.

Cho đến nay, Việt Nam đã là thành viên của nhiều điều ước quốc tế đa phương và song phương trong lĩnh vực thương mại, điển hình là:

Công ước La Haye năm 1965 quy định về việc tống đạt giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp ra nước ngoài trong lĩnh vực dân sự và thương mại Việt Nam đã chính thức gia nhập công ước này vào năm 2016, đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc hợp tác quốc tế về tư pháp.

- Hiệp định TRIPs năm 1994 về các khía cạnh liên quan đến thương mại có quyền sở hữu trí tuệ (có hiệu lực tại Việt Nam vào ngày 11 tháng 01 năm 2007);

- Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN (Việt Nam kí kết cùng các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á năm 1998);

Việt Nam có thể áp dụng các điều ước quốc tế mà chưa trở thành thành viên để điều chỉnh các quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài, nếu các bên liên quan lựa chọn chúng làm nguồn luật Tuy nhiên, việc áp dụng này phải tuân theo những điều kiện nhất định.

Việt Nam đã khẳng định tầm quan trọng của các điều ước thương mại quốc tế trong quan hệ quốc tế của mình Theo Luật về ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005, khi có sự mâu thuẫn giữa điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và pháp luật nội địa, Việt Nam sẽ ưu tiên áp dụng quy định của điều ước quốc tế Quy định này cũng được thể hiện trong nhiều văn bản pháp luật thương mại của Việt Nam, như Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Thương mại năm 2005, và Luật Đầu tư năm 2014.

Theo Điều 19 Công ước Viên 1969, quốc gia tham gia vào một điều ước quốc tế có quyền bảo lưu một số điều khoản, tuy nhiên, việc này không được phép nếu điều ước cấm bảo lưu hoặc chỉ cho phép bảo lưu một số điều khoản cụ thể Ngoài ra, việc bảo lưu cũng phải phù hợp với đối tượng và mục đích của điều ước Chẳng hạn, các hiệp định thương mại đa biên của WTO hoàn toàn cấm các bên tham gia bảo lưu bất kỳ điều khoản nào.

1.2.2 Tập quán pháp quốc tế

Vấn đề xác định luật áp dụng đối với hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngoài theo pháp luật trên thế giới

1.3.1 Theo các điều ước quốc tế

* Về hình thức hợp đồng

According to various international treaties related to contracts, such as the 1980 United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods (CISG) and the 1980 Rome Convention on the Law Applicable to Contractual Obligations, as well as the Rome I Regulation, which came into effect on December 17, 2009, these agreements establish essential legal frameworks for international commercial transactions.

17 tháng 6 năm 2008) về Các quy định áp dụng cho trách nhiệm phát sinh từ hợp

27 Bành Quốc Tuấn (2017), Giáo trình Tư pháp quốc tế – Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Chính trị quốc gia sự thật, tr 479+480

27 đồng thì vấn đề hình thức của hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngoài đã được đặt ra

Công ước Viên 1980 của Liên hợp quốc (CISG) quy định tại Điều 11, Điều 29 và Điều 96 rằng hợp đồng không nhất thiết phải được lập bằng văn bản và có thể được chứng minh bằng nhiều cách, bao gồm cả lời khai của nhân chứng Tuy nhiên, nếu luật quốc gia thành viên yêu cầu hợp đồng phải được lập bằng văn bản, thì điều này phải được tuân thủ (Điều 96) Ngoài ra, nếu hợp đồng đã được lập bằng văn bản và các bên đã thỏa thuận rằng mọi sửa đổi, bổ sung phải được thực hiện bằng văn bản, thì thỏa thuận này cũng cần được tôn trọng (Điều 29).

Công ước Rome năm 1980 về Luật áp dụng đối với nghĩa vụ hợp đồng là một điều ước quốc tế quan trọng, ký tại Rome vào ngày 19 tháng 6 năm 1980 và áp dụng trong Liên minh châu Âu (EU) Tuy nhiên, các quy định của Công ước này đã được sửa đổi và thay thế bởi Quy tắc Rome I theo Quy định số 593/2008, có hiệu lực từ ngày 17 tháng 6 năm 2008 Quy tắc Rome I quy định về trách nhiệm phát sinh từ hợp đồng Một trong những điểm quan trọng trong việc so sánh và phân tích giữa Công ước Rome 1980 và Quy tắc Rome I là Điều 9 của Công ước quy định về hình thức của hợp đồng, mặc dù hình thức cụ thể không được giải thích rõ ràng Để xác định hình thức cụ thể của hợp đồng, cần tham khảo Điều 3, khoản 1 của Công ước Rome năm 1980.

Theo Điều 3 của Công ước, các bên trong một hợp đồng có quyền lựa chọn pháp luật áp dụng cho hợp đồng đó Sự lựa chọn này phải được thể hiện rõ ràng qua các điều khoản trong hợp đồng hoặc các tình huống liên quan đến vụ việc Các bên có thể quyết định áp dụng luật cho toàn bộ hợp đồng hoặc chỉ cho một phần cụ thể.

28 Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Tư pháp quốc tế, NXB Tư pháp, tr.423-426

Công ước Rome 1980 cho phép các bên tự do lựa chọn hình thức thể hiện hợp đồng, có thể là "các điều khoản của hợp đồng" hoặc "bằng các tình huống của vụ việc" Điều này cho thấy rằng hợp đồng có thể được xác lập dưới mọi hình thức mà các bên mong muốn Quy định này tương tự với Công ước Viên 1980, trong đó hợp đồng cũng được coi là hợp pháp nếu được thể hiện dưới bất kỳ hình thức nào.

Việc giao kết hợp đồng có yếu tố nước ngoài thường bị ảnh hưởng bởi pháp luật của các quốc gia khác nhau, dẫn đến xung đột pháp luật trong quan hệ dân sự Hiện tượng này rất phổ biến, đặc biệt là xung đột về hình thức của hợp đồng Để giải quyết vấn đề này, Công ước Rome 1980 đã đưa ra quy định tại Điều

Hợp đồng ký kết giữa các bên cùng quốc gia sẽ được coi là hợp pháp về hình thức nếu đáp ứng quy định của Công ước hoặc luật pháp của nước nơi hợp đồng được giao kết.

Nếu hợp đồng được ký kết giữa các bên ở các nước khác nhau, hợp đồng sẽ được coi là hợp pháp về hình thức nếu tuân thủ quy định của Công ước hoặc phù hợp với pháp luật của một trong các nước đó.

Theo Công ước Rome năm 1980, trong một số trường hợp, luật của nơi thực hiện hành vi có thể được áp dụng để xem xét tính hợp pháp của hình thức hợp đồng, đặc biệt khi hành vi đó ảnh hưởng đến các vấn đề pháp lý liên quan.

Luật của nước nơi cư trú của người tiêu dùng sẽ được áp dụng để xác định tính hợp pháp của hình thức hợp đồng, đặc biệt là đối với hợp đồng cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho người tiêu dùng.

Khi giao kết hợp đồng liên quan đến bất động sản, hình thức của hợp đồng cần phải tuân thủ quy định pháp luật của quốc gia nơi bất động sản đó tọa lạc.

Theo quy định tại Điều 11 của Quy tắc Rome I, các quy định trong Công ước Rome năm 1980 về hình thức của hợp đồng được kế thừa và tiếp tục áp dụng.

Theo quy tắc Rome I, nếu các bên ký kết hợp đồng ở cùng một quốc gia, thì hình thức hợp đồng cần tuân thủ các quy định của quy tắc này hoặc phù hợp với pháp luật nơi giao kết.

Khi các bên ký kết hợp đồng tại các quốc gia khác nhau, hình thức hợp đồng cần tuân thủ quy định của Quy tắc Rome.

I, hoặc phù hợp với luật quốc gia nơi có một trong các bên hoặc đại diện của các bên vào thời điểm hợp đồng được giao kết, hoặc phải phù hợp với luật quốc gia nơi một trong các bên cư trú tại thời điểm hợp đồng được giao kết Đối với các điều ước quốc tế song phương, các nước thường thỏa thuận xác định hình thức của hợp đồng sẽ căn cứ vào pháp luật áp dụng đối với chính hợp đồng đó Tuy nhiên, hợp đồng vẫn sẽ được coi là hợp pháp nếu nó phù hợp về hình thức theo pháp luật của nước ký kết nơi hợp đồng được xác lập Ví dụ, nội dung này được quy định tại khoản 1 Điều 37 Hiệp định tương trợ Tư pháp Việt Nam –

Ba Lan và cũng được quy định tại khoản 1 Điều 21 Hiệp đinh tương trợ Tư pháp Việt Nam – Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Xác định luật điều chỉnh hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam

2.1.1 Giải quyết xung đột về tư cách pháp lý của chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng

Để hợp đồng có hiệu lực pháp luật, một trong những điều kiện quan trọng là các chủ thể tham gia, đặc biệt là người ký kết, phải có năng lực chủ thể Các quy định về năng lực này khác nhau giữa các quốc gia, dẫn đến xung đột pháp luật Để giải quyết vấn đề này, nhiều quốc gia áp dụng hệ thuộc luật nhân thân (dựa trên quốc tịch hoặc nơi cư trú) để xác định năng lực của thể nhân và hệ thuộc luật quốc tịch pháp nhân để xác định năng lực của pháp nhân trong quan hệ hợp đồng.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, năng lực chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng của người nước ngoài được xác định bởi pháp luật của quốc gia mà họ có quốc tịch Tại Việt Nam, chủ thể nước ngoài có năng lực pháp luật tương đương công dân Việt Nam, trừ một số trường hợp đặc biệt Năng lực hành vi tham gia hợp đồng được xác định theo nguyên tắc luật quốc tịch; nếu người nước ngoài giao kết hợp đồng tại Việt Nam, năng lực hành vi sẽ dựa trên pháp luật nơi họ thường trú Nếu không có nơi thường trú, pháp luật Việt Nam sẽ được áp dụng Đối với người có hai quốc tịch trở lên, năng lực hành vi sẽ được xác định theo pháp luật của quốc gia mà họ có quốc tịch và nơi thường trú vào thời điểm hợp đồng phát sinh.

38 Bành Quốc Tuấn (2017), Giáo trình Tư pháp quốc tế - Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Chính trị quốc gia sự thật, tr 481-482

Theo Điều 672 Bộ luật Dân sự năm 2015, 39 người có quốc tịch và mối quan hệ gắn bó nhất về quyền và nghĩa vụ công dân Đối với pháp nhân nước ngoài, năng lực chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng được quy định tại Điều 676 của cùng bộ luật.

“1 Quốc tịch của pháp nhân được xác định theo pháp luật của nước nơi pháp nhân thành lập

2 Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân; tên gọi của pháp nhân; đại diện theo pháp luật của pháp nhân; việc tổ chức, tổ chức lại, giải thể pháp nhân; quan hệ giữa pháp nhân với thành viên của pháp nhân; trách nhiệm của pháp nhân và thành viên của pháp nhân đối với các nghĩa vụ của pháp nhân được xác định theo pháp luật của nước mà pháp nhân có quốc tịch, trừ trường hợp quy định tại khoản

3 Trường hợp pháp nhân nước ngoài xác lập, thực hiện giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài đó được xác định theo pháp luật Việt Nam.”

2.1.2 Giải quyết xung đột về hình thức của hợp đồng

Hệ thuộc cơ bản để xác định luật áp dụng cho hình thức hợp đồng là luật nơi ký kết hợp đồng Trước đây, Bộ luật Dân sự 2005 áp dụng hệ thuộc luật nơi giao kết hợp đồng (Điều 770), và các hiệp định tương tự mà Việt Nam tham gia cũng quy định như vậy Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã thay đổi, áp dụng luật của nước điều chỉnh hợp đồng để giải quyết xung đột pháp luật về hình thức hợp đồng Cụ thể, Điều 683 quy định rằng hình thức hợp đồng được xác định theo pháp luật áp dụng, và nếu hình thức đó không phù hợp với luật áp dụng nhưng lại phù hợp với luật nơi giao kết hoặc pháp luật Việt Nam, thì vẫn được công nhận tại Việt Nam.

Trong quy định này, "pháp luật áp dụng đối với hợp đồng" được hiểu là pháp luật điều chỉnh các vấn đề pháp lý liên quan đến hợp đồng như nội dung, hình thức, điều kiện có hiệu lực và các vấn đề pháp lý khác Theo khoản 1 Điều 683 Bộ luật Dân sự năm 2015, các bên trong quan hệ hợp đồng có quyền thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng, ngoại trừ trường hợp hợp đồng liên quan đến bất động sản hoặc trong hợp đồng lao động, hợp đồng tiêu dùng có ảnh hưởng đến quyền lợi tối thiểu của người lao động và người tiêu dùng theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Theo quy định tại khoản 7 Điều 683 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng có yếu tố nước ngoài sẽ được coi là hợp pháp tại Việt Nam nếu hình thức của hợp đồng tuân thủ quy định pháp luật mà các bên đã lựa chọn, trừ những trường hợp đặc biệt khác theo quy định của pháp luật.

Nếu hợp đồng không tuân thủ hình thức theo quy định pháp luật nhưng phù hợp với hình thức của pháp luật nơi giao kết hoặc theo quy định của pháp luật Việt Nam, thì hợp đồng đó vẫn được công nhận tại Việt Nam.

2.1.3 Giải quyết xung đột về xác định thời điểm và địa điểm giao kết hợp đồng trong trường hợp hợp đồng được giao kết bằng phương thức gián tiếp

Trong giao kết hợp đồng bằng phương thức gián tiếp, các nước thuộc hệ thống pháp luật "Common Law" như Anh và Mỹ áp dụng thuyết tống phát để xác định thời điểm và địa điểm giao kết Ngược lại, các nước châu Âu lục địa như Đức, Pháp, Italia và các nước Đông Âu sử dụng thuyết tiếp thu cho mục đích này Tại Việt Nam, việc xác định thời điểm và địa điểm giao kết hợp đồng dựa vào quy định pháp luật mà các bên đã thỏa thuận, theo khoản 1 Điều 683 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Khoản 1 Điều 683 Bộ luật Dân sự 2015 cho phép các bên trong hợp đồng tự do thỏa thuận về pháp luật áp dụng cho hợp đồng của mình, ngoại trừ những trường hợp được quy định tại các khoản 4, 5 và 6 của Điều này.

Nếu các bên không đạt được thỏa thuận về luật áp dụng, thì pháp luật của quốc gia có mối liên hệ chặt chẽ nhất với hợp đồng sẽ được sử dụng.

40 Bành Quốc Tuấn (2017), Giáo trình Tư pháp quốc tế - Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Chính trị quốc gia sự thật, tr.483

Nếu các bên không thống nhất về luật áp dụng, pháp luật của nước có mối liên hệ chặt chẽ nhất với hợp đồng sẽ được áp dụng Theo Khoản 2 Điều 683 Bộ luật Dân sự năm 2015, pháp luật này bao gồm: a) nơi cư trú của người bán đối với hợp đồng mua bán hàng hóa; b) nơi cư trú của người cung cấp dịch vụ đối với hợp đồng dịch vụ; c) nơi cư trú của người nhận quyền đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng hoặc sở hữu trí tuệ; d) nơi người lao động thực hiện công việc đối với hợp đồng lao động; và e) nơi cư trú của người tiêu dùng đối với hợp đồng tiêu dùng Nếu người lao động làm việc tại nhiều quốc gia hoặc không xác định được nơi làm việc, pháp luật áp dụng sẽ là nơi cư trú của người sử dụng lao động.

2.1.4 Giải quyết xung đột về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng Đối với vấn đề quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng, hệ thuộc luật do các bên ký kết hợp đồng lựa chọn được ưu tiên để xác định luật áp dụng Cách giải quyết này được ghi nhận trong nhiều điều ước quốc tế đa phương và pháp luật các quốc gia Tại Việt Nam, hệ thuộc luật do các bên ký hợp đồng lựa chọn cũng được quy định trong nhiều văn bản pháp luật để giải quyết xung đột về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng (Điều 683 Bộ luật Dân sự năm 2015 ) 41

41 Bành Quốc Tuấn (2017), Giáo trình Tư pháp quốc tế - Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Chính trị quốc gia sự thật, tr.483+484

2.1.5 Giải quyết xung đột về xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu và chuyển rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Giải quyết xung đột về quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là vấn đề quan trọng, liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu tài sản Hiện tại, chưa có quy định quốc tế thống nhất về thời điểm chuyển quyền sở hữu trong hợp đồng thương mại quốc tế, do đó, pháp luật quốc gia sẽ được ưu tiên áp dụng khi các bên có thỏa thuận Nếu không có thỏa thuận về luật áp dụng, thì pháp luật điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng sẽ được áp dụng.

Ngày đăng: 11/07/2021, 17:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
21. Nguyễn Bá Diến (2013), Giáo trình Tư pháp quốc tế, NXB. Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tư pháp quốc tế
Tác giả: Nguyễn Bá Diến
Nhà XB: NXB. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
23. Đỗ Văn Đại (2003), “Tư pháp quốc tế và vấn đề dẫn chiếu trong lĩnh vực hợp đồng”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 10/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư pháp quốc tế và vấn đề dẫn chiếu trong lĩnh vực hợp đồng
Tác giả: Đỗ Văn Đại
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Năm: 2003
24. Đỗ Văn Đại (2013), “Tư pháp quốc tế và vấn đề dẫn chiếu trong lĩnh vực hợp đồng”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 10/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư pháp quốc tế và vấn đề dẫn chiếu trong lĩnh vực hợp đồng
Tác giả: Đỗ Văn Đại
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Năm: 2013
25. Đỗ Văn Đại và Mai Hồng Quỳ, Tư pháp quốc tế Việt Nam – Quan hệ dân sự, thương mại, lao động có yếu tố nước ngoài, NXB. Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư pháp quốc tế Việt Nam – Quan hệ dân sự, thương mại, lao động có yếu tố nước ngoài
Tác giả: Đỗ Văn Đại, Mai Hồng Quỳ
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia
26. Mai Xuân Minh (2016), Tài liệu học tập Pháp luật về hợp đồng – Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu học tập Pháp luật về hợp đồng
Tác giả: Mai Xuân Minh
Nhà XB: Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2016
28. Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình tư pháp quốc tế, NXB. Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tư pháp quốc tế
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB. Tư pháp
Năm: 2017
29. Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2016), Giáo trình tư pháp quốc tế (Phần riêng), NXB. Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tư pháp quốc tế (Phần riêng)
Tác giả: Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB. Hồng Đức
Năm: 2016
30. Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Giáo trình Tư pháp quốc tế - NXB. Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tư pháp quốc tế
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB. Công an nhân dân
Năm: 2013
31. Bành Quốc Tuấn (2012), “Hoàn thiện quy định về quyền thỏa thuận chọn luật áp dụng cho hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (1 +2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện quy định về quyền thỏa thuận chọn luật áp dụng cho hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài
Tác giả: Bành Quốc Tuấn
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Năm: 2012
32. Bành Quốc Tuấn (2012), “Quyền thỏa thuận lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài”, Tạp chí khoa học Đại học quốc gia Hà Nội - Luật học T. 28 (03) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền thỏa thuận lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài”," Tạp chí khoa học Đại học quốc gia Hà Nội - Luật học
Tác giả: Bành Quốc Tuấn
Năm: 2012
33. Bành Quốc Tuấn (2012), Tư pháp quốc tế (Sách tham khảo), NXB. Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư pháp quốc tế
Tác giả: Bành Quốc Tuấn
Nhà XB: NXB. Lao động xã hội
Năm: 2012
34. Bành Quốc Tuấn (2017), Giáo trình tư pháp quốc tế - Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, NXB. Chính trị quốc gia sự thật.* Tài liệu tham khảo khác Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tư pháp quốc tế
Tác giả: Bành Quốc Tuấn
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia sự thật. * Tài liệu tham khảo khác
Năm: 2017
6. Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 Khác
9. Công ước La Haye ngày 15 tháng 6 năm 1955 về Luật áp dụng đối với mua bán hàng hóa quốc tế Khác
10. Công ước La Haye năm 1965 về Tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại Khác
11. Công ước La Haye ngày 22 tháng 12 năm 1986 về Luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Khác
12. Công ước Liên hiệp quốc năm 2004 về Miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia (gọi tắt là Công ước Liên hiệp quốc năm 2004) Khác
13. Công ước Viên năm 1961 về Quan hệ ngoại giao Khác
15. Công ước Viên năm 1969 về Luật điều ước quốc tế Khác
16. Công ước Viên năm 1980 của Liên hợp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods – viết tắt là CISG) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w